Sự tác động của rủi ro đến sự liên kết chuỗi cung ứng và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong ngành nông nghiệp Việt Nam

HỘI THẢO KHOA HỌC QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH – COMB 2016  
SỰ TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO ĐẾN SỰ LIÊN KẾT CHUỖI CUNG ỨNG VÀ KẾT QUẢ  
KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NGÀNH NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM  
THE EFFECTS OF RISKS ON SUPPLY CHAIN INTEGRATION AND FIRM PERFORMANCE IN  
VIETNAM’S AGGRICULTURE  
TS. Nguyễn Thành Hiếu  
Khoa Quản trị kinh doanh, Đại học Kinh tế quốc dân  
ThS. Nguyễn Thị Nga  
Khoa Tài chính, Học viện Ngân hàng  
TÓM TẮT  
Mục đích của nghiên cứulà kiểm tra sự tác động của các nhân tố rủi ro đến sự liên kết và kết quả kinh doanh của doanh  
nghiệp khi tham gia trong các chuỗi cung ứng ngành lâm và hải sản Việt Nam. 500 phiếu hỏi được gửi trực tiếp đến đối  
tượng điều tra và thu thập trong 2 tháng. 195 phiếu được đưa vào phân tích theo quy trình chuẩn gồm các bước từ phân  
tích nhân tố, kiểm định độ tin cậy và phương pháp mô hình phương trình cấu trúc (SEM) để kiểm định các giả thiết. Kết  
quả chỉ ra rằng: rủi ro từ nhà cung ứng và rủi ro từ thị trường có tác động đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Mối  
quan hệ này vừa trực tiếp, vừa gián tiếp thông qua mức độ liên kết với nhà cung ứng và khách hàng, cũng như kết quả  
sản xuất.Do vậy, để tăng kết quả kinh doanh, ngoài việc phải hạn chế sự tác động của các rủi ro, các nhà quản lý cần  
phải có các giải pháp cải thiện mối liên kết với cả nhà cung ứng và khách hàng, ngoài ra cải thiện hiệu quả sản xuất cũng  
là điều cần thiết để nâng cao hiệu quả kinh doanh.Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa tìm thấy sự tác động trực tiếp của rủi  
ro từ cung ứng đến kết quả sản xuất cũng như rủi ro từ thị trường đến kết quả kinh doanh và sự liên kết giữa doanh  
nghiệp với nhà cung ứng.  
Từ khóa: rủi ro, liên kết chuỗi cung ứng, kết quả kinh doanh, ngành nông nghiệp Việt Nam  
ABSTRACT  
The aim of this research is to verify the effect of risks on the supply chain integration and firm performance. 500  
questionnaires have been sent to respondents in dividual for two months. 195 questionnaires were usable and proceesed  
by different steps. First, the data was examined the reliability and validity of each variable by EFA and Cronbach Alpha.  
Then SEM technique was used to test the hypotheses of this research. The findings showed that risks from suppliers and  
market have effects on firm performance. These relationships are both direct and indirect via the level of customer and  
supplier integration as well as production performance. Finally, it helps managers in this area withdraw the solutions to  
enhance firm performance. The solutions are not focus only on reducing the risks but also improving the relationship with  
both suppliers and customers. Besides, improving production performance is also an important work for improving firm  
performance. However, this study did not find the direct effect from supplier-side risk on production performance as well  
as the influence of market-side risk on firm performance and the relationship between companies and their suppliers.  
Key Words: Risk, supply chain integration, firm performance and Vietnam’s Agriculture.  
1. Giới thiệu  
Hoạt động kinh doanh đang trở nên rủi ro hơn khi chu kỳ sống của sản phẩm ngày càng ngắn,  
chuỗi cung ứng càng mở rộng trên phạm vi toàn cầu và việc kinh doanh phụ thuộc ngày càng lớn vào  
các đối tác (Christopher & cộng sự, 2011). Rủi ro khiến chuỗi cung ứng trở nên phức tạp và nhạy cảm,  
do đó, đòi hỏi các doanh nghiệp cần phải tăng cường liên kết với các nhà cung ứng và khách hàng để  
tồn tại, cạnh tranh và phát triển (Flynn & cộng sự, 2010).  
