Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam (Phần 2)

CHƯƠNG 4  
QUAN HỆ GIỮA VỢ VÀ CHỒNG  
THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM  
Sự kết hôn hợp pháp đã làm phát sinh quan hệ pháp luật giữa vợ  
và chồng. Nội dung của quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng bao gồm  
các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản. Các quan hệ nhân thân và  
tài sản của vợ chồng được pháp luật bảo vệ và buộc các chủ thể phải  
được thực hiện.  
Khác với chế độ bóc lột, mục đích của việc xác lập quan hệ hôn  
nhân dưới chế độ xã hội chủ nghĩa nhằm xây dựng gia đình ấm no,  
tiến bộ, hạnh phúc và bền vững. Vì vậy, Luật Hôn nhân - gia đình  
điều chỉnh các quan hệ giữa vợ và chồng dựa trên nguyên tắc bình  
đẳng, tiến bộ. Các nghĩa vụ giữa vợ và chồng vừa là nghĩa vụ pháp lý  
vừa là nghĩa vụ đạo đức.  
Quan hệ giữa vợ và chồng được quy định tại chương IV từ điều  
18 đến điều 33 của Luật Hôn nhân và gia đình 2000, trên cơ sở kế  
thừa và phát triển các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 1986  
cho phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội.  
1. QUAN HỆ NHÂN THÂN GIỮA VỢ VÀ CHỒNG THEO  
LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH  
Đây là những quy định mang tính khái quát về quan hệ nhân  
thân giữa vợ và chồng, trên cơ sở kế thừa và cụ thể hoá một số quyền  
nhân thân cơ bản của cá nhân được quy định trong Hiến pháp 1992,  
các quy định trong Bộ luật Dân sự 2005, Luật Hôn nhân và gia đình  
1986, đồng thời có bổ sung thêm một số quy định mới.  
1.1. Tình nghĩa vợ chồng  
Tình nghĩa vợ chồng là tình cảm phù hợp với đạo lý. Làm vợ,  
56  
chồng của nhau phải hiểu rõ và hành động theo tình cảm, bổn phận và  
nghĩa vụ của mình, và lợi ích của vợ, chồng và lợi ích của các con, lợi  
ích của gia đình. Do vậy, điều 18 quy định: "Vợ chồng chung thuỷ,  
thương yêu quý trọng, chăm sóc giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng  
gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững". Việc  
thực hiện bổn phận này vừa mang tính chất pháp lý vừa dựa trên cơ  
sở đạo lý. Quy định của pháp luật nhằm đảm bảo quyền bình đẳng  
giữa vợ, chồng trong các quan hệ nhân thân, đồng thời ngăn chặn  
tình trạng vợ, chồng có quan hệ nam nữ bất chính.  
1.2. Vợ chồng bình đẳng về nghĩa vụ và quyền  
Vợ chồng bình đẳng về nghĩa vụ và quyền nhân thân, tài sản  
(như: bình đẳng trong việc giáo dục con cái; lựa chọn chỗ ở chung;  
lựa chọn nghề nghiệp...). Trong các quan hệ nhân thân và tài sản vợ  
chồng bình đẳng với nhau không phụ thuộc vào thu nhập, địa vị xã hội  
hoặc các yếu tố khác.  
1.3. Việc lựa chọn nơi cư trú của vợ chồng  
Nơi cư trú của vợ chồng về nguyên tắc do vợ chồng tự lựa chọn,  
việc lựa chọn nơi cư trú không bị ràng buộc bởi phong tục tập quán,  
địa giới hành chính. Để đảm bảo ổn định cuộc sống gia đình và điều  
kiện làm việc của mỗi bên thì vợ chồng bàn bạc, thoả thuận quyết  
định lựa chọn nơi cư trú. Quy định của pháp luật nhằm xoá bỏ những  
quan niệm, tập tục có tính chất bắt buộc chỗ ở chung của nam nữ sau  
khi kết hôn "thuyền theo lái, gái theo chồng" hoặc tục ở rể của dân tộc  
Thái, buộc vợ, chồng không có quyền lựa chọn nơi ở chung.  
