Văn hóa kinh doanh Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

ts.phạm thu phương - nguyễn thị trang nhung  
77  
II. VĂN HꢀA KINH DOANH VIꢁT NAM HIꢁN NAY  
VĂN HÓA KINH DOANH VIỆT NAM  
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ  
TS. Phạm Thu Phương,  
nguyễn Thꢀ Trang nhung  
Đại học Quốc gia Hà Nội  
TÓM TẮT  
Bài viết này hướng tới mục đích đề xuất các giải pháp nhằm phát huy vai trò của  
văn hóa kinh doanh Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, tiếp cận văn  
hóa kinh doanh từ góc độ kinh doanh. Nghiên cứu đưa ra một số giải pháp nhằm  
phát triển văn hóa kinh doanh Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế  
như: Nâng cao nhận thức của các doanh nhân; Nâng cao quyền và có cơ chế bảo vệ  
quyền lợi người tiêu dùng; Tạo lập cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp trong việc xây dựng  
văn hóa kinh doanh.  
Từ khóa: Doanh nghiệp, kinh tế quốc tế, văn hóa doanh nghiệp, văn hóa kinh doanh,  
doanh nhân  
1. giới thiệu  
lên một số vấn đề về văn hóa kinh doanh  
(VHKD):  
Một trong những khía cạnh biểu hiện rõ  
nét về thành công của chính sách đổi mới,  
hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam là đã  
tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho sự  
ra đời và phát triển mạnh mẽ của cộng đồng  
doanh nghiệp.  
Thứ nhất, động cơ tối đa hoá lợi nhuận  
trong một môi trường kinh doanh đang  
chuyển đổi đã nảy sinh nhiều hành vi kinh  
doanh bất chính, làm hàng giả, hàng kém  
chất lượng như hiện tượng buôn bán hóa đơn;  
công ty sân sau; dùng hóa chất gây hại trong  
chế biến thức ăn; mỡ bẩn, gây ô nhiễm và  
hủy hoại môi trường… Ví dụ như Công ty  
Cổ phần chế biến thực phẩm Sông Hậu (xã  
Thới Hưng, Huyện Cờ Đỏ, Thành phố Cần  
Thơ) đã bị phạt 2 lần vẫn xả nước thải không  
qua xử lý gây ô nhiễm môi trường hay các  
cơ sở tái chế thùng phuy tại tổ Nhân Huệ,  
phường Đồng Mai, quận Hà Đông, thành  
phố Hà Nội xả chất thải độc hại xuống sông  
Đáy [12]… Những hiện tượng này đã gây ra  
những tác động tiêu cực đến đời sống xã hội,  
Các doanh nghiệp đã trực tiếp góp sức  
vào sự thành công chung của nền kinh tế,  
đồng thời tạo ra những chuyển biến sâu rộng  
trong toàn xã hội, thay đổi chất lượng cuộc  
sống cũng như tư duy kinh tế của đất nước.  
Xu thế phát triển nhanh và mạnh của cộng  
đồng doanh nghiệp Việt Nam đã làm nảy sinh  
nhiều vấn đề cả về thực tiễn và lý luận.  
Về thực tiễn, bên cạnh những thành công  
và đóng góp của doanh nghiệp vào quá trình  
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển  
kinh tế xã hội của đất nước, vẫn còn nổi cộm gây mất lòng tin vào cộng đồng doanh nhân,  
Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường  
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam  
78  
ảnh hưởng không tốt đến niềm tin và nhận  
thức của người dân và xã hội. Đối ngược với có cả những ảnh hưởng xấu đến nhân cách và  
Bên cạnh những chuyển biến tích cực cũng  
giá trị văn hóa của dân tộc, truyền thống sống  
hài hòa với thiên nhiên và xã hội, đồng thuận,  
tôn trọng người lớn tuổi.  
các hiện tượng tiêu cực nêu trên là hiện tượng  
ngày càng nhiều doanh nhân quan tâm xây  
dựng văn hóa doanh nghiệp (VHDN), tuy  
nhiên lại theo cách hiểu chủ quan không toàn  
diện và đúng với bản chất của VHDN, đôi khi  
lại mang tính sao chép máy móc không phát  
huy được giá trị và hiệu quả của VHDN trong  
phát triển kinh doanh.  
Thứ ba, dư luận xã hội bức xúc với nhiều  
hiện tượng kinh doanh phi đạo đức, thiếu văn  
hóa, như nhập hàng thải loại, hết hạn, phế  
phẩm, nhập rác ô nhiễm, ăn bớt các công trình  
dân sinh... có xu hướng ngày càng phát triển  
nếu thiếu sự điều chỉnh mang tính tổng thể  
và đồng bộ. Ví dụ như việc phát hiện lô hàng  
gồm năm công-ten-nơ chứa những cao-su phế  
thải và hàng điện tử qua sử dụng không thể tái  
chế được nhập khẩu từ nước ngoài về Việt  
Nam qua cảng Hải Phòng ngày 21/9/2014  
hay Chủ đầu tư Nam Đô Complex (Trương  
Định, Hà Nội) đã “ăn bớt” nhiều hạng mục  
[12]… làm ảnh hưởng đến sức khỏe, đời sống  
của người dân và xâm hại đến những giá trị  
văn hóa truyền thống của dân tộc.  