90  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Mặc dù đã có khá nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa rủi ro và sự liên kết trong chuỗi cung  
ứng cũng như giữa liên kết và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp (Zhao & cộng sự, 2013).Tuy  
nhiên, số lượng nghiên cứu mối quan hệ giữa rủi ro và kết quả kinh doanh vẫn còn hạn chế và không  
thống nhất.Trong khi, Hendricks &Singhal (2007) cho rằng rủi ro ảnh hưởng lớn đến kết quả kinh  
doanh, thì mối quan hệ này không được khẳng định trong nghiên cứu của Wagner& Bode (2008). Sự  
không thống nhất này có thể do không xem xét các yếu tố hoàn cảnh (như vùng, quốc gia và ngành),  
hay biến trung gian và có cách nhìn nhận khác nhau về rủi ro, liên kết chuỗi cung ứng và kết quả kinh  
doanh (Van de Vaart & Van Donk, 2008). Từ tổng quan lý thuyết, một vấn đề được đặt ra là liệu mức  
độ liên kết trong chuỗi cung ứng có phải là nhân tố trung gian tác động đến mối quan hệ giữa rủi ro và  
kết quả sản xuất kinh doanh của các thành viên tham gia chuỗi cung ứng không?Nghiên cứu này đã  
chọn ngành lâm, hải sản Việt Nam làm đối tượngnghiên cứu bởi đây là ngành có sự rủi ro cao, mức độ  
liên kết chuỗi cung ứng thấp và kết quả kinh doanh phụ thuộc lớn vào mức độ rủi ro (Duijn & cộng sự,  
2012).Đặc thù của ngành lâm, hải sảnphù hợp với mục tiêu nghiên cứu.  
2. Cơ sở lý thuyết và các giả thiết nghiên cứu  
2.1. Liên kết trong chuỗi cung ứng  
Liên kết trong chuỗi cung ứng được định nghĩa là sự liên kết chiến lược giữa các thành viên trong  
chuỗi và giữa các bộ phận trong từng tổ chức để quản trị hiệu quả các dòng sản phẩm, dịch vụ, thông tin,  
tài chính và các quyết định khác nhằm đem lại giá trị cao nhất đối với khách hàng (Zhao & cộng sự,  
2008). Liên kết chuỗi cung ứng bao gồm liên kết với nhà cung ứng, với khách hàng và bên trong nội bộ  
doanh nghiệp.Trong khi hợp tác trong nội bộ doanh nghiệp hàm ý mức độ gắn kết các chiến lược kinh  
doanh, các quá trình vận hành, các hoạt động và giữa các phòng ban trong một tổ chức nhằm thỏa mãn  
nhu cầu khách hàng và hỗ trợ hiệu quả việc liên kết với các nhà cung ứng. Ngược lại, liên kết bên ngoài  
đề cập đến mức độ hợp tác từ cấp độ chiến lược đến cấp độ tác nghiệp giữa các thành viên nhằm khai  
thác lợi thế cạnh tranh trên toàn bộ chuỗi cung ứng (Flynn & cộng sự, 2010).Qua phỏng vấn các chuyên  
gia và lãnh đạo các doanh nghiệp ở Việt Nam, tác giả nhận thấy khái niệm hợp tác nội bộ chưa thật sự  
được nhận thức rõ nên nghiên cứu này sẽ tập trung chủ yếu vào liên kết bên ngoài.  
2.2. Rủi ro trong chuỗi cung ứng  
Rủi ro được định nghĩa trên nhiều khía cạnh khác nhau phụ thuộc vào từng lĩnh vực nghiên cứu  
(Wagner & Bode, 2008). Trên góc độ quản lý, rủi ro được định nghĩa là khả năng không chắc chắn đối  
với các kết quả có thể xảy ra trong tương lai và thường đem lại kết quả tiêu cực như không thỏa mãn  
nhu cầu khách hàng hay ảnh hưởng đến sự an toàn đối với khách hàng (Zsidisin, 2003). Trong nghiên  
cứu này chỉ tập trung vào hai loại rủi ro cơ bản trong chuỗi cung ứng mà có thể kiểm soát được ở mức  
độ nhất định gồm rủi ro cung ứng và rủi ro thị trường (Zhao & cộng sự, 2013).Nguyên nhân của rủi ro  
cung ứng có thể từ sự bất ổn đối với các hoạt động logistics bao gồm hoạt động vận tải, hoạt động  
quản lý kho và nguyên vật liệu, hoạt động xây dựng và quản lý mạng lưới phân phốiđã ảnh hưởng tiêu  
cực đến dòng luân chuyển của sản phẩm, dịch vụ, thông tin và tài chính trong chuỗi cung ứng  
(Ellegaard, 2008) như cung cấp nguyên vật liệu không bảo đảm, không đúng thời hạn và số lượng theo  
yêu cầu.Trong khi đó, rủi ro thị trường là do nhu cầu biến động, phức tạp và không ổn định (Boyle &  
công sự, 2008).Thị trường có rủi ro cao bởi nhu cầu khách hàng thường xuyên thay đổi và khó dự báo,  
dẫn đến các doanh nghiệp thường gặp khó khăn khi đáp ứng nhu cầu khách hàng trong môi trường như  
vậy (Trkman & McCormack, 2009).  