1.4. Vợ chồng có nghĩa vụ tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín  
của nhau  
Quy định này vừa được bổ sung so với Luật Hôn nhân và gia  
đình 1986. Điều 21 đã cụ thể hoá các quy định tại điều 71 Hiến pháp  
1992 và điều 33 Bộ luật Dân sự. Vợ chồng tôn trọng và giữ gìn danh  
57  
dự nhân phẩm và uy tín của nhau. Pháp luật cấm vợ, chồng có hành vi  
ngược đãi, hành hạ xúc phạm đến danh dự, uy tín của nhau.  
1.5. Vợ chồng có nghĩa vụ tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn  
giáo của nhau, giúp đỡ tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt  
Đây là quyền cơ bản của công dân được quy định trong điều 68  
của Hiến pháp 1992: "Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc  
không theo một tôn giáo nào". Do vậy, trong quan hệ vợ chồng phải  
tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau, không được cản trở,  
cưỡng ép theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Ngoài ra luật còn  
quy định vợ chồng cùng bàn bạc, tạo điều kiện giúp đỡ cho nhau lựa  
chọn nghề nghiệp, học tập, nâng cao trình độ văn hoá chuyên môn  
cũng như tham gia các hoạt động kinh tế, chính trị,...  
1.6. Việc đại diện cho nhau giữa vợ và chồng  
Việc đại diện đã được quy định tại điều 71 và điều 148 của Bộ  
luật Dân sự, song quan hệ đại diện giữa vợ và chồng được Luật Hôn  
nhân và gia đình quy định cụ thể hơn. Đây là căn cứ pháp lý để xem  
xét các giao dịch dân sự do vợ chồng xác lập có đảm bảo tư cách đại  
diện hay không.  
Một là, khi tham gia xác lập thực hiện các giao dịch dân sự mà  
pháp luật quy định giao dịch đó phải có sự đồng ý của cả vợ và chồng  
thông qua sự thoả thuận, cùng ký vào văn bản giao dịch (như bán các  
tài sản chung có giá trị lớn như nhà ở, chuyển nhượng quyền sử dụng  
đất...). Trong trường hợp vợ hoặc chồng ở xa hoặc không trực tiếp  
tham gia thì có thể uỷ quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt  
các giao dịch dân sự đối với các giao dịch mà theo quy định phải có  
sự đồng ý của cả vợ chồng. Việc uỷ quyền phải lập thành văn bản để  
xây dựng rõ phạm vi uỷ quyền.  
Tuy nhiên, trong thực tế đối với những tài sản nào được xem có  
giá trị lớn để buộc phải có sự đồng ý của cả vợ và chồng khi tham gia  
giao dịch thì chưa có quy định cụ thể, nhất là đối với những loại hợp  
58  
đồng pháp luật quy định về hình thức có thể thoả thuận bằng lời nói  
hoặc văn bản, việc xác định sự đồng ý thoả thuận gặp nhiều khó khăn  
(chẳng hạn: Vay tài sản trị giá 50 triệu các bên có thể thoả thuận bằng  
lời nói hoặc bằng văn bản, nhưng mua bán nhà có trị giá 30 triệu thì  
bắt buộc phải bằng văn bản có công chứng, chứng thực.). Do vậy,  
trong thực tế xét xử việc xác định tài sản chung có giá trị lớn của vợ  
chồng căn cứ vào mức sinh hoạt bình thường ở địa phương của vợ  
chồng thường trú, căn cứ vào mức sống của mỗi gia đình và giá trị của  
tài sản đó trong khối tài sản chung của vợ chồng.  
Hai là, vợ chồng đại diện cho nhau khi một bên vợ hoặc chồng  
mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự  
được Toà án chỉ định người đại diện trong quyết định tuyên bố hạn  
chế năng lực hành vi dân sự của Toà án.  