Thứ hai, quá trình hội nhập quốc tế đã mở  
rộng sự giao lưu giữa các doanh nhân trong  
và ngoài nước, tạo nên làn sóng tiếp biến văn  
hóa mạnh. Các doanh nhân và doanh nghiệp  
nước ngoài đầu tư vào Việt Nam đã mang  
theo những phong cách và chuẩn mực kinh  
doanh của nước họ đã có những ảnh hưởng  
trực tiếp đến cộng đồng người Việt Nam làm  
trong doanh nghiệp đó. Nhiều người trong số  
này sau khi tích lũy được một số kiến thức và  
kinh nghiệm về mở doanh nghiệp kinh doanh  
riêng, mang theo những nét văn hóa của công  
Thứ tư, có thể dễ dàng nhận thấy, các  
ty đã từng làm việc. Hơn nữa sự giao lưu kinh chính sách điều chỉnh sự phát triển VHKD  
Việt Nam còn thiếu và yếu, chưa tạo ra những  
chuyển biến sâu sắc trong nhận thức của toàn  
xã hội về vấn đề này, để từ đó tạo nên những  
cơ sở mang tính nền tảng, hành lang định  
hướng sự phát triển của VHKD Việt Nam  
trong giai đoạn đổi mới và hội nhập kinh tế  
quốc tế.  
doanh với những doanh nhân nước ngoài đến  
Việt Nam cũng ảnh hưởng không nhỏ tới  
nhận thức của doanh nhân và người tiêu dùng  
trong nước.  
Mặt khác, sự phát triển kinh tế cũng tạo  
điều kiện cho nhiều người Việt Nam có cơ hội  
được đào tạo ở nước ngoài trước khi bước vào  
kinh doanh, hoặc sau khi đã có những thành  
công nhất định trong kinh doanh. Cuối cùng,  
phải kể đến vai trò của truyền thông khi đưa  
ra những tấm gương kinh doanh thành công  
trên thế giới như Bill Gates, Warrens Buffet,  
hay Steve Jobs… trên các phương tiện, các  
sách báo và chương trình kinh doanh hiện đại  
cũng như đưa vào giảng dạy. Tất cả những  
tiến trình này đã làm gia tăng sự giao thoa văn  
hóa doanh nhân, VHKD của Việt Nam dẫn  
đến hiện tượng “tiếp biến văn hóa” tự phát  
giữa truyền thống, bản sắc của Việt Nam với  
bên ngoài, như “bắt chước” các phong cách  
Trong bối cảnh như đã nêu trên, đã xuất  
hiện nhiều quan điểm chưa thống nhất trong  
lý luận và đánh giá về thực trạng VHKD Việt  
Nam, từ đó cũng có nhiều dự báo rất khác  
nhau trong các xu hướng biến đổi của các yếu  
tố của VHKD trong thời gian tới. Thực trạng  
này rất khó đề ra được các chính sách, biện  
pháp hợp lý để phát triển cộng đồng doanh  
nhân Việt Nam.  
Song song với những tồn tại về thực tiễn  
cũng nổi lên một số vấn đề về lý luận. Sự xuất  
hiện có tính “đột biến” của các hiện tượng  
phát triển doanh nghiệp như đã nêu đã thu hút  
Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản… sự quan tâm, nghiên cứu về VHKD. Sự quan  
ts.PHạm tHu PHương - nguyễn tHị trang nHung  
79  
tâm chú ý của giới nghiên cứu cộng với sự cổ tinh từ đời sống thực tiễn của con người trong  
vũ mạnh mẽ của doanh nhân và cộng đồng sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã  
xã hội đã tạo ra số lượng lớn các nghiên cứu hội mà họ đang sống. Điều đó cũng có nghĩa,  
về chủ đề VHKD. Tuy nhiên phần lớn nghiên  
cứu có những hạn chế sau: (i) các ý kiến chủ  
yếu còn tản mạn, có tính quan sát và bình  
luận trong một số khía cạnh hẹp hoặc mới chỉ  
đề cập đến “lớp ngoài” của hiện tượng dưới  
dạng các ý kiến trao đổi, một vài nhận xét,  
suy nghĩ, hoặc sản phẩm của một vài nhà báo,  
doanh nhân. Bên cạnh những ảnh hưởng tích  
cực, cách tiếp cận này cũng góp phần tạo nên  
sự hiểu biết chưa đầy đủ, thiếu trọng tâm, từ  
đó dẫn đến tình trạng xây dựng VHKD mang  
tính phong trào; ví dụ nhiều doanh nghiệp  
đơn thuần cho rằng tổ chức hội hè, vui chơi,  
thể thao hay văn nghệ cũng là VHKD. Chính  
những suy nghĩ này cũng tạo nên những kỳ  
vọng thái quá hoặc thất vọng về “phong trào”  
xây dựng VHDN; (ii) có những nghiên cứu  
sâu hơn nhưng cách tiếp cận VHKD với cách  
tiếp cận từ tâm lý học, văn hóa học hoặc  
triết học. Các cách tiếp cận này có xu hướng  
đặt con người và văn hóa mang tính lịch sử,  
như những yếu tố tĩnh, chưa nhìn nhận sâu  
vấn đề này từ giác độ kinh doanh, tách con  
người kinh doanh và VHKD khỏi đặc trưng  
môi trường kinh doanh. Điều này có thể đưa  
đến những nhận định mang tính luận lý, duy  
ý chí, thiếu thực tiễn, trong khi đặc trưng của  
các doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh  
là theo đuổi mục tiêu lợi nhuận, trong môi  
trường mang tính cạnh tranh quyết liệt và  
luôn biến động.  
không phải tất cả những gì do con người tạo  
ra đều là văn hoá, mà chỉ có những cái đã kết  
tinh thành giá trị thì cái đó mới là văn hóa.  
Trong lĩnh vực kinh doanh,chúng ta đang  
ở thời kỳ quá độ từ sản xuất nhỏ, buôn bán  
nhỏ của xã hội mang nặng tính nông nghiệp  
sang xã hội công nghiệp hóa, thương mại hóa,  
do vậy vấn đề đạo đức, VHKD cũng chưa thật  
định hình. Vì vậy, VHKD được hiểu là một  
hệ thống các giá trị, các chuẩn mực, các quan  
niệm và hành vi do chủ thể kinh doanh tạo  
ra trong quá trình kinh doanh, được thể hiện  
trong cách ứng xử của họ với xã hội, tự nhiên  
ở một cộng đồng hay khu vực nào đó.  