91  
HỘI THẢO KHOA HỌC QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH – COMB 2016  
2.3. Mối quan hệ giữa rủi ro, liên kết chuỗi cung ứng và kết quả sản xuất kinh doanh  
2.3.1. Mối quan hệ giữa rủi ro và liên kết trong chuỗi cung ứng  
Mối quan hệ giữa rủi ro và liên kết trong chuỗi cung ứng đã được kiểm định trong một số nghiên  
cứu.Ví dụ, rủi ro cung ứng như giao hàng không đúng hạn, thất thường, không đáp ứng yêu cầu về mặt  
số lượng và chất lượng có thể ảnh hưởng đến liên kết chuỗi cung ứng (Zhao & cộng sự, 2013). Khi rủi  
ro cung ứng tăng cao khiến các nhà sản xuất không muốn đầu tư vốn cũng như tăng cường cam kết mối  
quan hệ lâu dài với các nhà cung ứng. Thay vì liên kết và trung thành quan hệ với một hoặc một số nhà  
cung ứng, họ sẽ lựa chọn phương ánphát triển quan hệ với nhiều nhà cung ứng để giảm rủi ro và tăng sự  
an toàn cho việc sản xuất kinh doanh. Rủi ro trong cung ứng cũng khiến cho các doanh nghiệp sản xuất  
khó đáp ứng đúng hạn, đầy đủ số lượng và bảo đảm về mặt chất lượng đối với khách hàng. Niềm tin và  
sự hợp tác của khách hàng đối với các nhà sản xuất do đó sẽ bị giảm (Zsidisin, 2003).  
Giả thiết H1: Rủi ro cung ứng có mối quan hệ ngược chiều với mức độ liên kết giữa doanh nghiệp  
với các nhà cung ứng (H1a) và mức độ liên kết với khách hàng (H1b).  
Rủi ro do thị trường không ổn định, nhu cầu biến động liên tục, khó dự báo sẽ ảnh hưởng đến sự  
liên kết của chuỗi cung ứng. Khi rủi ro thị trường cao sẽ khiến cho nhà sản xuất phải thường xuyên thay  
đổi sản phẩm, sản lượng và đơn hàng (Trkman & McCormack, 2009) để đáp ứng nhu cầu mới.Điều này  
đến lượt nó sẽ ảnh hưởng đến việc cung ứng nguyên vật liệu cả về chủng loại, số lượng, chất lượng và  
thời gian vận chuyển từ nhà cung ứng đến doanh nghiệp sản xuất.Tương tự, các nhà sản xuất cũng sẽ  
không mạnh dạn đầu tư vốn, công nghệ, quan hệ và tăng cường liên kết với các nhà cung ứng trong tình  
huống thị trường có rủi ro cao.Ngoài ra, nhu cầu thị trường biến động và thay đổi cũng sẽ khiến nhà sản  
xuất khó xác định được nhu cầu thị trường và phản hồi từ khách hàng.Việc liên kết với khách hàng cũng  
trở nên khó khăn hơn (Calantone & cộng sự, 2003).  
Giả thiết H2: Rủi ro thị trường có mối quan hệ ngược chiều với mức độ liên kết giữa doanh nghiệp  
với các nhà cung ứng (H2a) và mức độ liên kết với khách hàng (H2b).  
2.3.2. Mối liên hệ giữa sản xuất và kinh doanh  
Liên kết với nhà cung ứng sẽ tận dụng sự sẵn có của hàng dự trữ và giảm chu kỳ đơn hàng  
(Cooper &Ellram, 1993), nhờ đó mà tăng sự sẵn có của sản phẩm, giao hàng nhanh hơn, chất lượng  
bảo đảm hơn với giá thành thấp hơn(La londe, 1998). Khi đó, liên kết với nhà cung ứng giúp sẽ giảm  
chi phí nói chung và chi phí sản xuất nói riêng, đồng thời tăng khả năng sẵn có của nguyên vật liệu cho  
sản xuất và sản phẩm cho khách hàng, qua đó làm tăng lợi thế cạnh tranh, thị phần và lợi  
nhuận(Tyndall & cộng sự, 1998). Vì vậy, liên kết với nhà cung ứng vừa có thể tác động trực tiếp đến  
kết quả kinh doanh và cũng có thể gián tiếp qua kết quả sản xuất.  