1.7. Về trách nhiệm liên đới của vợ, chồng đối với giao dịch do  
một bên thực hiện  
Vợ chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với các giao dịch  
dân sự hợp pháp do một bên vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng  
nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình (nhu cầu ăn, mặc, ở, khám  
chữa bệnh, học tập...). Trong trường hợp này được xác định là có sự  
thoả thuận đương nhiên của vợ chồng nên vợ chồng phải chịu trách  
nhiệm bằng tài sản chung hợp nhất vì các giao dịch này vì mục đích  
gia đình chứ không phải vì lợi ích riêng của vợ hoặc chồng. Chẳng  
hạn, anh A đang công tác ở xa nhưng chị B ở nhà cần gấp một số tiền  
để cấp cứu cho con (nếu đợi anh A về hoặc lập văn bản ủy quyền) thì  
không kịp nên chị B đã bán tài sản chung của vợ chồng là chiếc xe  
máy với giá 35 triệu cho anh H. Khi anh A trở về thì mọi việc đã bình  
thường nên không đồng ý với việc bán xe của chị B. Như vậy, mặc dù  
pháp luật quy định việc định đoạt tài sản có giá trị lớn, có đăng ký  
quyền sở hữu cần được sự đồng ý bằng văn bản nhưng trường hợp này  
việc định đoạt của chị B hoàn toàn vì mục đích gia đình nên đương  
nhiên có sự thỏa thuận.  
59  
1.8. Quan hệ hôn nhân khi một bên bị tuyên bố là đã chết mà trở về  
Việc tuyên bố một người là đã chết được quy định tại điều 91,  
điều 92 và điều 93 Bộ luật Dân sự. Trong trường hợp người bị tuyên  
bố đã chết trở về hoặc có tin tức xác thực là họ còn sống thì theo yêu  
cầu Toà án ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người là đã  
chết. Trong trường hợp này pháp luật phân biệt hai khả năng xảy ra:  
Một là, trong trường hợp người bị tuyên bố đã chết trở về mà vợ  
hoặc chồng của người đó chưa kết hôn với ai khác thì quan hệ hôn  
nhân giữa vợ chồng đương nhiên được khôi phục.  
Hai là, trong trường hợp vợ hoặc chồng của người đó đã hôn với  
người khác thì quan hệ hôn nhân được xác lập sau có hiệu lực  
pháp luật.  
2. QUAN HỆ TÀI SẢN GIỮA VỢ VÀ CHỒNG THEO LUẬT  
HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH  
Các quy định về tài sản của vợ chồng trong Luật Hôn nhân và  
gia đình 2000 về cơ bản kế thừa các quy định của Luật Hôn nhân và  
gia đình 1986, cụ thể hoá một số quy định của Luật dân sự, đồng thời  
bổ sung một số quy định mới nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế  
- xã hội trong giai đoạn hiện nay.  
2.1. Quyền sở hữu tài sản của vợ chồng  
Quyền sở hữu tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia  
đình 1959, Luật Hôn nhân và gia đình 1986 và Luật Hôn nhân và gia  
đình 2000 quy định khác nhau.  
Luật Hôn nhân và gia đình 1959, điều 15 quy định: "Vợ chồng  
có quyền sở hữu, hưởng thụ ngang nhau đối với tài sản có trước và  
sau khi cưới". Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 1959 thì  
tất cả tài sản của vợ chồng có trước khi kết hôn hoặc tài sản của vợ  
chồng có được trong thời kỳ hôn nhân đều là tài sản chung của vợ  
chồng. Luật Hôn nhân và gia đình 1959 không thừa nhận quyền sở  
60  
hữu tài sản riêng của vợ chồng. Quy định này vào thời điểm đó nhằm  
xây dựng một quan hệ hôn nhân và gia đình mới dựa trên nguyên tắc  
hôn nhân tự do, tiến bộ, vợ chồng bình đẳng, không phụ thuộc vào các  
điều kiện kinh tế của mỗi người.  