Các giá trị văn hóa này được dùng để  
đánh giá các hành vi, do đó, được chia sẻ và  
phổ biến rộng rãi giữa các thế hệ thành viên  
trong doanh nghiệp như một chuẩn mực để  
nhận thức, tư duy và cảm nhận trong mối quan  
hệ với các vấn đề mà họ phải đối mặt. VHKD  
không chỉ tạo ra tiêu chí cho cách thức kinh  
doanh hằng ngày mà còn tạo ra những khuôn  
mẫu chung về quan điểm và động cơ trong  
kinh doanh.  
Hình 1. Cấu trúc VHKD Việt Nam  
trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc  
tế  
2. Khái niệm về văn hóa và VHKD  
Văn hóa được hiểu là hệ thống hữu cơ các  
giá trị vật chất và tinh thần do con ngưꢀi sáng  
tạo và tích luỹ trong quá trình hoạt động thực  
tiễn, trong sự tương tác giữa con ngưꢀi với  
môi trưꢀng tự nhiên và xã hội của mình. [6]  
Văn hóa là những sáng tạo của con người,  
mang lại giá trị cho con người, trong đó bao  
gồm cả giá trị vật chất và giá trị tinh thần.  
Những giá trị văn hóa này lắng đọng và kết  
Nguồn: Tổng hợp của Nhóm tác giả, 2010.  
Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường  
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam  
80  
3. Xu hướng biến đổi của VHKD Việt  
Nam  
Bốn nhóm yếu tố hình thành nên VHKD  
bao gồm văn hóa doanh nhân, Triết lý kinh  
doanh, Đạo đức kinh doanh và VHDN có  
mối quan hệ tương hỗ tác động qua lại, và có  
chung nguồn gốc xuất phát điểm là nhân cách  
doanh nhân. Nhân cách doanh nhân là sự kết  
hợp của bốn thành tố là Trí, Đức, Thể, Lợi,  
có thể xem như những yếu tố tĩnh bên trong  
con người doanh nhân, khi được biểu hiện ra  
bên ngoài qua các hành vi và quyết định, nó  
chính là văn hóa doanh nhân. Bên cạnh đó,  
yếu tố đức trong nhân cách doanh nhân cũng  
là một nền tảng hình thành nên đạo đức kinh  
doanh. Triết lý kinh doanh cũng là sự kết hợp  
tương hỗ của trí, đức và lợi. Cuối cùng, văn  
hóa doanh nhân vừa là bộ phận hạt nhân, vừa  
là hình mẫu tạo dựng nên VHDN.  
3.1. Xu hướng biến đổi của VHDN  
Phần quan trọng nhất của VHKD chính là  
VHDN. Vì vậy, trước hết chúng ta sẽ xem xét  
những biến động trong thành tố này của cấu  
trúc VHKD. VHDN bao gồm 3 cấp độ chính:  
(i) Cấp độ thứ nhất: Những quá trình và  
cấu trúc hữu hình của doanh nghiệp  
(ii) Cấp độ thứ hai: Những giá trị được  
tuyên bố (bao gồm các chiến lược, mục tiêu,  
triết lý của doanh nghiệp)  
(iii) Cấp độ thứ ba: Những quan niệm  
chung, những giá trị tiềm ẩn  
Trong 3 cấp độ này, cấp độ thứ nhất là dễ  
thấy và dễ phân biệt hơn cả. Cấp độ thứ hai  
Bảng 1. Kết quả xếp hạng các tiêu chí trong VHDN của cấu trúc VHKD  
Hiện  
tại  
Xếp  
hạng  
Xu  
hướng  
Xếp  
hạng  
Chỉ tiêu  
Logo, khẩu hiệu  
0.7  
1
2
0.715  
0.715  
7
7
Ngôn ngữ giao tiếp lịch sự, thân thiện  
Hình thức mẫu mã sản phẩm riêng  
Làm việc chuyên nghiệp, tận tâm  
0.692  
0.682  
0.682  
0.676  
0.676  
0.67  
3
3
5
5
7
0.72  
0.7225  
0.6975  
0.7225  
0.71  
4
2
Đồng phục của công ty/doanh nghiệp, bảo hộ/  
an toàn lao động  
13  
3
Có kế hoạch chiến lược  
Phong trào văn hóa, văn nghệ, thể thao  
Các ấn phẩm giới thiệu doanh nghiệp  
9
0.668  
0.668  
0.662  
8
8
0.705  
0.6975  
0.6975  
10  
13  
13  
Các phòng/ban với cơ cấu và vị trí rõ ràng, hợp  
lý  
Những nguyên tắc hoạt động chung  
10  
Chia sẻ thông tin giữa các thành viên trong  
doanh nghiệp  
0.66  
11  
0.7  
11  
ts.PHạm tHu PHương - nguyễn tHị trang nHung  
81  
Hiện  
tại  
Xếp  
hạng  
Xu  
hướng  
Xếp  
hạng  
Chỉ tiêu  
Kiến trúc doanh nghiệp khang trang, thuận  
tiện và sạch sẽ  
0.66  
0.65  
11  
13  
14  
15  
16  
17  
18  
19  
0.7175  
0.6975  
0.72  
6
Có quy định về các chuẩn mực hành vi đạo  
đức nghề nghiệp  
13  
4
Trình độ công nghệ  
0.646  
0.642  
0.64  
Khả năng hội nhập văn hóa quốc tế  
0.73  
1
Những quan niệm chung được tất cả các  
thành viên công nhận  
0.6725  
0.7  
18  
11  
17  
19  
Có triết lý doanh nghiệp  
Các giá trị và tư tưởng cốt lõi  
Các lễ nghi, lễ hội  
0.638  
0.626  
0.594  
0.685  
0.6425  
Những suy nghĩ, nhận thức, tình cảm có tính  
vô thức tồn tại ở tất cả các thành viên trong  
doanh nghiệp  
0.582  
20  
0.635  
21  
Các câu chuyện, giai thoại về doanh nghiệp  
Bài hát của công ty/doanh nghiệp  
0.568  
0.55  
21  
22  
0.6375  
0.6175  
20  
22  
Nguồn: Kết quả điều tra của nhóm tác giả  
khó nhận biết hơn và chỉ khi nào các chiến thuận tiện và sạch sẽ, (4) Logo, khẩu hiệu, (5)  
lược, mục tiêu, triết lý của doanh nghiệp đã Phong trào văn hóa, văn nghệ, thể thao; 5 tiêu  
thật sự thâm nhập vào các thành viên của chí về cấp độ 1 của VHDN được đánh giá thấp  
doanh nghiệp thì mới hình thành nên cấp độ nhất hiện tại là: (7) Kiến trúc doanh nghiệp  
thứ ba, là những quan niệm chung, những giá khang trang, thuận tiện và sạch sẽ, (8) Trình  
trị tiềm ẩn của doanh nghiệp.  