Giả thiết H3: Liên kết với nhà cung ứng có quan hệ tỷ lệ thuận với kết quả sản xuất (H3a) và kết  
quả kinh doanh (H3b)  
Giả thiết H4: Kết quả sản xuất có thể tác động đến mối quan hệ giữa liên kết với nhà cung ứng  
và kết quả kinh doanh  
Liên kết với khách hàng sẽ giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn nhu cầu của họ, từ đó có thể kịp thời  
cung cấp các sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao với giá cả hợp lý khi nhu cầu thay đổi, qua đó thỏa  
mãn nhu cầu khách hàng.Ngoài ra, liên kết với khách hàng cũng giúp doanh nghiệp chủ động kế hoạch  
sản xuất và mua sắm nguyên vật liệu, nhờ đó nâng cao hiệu quả sản xuất qua việc tiết kiệm chi phí và  
sử dụng hiệu quả các nguồn lực.Tương tự, việc liên kết với khách hàng giúp doanh nghiệp có thể cải  
thiện được lợi thế cạnh tranh, thị phần và kết quả kinh doanh(Swink & cộng sự, 2007).  
92  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Giả thiết H5: Liên kết với khách hàng có quan hệ tỷ lệ thuận với kết quả sản xuất (H5a) và kết  
quả kinh doanh (H5b)  
Giả thiết H6: Kết quả sản xuất có thể tác động đến mối quan hệ giữa liên kết với khách hàngvà  
kết quả kinh doanh  
2.3.3. Mối quan hệ giữa rủi ro, liên kết và sản xuất kinh doanh  
Rủi ro từ phía cung ứng có ảnh hưởng đến kết quả sản xuất (Wagner& Bode, 2008).Rủi ro từ  
nguồn cung sẽ tạo ra sự bất ổn đối với việc cung ứng nguyên vật liệu, do đó ảnh hưởng đến kế hoạchvà  
kết quả sản xuất.Nếu việc bất ổn trên tạo ra sư khan hiếm thì có thể dẫn đến việc cắt đứt mối quan hệ  
giữa người mua và người bán, không có nguồn cung hay phải thay đổi nguồn cung sẽ ảnh hưởng đến  
kết quả sản xuất và kết quả kinh doanh.  
Giả thiết H7: Rủi ro từ nguồn cung ứng có ảnh hưởng đến kết quả sản xuất (H7a) và kinh doanh  
(H7b)  
Giả thiết H8: Liên kết với người cung ứng (H8a)và kết quả sản xuất (H8b) có ảnh hưởng đến  
mối quan hệ giữa rủi ro từ nguồn cung ứng với kết quả kinh doanh  
Thị trường rủi ro và biến độngcao thường gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việcxây dựng kế  
hoạch và tổ chức sản xuất để đáp ứng kịp thời nhu cầu khách hàng, đồng thời ảnh hưởng đến kết quả  
sản xuất.Để giảm rủi ro,cácdoanh nghiệp sản xuất thường sẽ đa dạng hóa quan hệ với nhiều khách  
hàng và thị trường thay vì cam kết trung thành với một số ít khách hàng để giảm rủi ro, điều này có thể  
khiến cho doanh nghiệp khó nắm bắt kịp thời nhu cầu thị trường và thỏa mãn nhu cầu khách hàng.  
Cuối cùng, sẽ ảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh, thị phần và doanh thu(Swink & cộng sự, 2007;  
Wagner& Bode, 2008).  
Giả thiết H9: Rủi ro từ thị trường có ảnh hưởng đến kết quả sản xuất (H9a) và kinh doanh (H9b)  
Giả thiết H10: Liên kết với khách hàng (H10a) và kết quả sản xuất (H10b) có ảnh hưởng đến  
mối quan hệ giữa rủi ro từ thị trường với kết quả kinh doanh  
2.4. Mô hình nghiên cứu  
Hình 1. Mô hình nghiên cứu  
3. Phương pháp nghiên cứu  
3.1. Thiết kế phiếu khảo sát  
Phiếu khảo sát gồm có 2 phần. Phần thứ nhất gồm các câu hỏi liên quan đến thangđo của các  
biến độc lập và phụ thuộc,được chắt lọc từ các nghiên cứu liên quan. Cụ thể, biến rủi ro từ nguồn cung  
(SR) gồm 5 thang đo, được điều chỉnh từ thang đo của Wagner & Bode (2008); rủi ro từ thị  
trường(DR) gồm có 3 thang đo, từ nghiên cứu của Punniyamoorthy & cộng sự (2011); Các thang đo  
93  
HỘI THẢO KHOA HỌC QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH – COMB 2016  
của các biến liên kết với nhà cung ứng (SI) gồm 7 thang đo và với khách hàng (CI) có 6 thang đo được  
phát triển từ nghiên cứu của Zhao & cộng sự (2013); ngoài ra, 5 thang đo kết quả sản xuất (PP) và 5  
thang đo kết quả kinh doanh (FP) được sử dụng từ các nghiên cứu của Das &Narasimhan (2000) và  
của Li & cộng sự (2006). Phần thứ hai gồm các câu hỏi liên quan đến các thông tin về mẫu nghiên cứu.  