Luật Hôn nhân và gia đình 1986 quy định vợ chồng có quyền sở  
hữu đối với tài sản chung hợp nhất (điều 14), ngoài ra vợ chồng còn  
có quyền có tài sản riêng (điều 16).  
Luật Hôn nhân và gia đình 2000 quy định vợ chồng có quyền sở  
hữu đối với tài sản chung hợp nhất, có quyền có tài sản riêng, ngoài ra  
còn có quy định chi tiết quyền sử dụng, định đoạt tài sản của vợ chồng.  
2.1.1. Quyền sở hữu của vợ chồng đối với tài sản chung hợp nhất  
* Căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng (điều 27):  
Tài sản chung của vợ chồng bao gồm tài sản do vợ chồng tạo ra,  
thu nhập do lao động hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu  
nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà  
vợ chồng được thừa kế chung hoặc tặng cho chung và những tài sản  
khác vợ chồng thoả thuận là tài sản chung.  
Như vậy, tài sản chung của vợ chồng được xây dựng căn cứ vào  
nguồn gốc tài sản gồm: Tiền lương, tiền thưởng, tiền lương hưu, tiền  
trợ cấp, các khoản thu nhập về sản xuất ở gia đình và các khoản thu  
nhập hợp pháp khác của vợ chồng không phân biệt mức thu nhập của  
mỗi bên. Các tài sản mà vợ chồng mua sắm được từ các nguồn nói  
trên hoặc tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho  
chung. Theo Nghị quyết 02/2000/NQ- HĐTP thì "Những thu thập hợp  
pháp khác" của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có thể là tiền thưởng,  
tiền trợ cấp, tiền trúng thưởng xổ số, mà vợ, chồng có được hoặc tài  
sản mà vợ chồng được xác lập quyền sở hữu theo quy định tại các  
Điều 247, 248, 249, 250, 251 và 252 Bộ luật dân sự,... trong thời kỳ  
hôn nhân.  
61  
So với luật hôn nhân và gia đình 1986 thì Luật Hôn nhân và gia  
đình 2000 đã bổ sung thêm cụm từ "và những tài sản khác mà vợ  
chồng thoả thuận là tài sản chung" đây là quy định có tính mềm dẻo  
đảm bảo quyền tự định đoạt của vợ chồng, khuyến khích việc xây  
dựng củng cố chế độ tài sản chung hợp nhất của vợ chồng, góp phần  
sự củng cố bền vững của gia đình. Ngoài căn cứ nói trên, Luật Hôn  
nhân và gia đình 2000 cũng quy định cụ thể hơn để đảm bảo xác định  
tài sản chung của vợ chồng hoặc tài sản riêng của vợ hoặc chồng được  
chính xác:  
Một là, trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản  
vợ chồng đang tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên, thì tài sản đó là  
tài sản chung". (khoản 3 điều 27). Đây là quy định mang nguyên tắc  
suy đoán để xác định tài sản khi ly hôn hoặc những trường hợp tranh  
chấp khác. Trong trường hợp một bên vợ hoặc chồng khẳng định tài  
sản đó là tài sản riêng của mình thì phải đưa ra các chứng cứ chứng  
minh, nếu không có chứng cứ chứng minh thì được suy đoán là tài sản  
chung của vợ chồng.  
Hai là, đối với quyền sử dụng đất pháp luật quy định quyền sử  
dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ  
chồng theo nguyên tắc thu nhập hợp pháp trong thời kỳ hôn nhân.  
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có trước khi kết hôn, được thừa kế  
riêng chỉ là tài sản chung của vợ chồng khi có sự thoả thuận.  
Ba là, tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.  
Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ, chồng mà pháp  
luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận  
quyền sở hữu phải ghi tên cả vợ và chồng. Quy định của pháp luật  
nhằm mục đích tránh sự lạm dụng của vợ hoặc chồng tự ý tham gia  
các giao dịch có liên quan đến tài sản chung, làm cho cơ quan có thẩm  
quyền khi làm thủ tục nhầm lẫn giữa tài sản chung và tài sản riêng.  
Quy định của pháp luật nhằm tạo ra căn cứ pháp lý cần thiết xây dựng  
rõ đâu là tài sản chung, đâu là tài sản riêng của vợ chồng thoả thuận  
62  
hoặc một bên tự ý đứng tên trong các giấy tờ do không hiểu biết pháp  
luật thì không ảnh hưởng gì đến quyền sở hữu chung của vợ chồng đối  
với tài sản đó, kể cả người thứ ba tham gia giao dịch bởi lẽ khi giải  
quyết tranh chấp thì bên vợ, chồng cho rằng đó là tài sản riêng phải  
chứng minh nguồn gốc tài sản, thu nhập tạo ra; nếu không chứng minh  
được thì Toà án xác định là tài sản chung của vợ chồng theo nguyên  
tắc "thu nhập hợp pháp trong thời kỳ hôn nhân" (theo khoản 1 và  
khoản 3 điều 27).  
Thực tiễn cho thấy chỉ có tài sản rất lớn, rất quan trọng đối với  
đời sống gia đình thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu mới ghi tên  
của cả vợ chồng (như: nhà ở, quyền sử dụng đất,...), song cũng không  
phải trong mọi trường hợp. Đối với các tài sản khác phải đăng ký  
quyền sở hữu, nhưng trong giấy chứng nhận chỉ có thể ghi tên của vợ  
hoặc chồng (như xe môtô, xe ôtô, tàu, thuyền vận tải...) thì căn cứ vào  
nguồn gốc tài sản. Mặt khác, khoản 1 Điều 32 đã quy định cụ thể về  
tài sản riêng của vợ chồng. Để bảo vệ quyền lợi chính đáng của các  
bên, trong trường hợp tài sản do vợ, chồng có được trong thời kỳ hôn  
nhân mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, nhưng trong  
giấy chứng nhận quyền sở hữu chỉ ghi tên của vợ hoặc chồng, nếu  
không có tranh chấp thì đó là tài sản chung của vợ chồng; nếu có tranh  
chấp là tài sản riêng thì người có tên trong giấy chứng nhận quyền sở  
hữu phải chứng minh được tài sản này do được thừa kế riêng, được  
tặng riêng trong thời kỳ hôn nhân hoặc tài sản này có được từ nguồn  
tài sản riêng quy định tại khoản 1 Điều 32 (ví dụ: được thừa kế riêng  
một khoản tiền và dùng khoản tiền này mua cho bản thân một chiếc xe  
môtô mà không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng). Trong  
trường hợp không chứng minh được tài sản đang có tranh chấp này là  
tài sản riêng thì theo quy định tại khoản 3 Điều 27 tài sản đó là tài sản  
chung của vợ chồng.  
Bốn là, cũng xác định là tài sản chung của vợ chồng đối với  
những tài sản mà vợ chồng có trước khi kết hôn hoặc những tài sản  
63  
được tặng riêng, thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân nhưng vợ chồng  
tự nguyện nhập vào khối tài sản chung. Khoản 2 điều 32 quy định:  
"vợ chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản này vào khối tài  
sản chung". Đây là quy định cần thiết nhằm bảo đảm quyền tự định  
đoạt của vợ, chồng. Trong thực tế, việc xác định "tự nguyện nhập vào  
tài sản chung” phải có những căn cứ pháp lý, nhất là để tránh tình  
trạng trốn các khoản nợ riêng của vợ hoặc chồng. Do vậy, Nghị định  
70/2001/NĐ-CP quy định đối với tài sản có giá trị lớn, phải đăng ký  
quyền sở hữu như là nhà ở, quyền sử dụng đất,... phải được thể hiện  
bằng văn bản, có chữ ký của bên vợ hoặc chồng là chủ sở hữu đó.  