độ công nghệ, (9) Các lễ nghi, lễ hội, (10) Bài  
hát của công ty/doanh nghiệp. Điều này cũng  
thể hiện trình độ phát triển của doanh nghiệp  
Việt Nam nói chung và VHDN Việt Nam nói  
riêng còn yếu kém.  
Trong cấp độ 1, chúng ta có thể nhận thấy  
trong tổng số 10 chỉ số được điều tra, 5 tiêu  
chí được đánh giá cao nhất hiện tại là: (1)  
Logo, khẩu hiệu, (2) Hình thức mẫu mã sản  
phẩm riêng, (3) Đồng phục của công ty/doanh  
5 tiêu chí thấp nhất theo xu hướng biến đổi  
nghiệp, bảo hộ/an toàn lao động, (4) Phong là: (6) Các ấn phẩm giới thiệu doanh nghiệp,  
trào văn hóa, văn nghệ, thể thao, (5) Các ấn (7) Đồng phục của công ty/doanh nghiệp, bảo  
phẩm giới thiệu doanh nghiệp; thì 5 tiêu chí hộ/an toàn lao động, (8) Các phòng/ban với  
được kỳ vọng nhiều nhất lại là (1) Hình thức cơ cấu và vị trí rõ ràng,hợp lý, (9) Các lễ nghi,  
mẫu mã sản phẩm riêng, (2) Trình độ công lễ hội, (10) Bài hát của công ty/doanh nghiệp.  
nghệ, (3) Kiến trúc doanh nghiệp khang trang, Các kết quả này cho thấy dường như người  
Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường  
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam  
82  
Bảng 2. Đánh giá về các thành tố VHDN trong cấp độ 1  
Xu  
hướng  
Chỉ tiêu  
Logo, khẩu hiệu  
Trung bình  
0.7  
Xếp hạng  
Xu hướng  
0.715  
1
2
4
1
Hình thức mẫu mã sản phẩm  
riêng  
0.682  
0.676  
0.67  
0.72  
Đồng phục của công ty/doanh  
nghiệp, bảo hộ/an toàn lao động  
3
0.6975  
0.71  
7
Phong trào văn hóa, văn nghệ,  
thể thao  
4
5
Các ấn phẩm giới thiệu doanh  
nghiệp  
0.668  
0.668  
0.66  
5
0.705  
6
Các phòng/ban với cơ cấu và vị  
trí rõ ràng, hợp lý  
5
0.6975  
0.7175  
0.72  
7
Kiến trúc doanh nghiệp khang  
trang, thuận tiện và sạch sẽ  
7
3
Trình độ công nghệ  
Các lễ nghi, lễ hội  
0.646  
0.594  
0.55  
8
1
9
0.6425  
0.6175  
9
Bài hát của công ty/doanh  
nghiệp  
10  
10  
Nguồn: Kết quả điều tra của Nhóm tác giả  
được điều tra chú trọng nhiều hơn về nâng Làm việc chuyên nghiệp, tận tâm, (3) Có kế  
cao chất lượng sản phẩm và những yếu tố  
“bề nổi” của VHDN như “Logo, khẩu hiệu”,  
“Phong trào văn hóa, văn nghệ, thể thao” mà  
thiếu hiểu biết về xây dựng VHDN. Những  
yếu tố như “Các lễ nghi, lễ hội”, “Bài hát của  
công ty/doanh nghiệp”, “Các ấn phẩm giới  
thiệu doanh nghiệp”, “Các phòng/ban với cơ  
cấu và vị trí rõ ràng, hợp lý” vốn là những yếu  
tố rất quan trọng để xây dựng cấp độ 2 và 3  
cho VHDN đều không được chú trọng đến cả  
trong hiện tại và tương lai. Kết quả này cũng  
phù hợp với những phân tích các chỉ số về  
VHDN nêu trên.  
hoạch chiến lược, (4) Ngôn ngữ giao tiếp lịch  
sự, thân thiện, (5) Chia sẻ thông tin giữa các  
thànhviên trong doanh nghiệp. Ít có thay đổi  
trong thứ hạng của những tiêu chí này, trừ  
yếu tố “Hội nhập văn hóa quốc tế” và “triết lý  
doanh nghiệp”.  