3.2. Mẫu nghiên cứu  
Có 50 doanh nghiệp được lựa chọn ngẫu nhiên từ danh sách các doanh nghiệp thuộc các tỉnh  
miền Tây Nam Bộ và Tây Nguyên do Sở Kế hoạch và Đầu tư các tỉnh trên cung cấp. Mỗi doanh  
nghiệp được lựa chọn sẽ được gửi đến 10 phiếu hỏi, như vậy có tổng 500 phiếu được gửi đi. Đầu tiên  
nhóm điều tra gọi điện đến các công ty được chọn, sau đó gửi phiếu điều tra bằng bản cứng tới nhà  
quản lý doanh nghiệp và nhờ gửi đến những người liên quan đến quản trị chuỗi cung ứng để hoàn  
thành phiếu điều tra. Phiếu được thu lại sau khi các doanh nghiệp hoàn thành phiếu. Tỷ lệ phản hồi  
khoảng 50%, tức là khoảng 250 phiếu. Tuy nhiên, chỉ có 196 phiếu bảo đảm yêu cầu để phân tích.  
Tính chất mẫu được biểu diễn trong Phụ lục 1.  
3.3. Kiểm định thang đo  
Việc phát triển thang đo được thực hiện theo quy trình chuẩn 2 bước để kiểm tra độ tin cậy của  
các nhân tố (Narasimhan &Jayaram, 1998) gồm phân tích nhân tố khám phá (EFA) và kiểm định  
Cronback’s alpha.  
Bảng 2: Ma trận phân tích nhân tố (Factor Loanding)  
Kết quả cho thấy các biến quan sát cơ bản hội tụ về các nhân tố tương ứng và đều có giá trị lớn  
hơn 0.5. Tuy nhiên, giá trị hội tụ của 3 biến quan sát SI1, SI3 và SI7 không thật sự tương thích (xem  
Bảng 2). Do vậy, 3 biến quan sát này sẽ bị loại trong các kiểm định tiếp theo. Còn lại, các nhân tố đều  
có độ tin cậy bảo đảm yêu cầu với các giá trị Cronbach’s alpha > 0.7 (xem Bảng 3).  
94  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Bảng 3: Độ tin cậy của các biến  
4. Phân tích kết quả nghiên cứu  
Phương pháp mô hình phương trình cấu trúc (SEM) được sử dụng để kiểm định mối quan hệ  
giữa các nhân tố. Kết quả cho thấy các thống kê như Chi-square = 612.506 với d.f = 313, RMSEA =  
0.070, GFI = .817 (<0.9), TLI = 869 (<0.9) và CFI = .883 (<0.9). Do đó, mô hình này chưa thật sự phù  
hợp với dữ liệu (Hu & cộng sự, 1992) (xem mô hình 1, Bảng 4).  
Bảng 4: Kết quả SEM  
Mặc dù hầu hết các biến từ H1 đến H10 đều được ủng hộ.Tuy nhiên, chưa thể khẳng định mối  
quan hệ trực tiếp giữa rủi ro thị trường và mức độ liên kết giữa doanh nghiệp với nhà cung ứng (H2a)  
(B = -.082.; p = .208>.05); mối quan hệ trực tiếp giữa rủi ro từ nguồn cung ứngvà kết quả sản xuất  
(H7a) (B = -.041; p = .607 >.05); và mối quan hệ trực tiếp giữa rủi ro thị trường và kết quả kinh doanh  
(H9a) (B = ..031; p = .517 >.05) (xem mô hình 1, Bảng 4).  