Việc nhập tài sản riêng vào tài sản chung để nhằm trốn tránh các  
nghĩa vụ riêng của một bên bị tòa án tuyên bố vô hiệu khi có yêu cầu.  
Đối với tài sản riêng của vợ hoặc chồng nhưng được đưa vào sử  
dụng chung không đương nhiên là sở hữu chung của vợ chồng, chẳng  
hạn điều 99 Luật Hôn nhân và gia đình 2000 quy định: Trong trường  
hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của một bên đã được đưa vào sử dụng  
chung thì khi ly hôn nhà đó vẫn thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu  
nhà, nhưng phải thanh toán cho bên kia một phần giá trị căn nhà, căn  
cứ vào công sức bảo dưỡng nâng cấp, cải tạo, sửa chữa nhà.  
* Chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản chung (điều 28) Luật  
Hôn nhân và gia đình 2000 đã quy định cụ thể việc chiếm hữu, sử  
dụng và định đoạt tài sản chung như sau:  
Thứ nhất, tài sản chung thuộc sở hữu chung hợp nhất, do đó vợ  
chồng có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng và định  
đoạt đối với tài sản chung. Đây là đặc trưng trong quan hệ tài sản giữa  
vợ và chồng.  
Thứ hai, tài sản chung vợ chồng được chi dùng để đảm bảo  
những nhu cầu chung của gia đình thì được xác định là đương nhiên  
có sự thoả thuận của cả hai vợ chồng. Việc xác lập, thực hiện hoặc  
chấm dứt các giao dịch dân sự (mua bán, tặng cho, cho vạy,...) liên  
quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của  
64  
gia đình, việc dùng tài sản chung để đầu tư kinh doanh phải được sự  
bàn bạc thoả thuận (trừ tài sản chung đã được chia đầu tư kinh doanh  
riêng khi hôn nhân đang tồn tại theo khoản 1 điều 29 của Luật Hôn  
nhân và gia đình 2000). Do vậy, trong trường hợp xác lập, chấm dứt  
các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản có giá trị lớn như nhà ở, xe  
ôtô, mô tô,... hoặc việc thành lập doanh nghiệp tư nhân, góp vốn vào  
công ty bằng tài sản chung bắt buộc phải có sự thoả thuận bằng văn  
bản và phải có chữ ký của vợ, chồng và phải được công chứng hoặc  
chứng thực, trừ những trường hợp theo quy định tại Nghị định  
70/2001/NĐ-CP.  
Thứ ba, tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất  
có nghĩa là không căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng để tạo  
lập khối tài sản để xác định phần quyền của từng người. Trong từng  
trường hợp có thể do điều kiện sức khoẻ, nghề nghiệp,... nên sự đóng  
góp vào khối tài sản chung không ngang nhau; nhưng quyền và nghĩa  
vụ của vợ chồng đối với tài sản chung là ngang nhau nên luật quy  
định: "lao động trong gia đình coi như lao động sản xuất".  
* Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (điều 29, điều 30)  
Một là, những trường hợp được thỏa thuận chia tài sản chung  
trong thời kỳ hôn nhân.  
Theo Luật Hôn nhân và gia đình 1986, tại điều 18 quy định:  
"Khi hôn nhân tồn tại, nếu một bên có yêu cầu và có lý do chính đáng,  
thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại điều 42  
của luật này".  
Xuất phát từ tình hình thực tế quan hệ hôn nhân và gia đình,  
đồng thời cũng xuất phát từ việc đảm bảo lợi ích chính đáng của vợ,  
chồng đối với tài sản; trên có sở kế thừa Luật Hôn nhân và gia đình  
1986, điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình 2000 quy định: "Khi hôn  
nhân tồn tại, trong trường hợp vợ, chồng đầu tư kinh doanh riêng thực  
hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ,  
chồng có thể thoả thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung  
65  
phải được lập thành văn bản; nếu không thoả thuận được thì có quyền  
yêu cầu Toà án giải quyết".  