(ii) Tiêu chí về cấp độ 2 và 3 của VHDN  
được đánh giá thấp nhất hiện tại là: (8)Những  
quan niệm chung được tất cả các thành viên  
công nhận, (9)Có triết lý doanh nghiệp, (10)  
Các giá trị và tư tưởng cốt lõi, (11) Những  
suy nghĩ, nhận thức, tình cảm có tính vô thức  
tồn tại ở tất cả các thành viên trong doanh  
nghiệp, (12) Các câu chuyện, giai thoại về  
doanh nghiệp. 5 tiêu chí thấp nhất theo xu  
hướng biến đổi là: (8) Có quy định về các  
chuẩn mực hành vi đạo đức nghề nghiệp, (9)  
Phân tích những chỉ số về VHDN ở cấp  
độ 2 và 3 cũng cho nhiều kết quả đáng lưu ý:  
(i) 5 tiêu chí được kỳ vọng nhiều nhất lại  
là (1)Khả năng hội nhập văn hóa quốc tế, (2) Các giá trị và tư tưởng cốt lõi, (10) Những  
ts.PHạm tHu PHương - nguyễn tHị trang nHung  
83  
Bảng 3. Đánh giá về các thành tố VHDN ở cấp độ 2 và 3  
Trung  
bình  
Xếp  
hạng  
Xu  
hướng  
Chỉ tiêu  
Xu hướng  
0.715  
0.7225  
0.7225  
0.6975  
0.7  
Ngôn ngữ giao tiếp lịch sự, thân thiện  
Làm việc chuyên nghiệp, tận tâm  
Có kế hoạch chiến lược  
0.692  
1
4
0.682  
0.676  
0.662  
0.66  
2
3
2
2
Những nguyên tắc hoạt động chung  
4
7
Chia sẻ thông tin giữa các thành viên  
trong doanh nghiệp  
5
5
Có quy định về các chuẩn mực hành vi  
đạo đức nghề nghiệp  
0.65  
6
0.6975  
0.73  
8
Khả năng hội nhập văn hóa quốc tế  
0.642  
0.64  
7
1
Những quan niệm chung được tất cả  
các thành viên công nhận  
8
0.6725  
0.7  
10  
5
Có triết lý doanh nghiệp  
0.638  
0.626  
9
Các giá trị và tư tưởng cốt lõi  
10  
0.685  
9
Những suy nghĩ, nhận thức, tình cảm  
có tính vô thức tồn tại ở tất cả các thành  
viên trong doanh nghiệp  
0.582  
0.568  
11  
12  
0.635  
12  
11  
Các câu chuyện, giai thoại về doanh  
nghiệp  
0.6375  
Nguồn: Kết quả điều tra của Nhóm tác giả  
quan niệm chung được tất cả các thành viên lớp khác trong xã hội. Chính vì vậy, những  
công nhận; (11)Các câu chuyện, giai thoại  
về doanh nghiệp; (12)Những suy nghĩ, nhận  
thức, tình cảm có tính vô thức tồn tại ở tất cả  
các thành viên trong doanh nghiệp. Ít có sự  
thay đổi trong thứ hạng của những tiêu chí  
này, trừ sự sụt giảm trong thứ hạng của tiêu  
chí “Có quy định về các chuẩn mực hành vi  
đạo đức nghề nghiệp” đã nêu ở phần trước.  
người được điều tra vẫn chú trọng nhiều đến  
các yếu tố hữu hình trong VHDN như công  
nghệ, mẫu mã sản phẩm, logo... mà xem nhẹ  
các yếu tố thuộc cấp độ 2. Đặc biệt, những  
người được điều tra đã ý thức được tầm quan  
trọng của chất lượng sản phẩm, công nghệ và  
sự cần thiết nâng cao khả năng hội nhập quốc  
tế của doanh nghiệp. Tuy nhiên, ngay trong  
phân tích các yếu tố trong cấp độ 1, những  
Như vậy, kết quả điều tra cho thấy VHDN  
vẫn còn khá xa lạ với doanh nhân và các tầng yếu tố “hữu hình” vẫn được chú trọng hơn các  
Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường  
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam  
84  
yếu tố “quá trình” như “các lễ nghi, lễ hội” các doanh nghiệp và doanh nhân sẽ là yếu  
hay “Bài hát của doanh nghiệp”. Đặc biệt,  
những người được điều tra có lẽ không hềbiết  
đến các yếu tố thuộc cấp độ 3 như “Các giá trị  
và tư tưởng cốt lõi”, “Những suy nghĩ, nhận  
thức, tình cảm có tính vô thức tồn tại ở tất cả  
các thành viên trong doanh nghiệp”, “Những  
quan niệm chung được tất cả các thành viên  
công nhận”, mặc dù đây mới chính là phần  
cốt lõi, là “phần hồn” trong VHDN, nên đã  
luôn xếp chúng ở thứ hạng thấp nhất.  
tố quyết định đến thành công trong việc xây  
dựng VHKD.  
4.1. Nâng cao nhận thức của các doanh  
nhân mà trước hết là những ngưꢀi chủ doanh  
nghiệp về cơ chế chính sách của Nhà nước;  
đảm bảo mỗi chủ doanh nghiệp phải thông  
thạo hệ thống pháp luật để đưa ra phương  
thức kinh doanh đúng đắn  
Với hệ thống luật chưa hoàn chỉnh và liên  
tục được bổ sung, đổi mới như ởViệt Nam, đòi  
hỏi những người chủ doanh nghiệp và doanh  
nghiệp phải liên tục học hỏi và cập nhật các  
kiến thức về luật pháp. Để có thể thực hiện  
một cách triệt để việc phổ biến luật pháp một  
cách chính xác tới từng doanh nghiệp thì cần  
những buổi tập huấn, phổ biến pháp luật một  
cách chính quy, chính xác, có hệ thống. Công  
tác này Nhà nước có thể giao cho các trường  
đại học có đủ khả năng, tiêu chuẩn về đào tạo  
luật và kiến thức kinh doanh.  