Để nâng cao tính phù hợp của mô hình với dữ liệu.Các mối quan hệ không có ý nghĩa được loại  
bỏ ra khỏi mô hình.Ngoài ra, các nhân tố có hệ số tương quan cao được điều chỉnh dần từ cao đến  
thấp. Kết quả mô hình được điều chỉnh (mô hình 2, Bảng 4) như sau: Chi-square =510.424 với d.f =  
314, RMSEA = 0.057, GFI = .882 (<.90), TLI = .914 (>.90) và CFI = .924 (>.90). Mô hình mới có thể  
chấp nhận được dù giá trị GFI chỉ xấp xỉ đạt yêu cầu (Hu & cộng sự, 1992). Nhìn chung, kết quả các  
giả thiết của mô hình 2 giống với mô hình 1, chỉ khác mức độ ý nghĩa thống kê giữa các biến (xem  
Bảng 4).  
5. Kết luận  
Kết quả nghiên cứu này cơ bản thống nhất với các nghiên cứu trước đó về mối quan hệ giữa rủi  
ro, liên kết chuỗi cung ứng và kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp.Cụ thể, rủi ro từ nguồn cung  
ứng có quan hệ ngược chiều với mức độ liên kết giữa doanh nghiệp với các nhà cung ứng (Zhao &  
95  
HỘI THẢO KHOA HỌC QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH – COMB 2016  
cộng sự, 2013) và với khách hàng (Zsidisin, 2003).Tương tự, rủi ro từ thị trường có quan hệ ngược  
chiều với mức độ liên kết với khách hàng (Calantone & cộng sự, 2003).Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu  
này khác với kết quả nghiên cứu trước khi không tìm thấy mối quan hệ trực tiếp có ý nghĩa giữa rủi ro  
từ thị trường và liên kết với nhà cung ứng (Trkman & McCormack, 2009). Điều này có thể là do công  
nghệ và phương pháp sản xuất ngày càng hiện đại và cho phép sản phẩm được dự trữ đủ lâu để doanh  
nghiệp tìm kiếm khách hàng và thị trường mới trong trường hợp thị trường hiện tại có sự biến động và  
thay đổi bất thường.  
Nghiên cứu cũng chỉ ra rằngliên kết với nhà cung ứng và khách hàng có mối quan hệ với kết quả  
sản xuất và kết quả kinh doanh (Tyndall & cộng sự, 1998).Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu này có những  
điểm khác biệt nhất định.Mặc dù rủi ro từ nguồn cung ứng có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh  
doanh nhưng không tác động trực tiếp đến kết quả sản xuất (Wagner& Bode, 2008).Nguyên nhân cơ  
bản của vấn đề này có thể là do sự tác động của liên kết với nhà cung ứng đến mối quan hệ giữa rủi ro  
cung ứng và kết quả sản xuất. Ví dụ, trong trường hợp các nhà sản xuất dự báo được những thay đổi,  
họ có thể mua nguyên liệu đầu vào trước đó khá sớm, đem dự trữ và đưa vào phục vụ sản xuất khi  
cung có sự biến động. Ngoài ra, nhờ mối quan hệ tốt mà doanh nghiệp luôn có được sự ưu tiên và do  
đó có được nguồn cung ổn định cho dù có những thay đổi nhất định từ nguồn cung. Kết quả của  
nghiên cứu này cũng chỉ ra một sự khác biệt so với nghiên cứu trước, đó là rủi ro thị trường có ảnh  
hưởng trực tiếp đến kết quả sản xuất (Swink & cộng sự, 2007) nhưng không tác động trực tiếp đến kết  
quả kinh doanh (Wagner& Bode, 2008).Điều này cũng có thể lý giải là do sự tác động của kết quả sản  
xuất và sự liên kết với khách hàng đến mối quan hệ giữa rủi ro và kết quả kinh doanh. Trong trường  
hợp thị trường có sự biến động nhưng nếu có sự kết hợp nhịp nhàng giữa sản xuất và liên kết với  
khách hàng thì những biến động đó không thật sự có tác động trực tiếp đến kết quả kinh doanh.  
Nghiên cứu này có những đóng góp nhất định cả về lý luận và thực tiễn khi đi khám phá mối  
quan hệ phức tạp giữa các nhân tố rủi ro, liên kết và kết quả sản xuất kinh doanh.Cụ thể, trong khi liên  
kết với khách hàng tác động trực tiếp đến kết quả kinh doanh thì mối quan hệ trực tiếp giữa liên kết với  
nhà sản xuất và kết quả kinh doanh không được xác định có ý nghĩa trong nghiên cứu này.Thêm vào  
đó, kết quả sản xuất có thể tác động đến mối quan hệ giữa liên kết với nhà cung ứng và kết quả kinh  
doanh.Như vậy, để nâng cao hiệu quả kinh doanh thì doanh nghiệp không chỉ tăng cường liên kết với  
nhà cung ứng mà còn nâng cao hiệu quả sản xuất.Ngoài ra, rủi ro từ nhà cung ứng vừa có tác động trực  
tiếp vừa gián tiếp đến kết quả kinh doanh.Sự tác động gián tiếp của mối quan hệ này được thông qua  
sự liên kết với nhà cung ứng và kết quả sản xuất.Cụ thể, rủi ro từ nhà cung ứng có thể làm giảm sự liên  
kết giữa doanh nghiệp và nhà cung ứng, từ đó làm giảm kết quả sản xuất và cuối cùng tác động vào kết  
quả kinh doanh. Do vậy, để hạn chế sự tác động của rủi ro này, các doanh nghiệp cần tăng cường hợp  
tác hơn với các nhà cung ứng và nâng cao hiệu quả sản xuất của mình, qua đó có thể làm giảm ảnh  
hưởng của rủi ro từ nhà cung ứng lên kết quả kinh doanh.  
Mặc dù không tác động trực tiếp, nhưng rủi ro từ thị trường có thể tác động gián tiếp đến kết quả  
kinh doanh qua hai phía.Thứ nhất, rủi ro thị trường có thể tác động đến kết quả kinh doanh qua biến  
liên kết với khách hàng. Rủi ro càng lớn có thể làm giảm mối liên kết giữa doanh nghiệp và khách  
hàng và do đó làm giảm thị phần, doanh thu và lợi nhuận. Thứ hai, rủi ro thị trường cao sẽ làm quá  
trình sản xuất thay đổi thường xuyên cũng có thể khiến chi phí sản xuất cao và hiệu quả thấp, từ đó  
cũng ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.Vì vậy, để hạn chế sự tác động của rủi ro thị  
trường thì các doanh nghiệp cần phải tăng cường liên kết với khách hàng và cải thiện kết quả sản xuất  
nhờ đó có thể ổn định được thị trường, chi phí sản xuất và chất lượng sản phẩm và cuối cùng cải thiện  
được doanh thu và lợi nhuận.  
96  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
6. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo  
Nghiên cứu có một số hạn chế như sau:Thứ nhất, các tài liệu sử dụng để tham khảo đa số là tài  
liệu tiếng Anh nên không tránh khỏi những sai sót mang tính từ ngữ; Thứ hai, việc nghiên cứu được  
thực hiện tại thời điểm phát phiếu điều tra, nên những kết quả nghiên cứu mang tính thời điểm; Thứ  
ba, nghiên cứu này chủ yếu thu thập dữ liệu từ các doanh nghiệp sản xuất chế biến trong ngành lâm,  
hải sản nên kết quả chỉ được vận dụng trong ngành này. Cuối cùng, quy mô mẫu cũng chưa đủ lớn nên  
kết quả nghiên cứu có thể bị hạn chế.  
Hướng nghiên cứu tiếp theo là nên tập trunghơn vào các yếu tố khác ảnh hưởng đến liên kết  
chuỗi cung ứng và hạn chế sự tác động của rủi ro lên quản trị chuỗi cung ứng như vai trò của hiệp hội  
và từ các tổ chức tài chính. Đồng thời, nên mở rộng nghiên cứu sang những ngành, lĩnh vực khác.  
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Boyle, E., Humphreys, P. & Mclvor, R. (2008), “Reducing supply chain environmental  
uncertainty through e-intermediation: an organization theory perspective”, International Journal of  
Production Economics, tập 114 (1), trang 347-462.  
[2] Calantone, R., Garcia, R. & Dro¨ge, C. (2003), “The effects of environmental turbulence on new  
product development strategy planning”, Journal of Product Innovation Management, tập20 (2), trang  
90-103.  
[3] Cooper, M.C. & Ellram, L.M. (1993), Characteristics of supply chain management and  
implications for purchasing and logistics strategy,The International Journal of Logistics Management,  
tập 4 (2), 13-22.  
[4] Christopher, M., Mena, C., Khan, O. & Yurt, O. (2011), “Approaches to managing global  
sourcing risk”, Supply Chain Management: An International Journal, tập 16 (2), trang 67-81.  
[5] Das, A. & Narasimhan, R. (2000), Purchasing competence and its relationship with manufacturing  
[6] Performance,The Journal of Supply Chain Management: A Global Review of Purchasing and  
Supply, tập 36 (2), 17 - 28.  