3.2. Xu hướng biến đổi các thành tố  
khác trong VHKD  
Qua kết quả nghiên cứu khảo sát cho  
thấy, 3 yếu tố còn lại của VHKD Việt Nam  
là triết lý kinh doanh, văn hóa doanh nhân  
và đạo đức kinh doanh đều được dự kiến xu  
hướng biến đổi theo chiều hướng tăng lên  
mạnh dao động từ 3,24 - 3.32 điểm. Rõ ràng  
có một sự đồng nhất quan điểm của ngưꢀi  
được hỏi khi cho rằng VHKD ở Việt Nam  
trong thꢀi kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế đạt  
mức trung bình khá tích cực và đều có sự kỳ  
vọng dự kiến xu hướng biến đổi là theo chiều  
hướng tăng lên (Hình 2). Điều này chứng tỏ  
khi xã hội ngày càng phát triển thì ngưꢀi dân  
nói chung và các doanh nhân nói riêng càng  
quan tâm hơn đến VHDN và VHKD.  
Qua những khóa tập huấn này, ngoài  
việc có thể đưa pháp luật một cách chính xác  
tới các doanh nghiệp, Nhà nước còn có thể  
lắng nghe được những phản hồi của doanh  
nghiệp về các mặt được và chưa được của  
các bộ luật, qua đó ngày càng hoàn thiện hơn  
hệ thống luật của Việt Nam. VHDN chịu tác  
động của pháp luật và doanh nghiệp cần phải  
xây dựng VHDN phù hợp với luật pháp, vì  
vậy việc giúp cho doanh nghiệp nắm rõ và  
hiểu luật pháp là rất cần thiết trong quá trình  
xây dựng VHKD.  
Hình 2. Dự báo xu hướng biến đổi của  
VHKD  
4.2. Nâng cao quyền và có cơ chế bảo vệ  
quyền lợi ngưꢀi tiêu dùng  
Tại Việt Nam, một số doanh nghiệp đã  
gian lận trong sản xuất, từ thành phần nguyên  
liệu, hàm lượng đến bao bì, thông tin quảng  
cáo, khuyến mãi, hậu mãi. Đặc biệt, hình thức  
vi phạm ngày càng tinh vi, quy mô vi phạm  
và phạm vi ảnh hưởng rất rộng trong khi đó  
chế tài xử phạt những hành vi này vẫn chưa  
Nguồn: Kết quả điều tra của Nhóm tác giả  
4. Một số giải pháp phát triển VHKD  
Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế  
quốc tế  
VHKD là do doanh nghiệp, doanh nhân  
xây dựng, vì vậy cần giải pháp từ phía chính nghiêm; kể cả khi đã được người tiêu dùng  
ts.PHạm tHu PHương - nguyễn tHị trang nHung  
85  
có đơn tố giác. Hiện nay, đa phần những vụ tính tích cực và tính năng động của con người  
khiếu nại của người tiêu dùng đối với sản  
phẩm sai phạm chủ yếu theo hướng hoà giải.  
Trong nhiều trường hợp, các vụ khiếu nại  
không được xử lý đến nơi đến chốn. Nhiều  
doanh nghiệp lấp liếm giải quyết không rõ  
ràng khiến người tiêu dùng mệt mỏi, không  
muốn kêu ca thêm; thậm chí, có những vụ  
hoàn toàn không bị xử lý. Điều này làm ảnh  
hưởng tới việc xây dựng VHKD của những  
doanh nghiệp, doanh nhân làm ăn chân chính.  
Công sức xây dựng uy tín đối với khách  
hàng, hay là yếu tố đạo đức trong quan hệ với  
khách hàng của các doanh nghiệp này sẽ bị  
ảnh hưởng do các hành động sai trái của các  
doanh nghiệp khác dẫn tới phản ứng bài trừ  
trong khách hàng.  
trong kinh doanh, lấy việc nâng cao tố chất  
toàn diện của con người làm trung tâm để  
nâng cao trình độ quản lý doanh nghiệp, làm  
cho quan niệm giá trị của doanh nghiệp thấm  
sâu vào các tầng chế độ chính sách, từng  
bước chấn hưng, phát triển doanh nghiệp.  
Điều đó bao gồm các nội dung cơ bản: i) Bồi  
dưỡng tinh thần trách nhiệm của công nhân  
viên chức để phát huy tính tích cực, tính chủ  
động của họ; ii) Bồi dưỡng quan điểm giá trị  
doanh nghiệp và tinh thần doanh nghiệp để  
nó trở thành nhận thức chung của đông đảo  
công nhân viên chức và trở thành động lực  
nội tại khích lệ tất cả mọi người phấn đấu.  
Thứ hai, tăng cường tiếp xúc giữa nhà  
lãnh đạo và nhân viên.Những lời phát biểu  
suông tại các cuộc họp, những lời huấn thị từ  
văn phòng điều hành sẽ không thuyết phục  
bằng chính hành động của nhà lãnh đạo và sự  
tiếp xúc thường xuyên với các nhân viên của  
mình. Có thể coi quá trình tiếp xúc này là quá  
trình truyền đạt những giá trị, niềm tin, quy  
tắc của nhà lãnh đạo tới nhân viên. Qua thời  
gian, những giá trị và quy tắc sẽ được kiểm  
nghiệm và công nhận, trở thành “hệ thống  
dẫn đạo” chung cho toàn doanh nghiệp.  