[7] Duijn, A.P.V., Beukers, R. & Pijl, W.V.D. (2012), The Vietnamese seafood sector: A value chain  
analysis. CBI (Center for the promotion of Imports from developing countries), Netherlands.  
[8] Ellegaard, C. (2008), “Supply risk management in a small company perspective”, Supply Chain  
Management: An International Journal,tập 13 (6), trang 425-34.  
[9] Flynn, B.B., Huo, B. & Zhao, X. (2010), “The impact of supply chain integration on performance:  
a contingency and configuration approach”, Journal of Operations Management, tập 28 (1), trang 58-  
71.  
[10] Hendricks, K.B., Singhal, V.R. & Stratman, J.K. (2007), “The impact of enterprise systems on  
corporate performance: a study of ERP, SCM, and CRM system implementations”, Journal of  
Operations Management, tập 25 (1), trang 65-82.  
[11] Hu, L.T., Bentler, P.M. & Kano, Y. (1992), “Can test statistics in covariance structure analysis be  
trusted?”,Psychological Bulletin, tập 112 ( 2), trang 351-62.  
[12] La Londe, B.J., 1998. Supply chain evolution by the numbers. Supply Chain Management Review,  
tập 2 (1), trang 7-8.  
[13] Li, S., Ragu-Nathan, B., Ragu-Nathan, T.S. & Rao, S.S. (2006),The impact of supply chain  
management practices on competitive advantage and organizational performance,The International  
97  
HỘI THẢO KHOA HỌC QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH – COMB 2016  
Journal of Management Science, tập 34, 107-124.  
[14] Narasimhan, R. & Jayaram, J. (1998), Causal linkages in supply chain management: an  
exploratory study of North American manufacturing firms,Decision Sciences, tập 29 (3), 579–605.  
[15] Punniyamoorthy, M., Thamraiselvan, N. & Manikandan, L. (2011), Assessment of supply chain  
risk: scale development and validation”, Bechmarking An International Journal, tập20 (1), trang 79-  
105.  
[16] Swink, M., Narasimhan R. & Wang C. ( 2007), Managing beyond the factory walls: Effects of  
four types of strategic integration on manufacturing plant performance,Journal of Operations  
Management, tập 25, trang 148-164.  
[17] Tyndall, G., Christopher G., Partsch, W. & Kamauff, J. (1998),Supercharging supply chains: New  
ways to increase value through global operational excellence,New York, NY: John Wiley & Sons.  
[18] Trkman, P. & McCormack, K. (2009), “Supply chain risk in turbulent environments – a  
conceptual model for managing supply chain network risk”, International Journal of Production  
Economics, tập 119 (2), trang 247-58.  
[19] Van de Vaart, T. & Van Donk, D.P. (2008), “A critical review of survey-based research in supply  
chain integration”, International Journal of Production Economics, tập 111(1), trang 42-55.  
[20] Wagner, S. & Bode, C. (2008), “An empirical examination of supply chain performance along  
several dimensions of risk”, Journal of Business Logistics, tập 29 (1), trang 307-25.  
[21] Zhao, X., Huo, B., Flynn, B.B. & Yeung, J.H.Y. (2008), “The impact of power and relationship  
commitment on the integration between manufacturers and customers in a supply chain”, Journal of  
Operations Management, tập 26 (3), trang 368-88.  
[22] Zhao, L., Sun, L., Zhao, Xiande (2013), The impact of supply chain risk on supply chain  
integration and company performance: a global investigation,Supply chain management: An  
International Journal, tập 182, trang 115-131.  
[23] Zsidisin, G.A. (2003), “A grounded definition of supply risk”, Journal of Purchasing and Supply  
Management,tập 9 (5), trang 217-24.  
Phụ lục: Thống kê mô tả mẫu  
STT Đặc tính mẫu  
1. Ngành (Industry types)  
Tần suất  
Phần trăm (%)  
Tôm  
41  
83  
72  
20.9  
42.3  
36.8  
Cá  
Nông, Lâm sản  
Quy mô (Firm size)  
Doanh nghiệp lớn  
Doanh nghiệp vừa  
Doanh nghiệp nhỏ  
2.  
21  
94  
80  
11  
48  
41  
98  
pdf 9 trang Thùy Anh 16200 Free
Bạn đang xem tài liệu "Sự tác động của rủi ro đến sự liên kết chuỗi cung ứng và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong ngành nông nghiệp Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfsu_tac_dong_cua_rui_ro_den_su_lien_ket_chuoi_cung_ung_va_ket.pdf