Vì vậy, Nhà nước cần có các chế tài bảo  
vệ quyền lợi của khách hàng; có biện pháp xử  
lý các trường hợp vi phạm, gây hại tới quyền  
lợi người tiêu dùng thông qua đó bảo vệ cả  
những doanh nghiệp làm ăn chân chính nhưng  
bị mang “tiếng xấu” do hành động sai trái của  
các doanh nghiệp khác. Qua đó, Nhà nước đã  
gián tiếp giúp đỡ doanh nghiệp xây dựng đạo  
đức trong quan hệ với khách hàng của doanh  
nghiệp mình.  
4.3. Tạo lập cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp  
trong việc xây dựng VHKD theo hướng kết hợp  
được tinh hoa văn hóa dân tộc với tinh hoa văn  
hóa nhân loại  
Thứ ba, có thể sử dụng các chuyện kể,  
huyền thoại... như một phương thức hiệu quả  
để truyền đạt và nuôi dưỡng những giá trị  
văn hoá chung. Chúng thổi sinh khí vào mọi  
hành động, ý nghĩ của nhân viên, làm cho  
nhân viên thực sự hãnh diện về công ty của  
mình, coi công ty là môi trường thân thuộc  
để cống hiến và phát huy mọi năng lực. Tại  
Great Plains, một tập đoàn nổi tiếng của Mỹ  
vẫn còn lưu truyền câu chuyện về Tổng giám  
đốc của họ, Doug Burgum, trong một cuộc  
họp thường niên đã tự đập 3 quả trứng vào  
đầu mình trước mặt các nhân viên và quan  
khách sau vụ một sản phẩm thất bại trên thị  
Hiện nay VHKD mới phát triển tại Việt  
Nam, tuy có một số doanh nghiệp, doanh  
nhân đã thành công trong việc xây dựng văn  
hóa cho doanh nghiệp mình. Nhưng đó hầu  
hết là những bước đi mày mò, chưa có một  
hướng đi chuẩn để mọi doanh nghiệp có thể  
thực hiện việc xây dựng VHKD bài bản. Một  
số gợi ý cho các doanh nghiệp có thể đưa ra  
bao gồm:  
Thứ nhất, xây dựng quan niệm lấy con  
ngưꢀi làm trung tâm. Cần tôn trọng con trường vì những khiếm khuyết về hình thức.  
người với tư cách là chủ thể hành vi, coi trọng  
Bằng hình thức “tự trừng phạt” mình như vậy,  
Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường  
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam  
86  
Burgum muốn thể hiện rõ ràng rằng ông thấy  
Thứ sáu, doanh nghiệp trong quá trình  
mình phải chịu phần trách nhiệm rất lớn cho phát triển phải tăng cưꢀng ý thức đạo đức  
việc đã làm “xấu mặt” công ty.  
chung, quan tâm đến an sinh xã hội. Từ thập  
kỷ 90 của thế kỷ XX, vấn đề bảo vệ môi  
trường, vấn đề sản xuất các loại hàng hóa tiêu  
dùng không độc hại đã thành định hướng giá  
trị mới của tất cả các quốc gia trên thế giới.  
Đó là một thách thức lớn đối với tất cả các  
doanh nghiệp. Ở nước ta hiện nay, các doanh  
nghiệp phát triển nhanh chóng nhưng hậu quả  
của sự phát triển ấy cũng hết sức nặng nề mà  
biểu hiện rõ nhất là ô nhiễm môi trường và  
lãng phí tài nguyên. Để khắc phục tình trạng  
đó, cần thông qua VHDN hướng tới mục tiêu  
phát triển lâu dài, bền vững tránh được tình  
trạng phát triển vì lợi ích trước mắt mà bỏ  
quên lợi ích con người. Định hướng của phát  
triển là phải kết hợp một cách hữu cơ sự phát  
triển của doanh nghiệp với tiến bộ của loài  
người nhằm bảo đảm sự phát triển doanh  
nghiệp một cách liên tục, ổn định, hài hòa.  
Trách nhiệm với xã hội là cốt lõi trong văn  
hóa của doanh nghiệp, VHKD. Doanh nghiệp  
không thể tồn tại khi xã hội mà đại diện là  
người tiêu dùng tẩy chay do những hành động  
sai trái tác động xấu tới xã hội. Chính vì vậy,  
việc thực hiện trách nhiệm xã hội cần được  
doanh nghiệp xác định là một nhiệm vụ quan  
trọng nằm trong VHDN, VHKD.  
Các lễ hội, lễ kỉ niệm, buổi gặp mặt, biểu  
tượng, phù hiệu... cũng đóng vai trò rất lớn  
trong việc truyền đạt hệ thống giá trị, niềm  
tin, quy tắc. Góp phần tạo ra những nét đặc thù  
riêng của từng doanh nghiệp, cũng giống như  
khi nhắc đến Toyota người ta nghĩ ngay đến  
biểu tượng ba hình elip đan nhau, Mercedes  
Benz với biểu tượng chiếc vôlăng, Mitsubishi  
với biểu tượng ba hình thoi chung đỉnh cách  
đều nhau, Apple với biểu tượng quả táo cắn  
dở, biểu tượng cổng vàng của McDonald...  
Thứ tư, xây dựng quan niệm hướng tới thị  
trưꢀng. Việc các doanh nghiệp phải tự chủ để  
phù hợp với kinh tế thị trường đòi hỏi họ phải  
nhanh chóng hình thành quan niệm thị trường  
linh động, sát với thực tiễn. Quan niệm thị  
trường bao gồm nhiều mặt như giá thành, khả  
năng tiêu thụ, chất lượng đóng gói và chất  
lượng sản phẩm, các dịch vụ sau bán hàng,  
các kỳ khuyến mãi nhằm thu hút khách hàng.  
Tất cả phải hướng tới việc tăng cường sức  
cạnh tranh, giành thị phần cho doanh nghiệp  
của mình. Cần phải coi nhu cầu thị trường là  
điểm sản sinh và điểm xuất phát của VHDN,  
VHKD.  
Thứ năm, coi trọng chiến lược phát triển  
và mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp để bồi  
dưỡng ý thức VHDN cho toàn thể cán bộ,  
công nhân viên làm cho quan niệm giá trị  
của doanh nghiệp thấm sâu vào các tầng chế  
độ chính sách, từng bước phát triển doanh  
nghiệp. Có chế độ thưởng, phạt hợp lý, có cơ  
chế quản lý dân chủ khiến cho những người  
có cống hiến cho sự phát triển của doanh  
nghiệp đều được tôn trọng và được hưởng lợi  
ích vật chất xứng đáng với công sức mà họ đã  
bỏ ra. Tất cả các yếu tố trên doanh nghiệp cần  
xác định ngay trong triết lý doanh nghiệp để  
Cuối cùng, doanh nghiệp cần có chiến  
lược, lộ trình cụ thể để xây dựng văn hóa cho  
doanh nghiệp mình - văn hóa đó gắn với văn  
hóa của dân tộc và quốc tế. Mỗi doanh nghiệp  
nói chung và các “ông chủ” doanh nghiệp nói  
riêng cần coi việc xây dựng VHDN như một  
biện pháp hiện đại để xây dựng lợi thế cạnh  
tranh và thương hiệu nhằm nâng cao năng lực  
cạnh tranh cho doanh nghiệp giai đoạn hậu  
WTO đồng thời duy trì và phát huy bản sắc  
văn hóa dân tộc nhằm nâng cao vị thế cạnh  
tranh của Việt Nam trên thị trường quốc tế và  
tạo lập thương hiệu quốc gia. Cần có ý thức  
mọi thành viên trong doanh nghiệp đều hiểu biến VHDN thành một sức mạnh mềm trong  
và thực hiện.  
cạnh tranh quốc tế. Muốn vậy, các doanh  
ts.PHạm tHu PHương - nguyễn tHị trang nHung  
87  
nghiệp Việt Nam phải hiểu lợi thế so sánh từng dân tộc, hàm lượng tri thức - văn hóa  
cao, tinh xảo, mẫu mã hấp dẫn, thân thiện môi  
trường, rất dễ được thế giới đón nhận, tiêu  
thụ và khẳng định được thương hiệu nhanh  
chóng.  
trong cạnh tranh của mình ở khâu nào. Chẳng  
hạn, cần hiểu rằng, trong thời kinh tế tri thức,  
tất cả các lĩnh vực sản xuất, lưu thông, phân  
phối, hay các dịch vụ đi kèm, liên quan đều  
có thể mang lại lợi nhuận, thậm chí, các lĩnh  
vực thuộc về truyền thông đại chúng như  
quảng cáo, phim ảnh, quan hệ công chúng…  
có tác dụng kích thích việc xuất hiện các nhu  
cầu tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ vui chơi giải trí  
đều có thể được doanh nghiệp lựa chọn làm  
nghề kinh doanh chuyên nghiệp. Mặt khác,  
cũng cần thấy một thực tế là, trong xu thế  
5. Kết luận:  
Bài viết này góp phần quan trọng làm  
phong phú thêm lý luận về VHKD Việt Nam  
và xây dựng được những luận cứ khoa học  
vững chắc, làm cơ sở cho việc đưa ra giải  
pháp phù hợp nhằm phát triển VHKD Việt  
Nam, nhờ đó góp phần vào việc xây dựng con  
người và phát triển văn hóa Việt Nam trong  
cạnh tranh toàn cầu, yếu tố đặc sắc riêng của thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Đào Duy Quát chủ biên. Văn hoá doanh nghiệp, văn hoá doanh nhân trong quá trình hội nhập. NXB  
Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2007.  
2. Đỗ Minh Cương, Giáo trình VHKD và triết lý kinh doanh. NXB Chính trị Quốc gia, 2001.  
3. Nguyễn Tiến Dũng, Văn hóa Việt Nam thưꢀng thức, NXB Tri thức, 2009  
4. Phùng Xuân Nhạ, Jonathan Ortmans, Dexaix Anderson (chủ biên). Entrepreneurship in Vietnam (Tinh  
thần doanh nhân Việt Nam, sách xuất bản bằng tiếng Anh). Nhà Xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007.  
5. Phùng Xuân Nhạ, Cơ sở khoa học của xây dựng quy trình đào tạo và phát triển tài năng khoa học công  
nghệ, lãnh đạo quản lý và kinh doanh ở Việt Nam. Đề tài nhánh cấp nhà nước (chủ trì, đề tài đã nghiệm thu  
2006).  
6. Trần Ngọc Thêm. Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, NXB Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh, in lần thứ 4, 2004.  
7. Vương Quân Hoàng. Văn minh kinh doanh và nguồn gốc của cải, NXB Chính trị Quốc gia, 2007.  
8. Casson, M., The Entrepreneur. An Economic Theory, (2nd edition), Edward Elgar Publishing, 2003.  
9. Per Davidsson. Researching Entrepreneurship. Springer Verlag New York, 2005.  
10. Schein, F. Corporate Culture and Leadership. Jossey Bass Publisher, 2004.  
11. Trompenars, F. & Woolliams, P. Business Across Cultures. Capstone Publisher, 2004.  
aspx  
pdf 11 trang Thùy Anh 16900 Free
Bạn đang xem tài liệu "Văn hóa kinh doanh Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvan_hoa_kinh_doanh_viet_nam_trong_boi_canh_hoi_nhap_kinh_te.pdf