Vợ, chồng có quyền yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn  
nhân, trừ trường hợp nhằm trốn tránh trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ  
tài sản thì không được thừa nhận. Việc chia tài sản chung của vợ  
chồng không phải gián tiếp thừa nhận chế định ly thân mà nhằm tạo  
điều kiện cho vợ chồng tham gia các quan hệ kinh tế, thực hiện các  
nghĩa vụ riêng về tài sản,... trong những trường hợp sau: (i) vợ, chồng  
dùng tài sản để đầu tư kinh doanh riêng; (ii) vợ, chồng thực hiện nghĩa  
vụ dân sự riêng như nghĩa vụ trả nợ, bồi thường thiệt hại; (iii) các lý  
do chính đáng khác như một bên có hành vi hoang phí, phá tán tài sản,  
vợ chồng đã già mà tính tình không hợp nhưng xin ly hôn ảnh hưởng  
đến con cái, danh dự...  
Hai là, thủ tục chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.  
Thoả thuận chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn  
nhân quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật Hôn nhân và gia đình  
phải được lập thành văn bản và ghi rõ các nội dung sau đây:  
- Lý do chia tài sản;  
- Phần tài sản chia (bao gồm bất động sản, động sản, các quyền  
tài sản); trong đó cần mô tả rõ những tài sản được chia hoặc giá trị  
phần tài sản được chia;  
- Phần tài sản còn lại không chia, nếu có;  
- Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung;  
- Các nội dung khác, nếu có.  
Văn bản thoả thuận chia tài sản chung của vợ chồng phải ghi rõ  
ngày, tháng, năm lập văn bản và phải có chữ ký của cả vợ và chồng; văn  
bản thoả thuận có thể có người làm chứng hoặc được công chứng, chứng  
thực theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.  
Trong trường hợp vợ, chồng không thoả thuận được về việc chia  
tài sản chung, thì cả hai bên hoặc một bên có quyền yêu cầu Toà án  
giải quyết.  
66  
Ba là, thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung.  
Trong trường hợp văn bản thoả thuận chia tài sản chung của vợ  
chồng không xác định rõ thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản,  
thì hiệu lực được tính từ ngày, tháng, năm lập văn bản.  
Trong trường hợp văn bản thoả thuận chia tài sản chung của vợ  
chồng được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của vợ chồng,  
thì hiệu lực được tính từ ngày xác định trong văn bản thoả thuận; nếu  
văn bản không xác định ngày có hiệu lực đó, thì hiệu lực được tính từ  
ngày văn bản đó được công chứng, chứng thực.  
Trong trường hợp văn bản thoả thuận chia tài sản chung của vợ  
chồng phải công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật, thì  
hiệu lực được tính từ ngày văn bản đó được công chứng, chứng thực.  
Trong trường hợp Toà án cho chia tài sản chung theo quy định  
tại khoản 3 Điều 6 của Nghị định 70/2001/NĐ-CP, thì việc chia tài  
sản chung của vợ chồng có hiệu lực kể từ ngày quyết định cho chia tài  
sản chung của Toà án có hiệu lực pháp luật.  
Bốn là, hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung trong thời  
kỳ hôn nhân.  
Việc chia tài sản chung của vợ chồng theo điều 29 của Luật Hôn  
nhân và gia đình 2000 có hậu quả pháp lý như sau:  
Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thì thuộc sở hữu  
riêng của mỗi người, trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác.  
Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ phần tài sản chung còn lại vẫn thuộc sở  
hữu chung của vợ, chồng.  
Thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những  
thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài  
sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác.  
Năm là, khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng.  
Trong trường hợp vợ chồng đã chia tài sản chung và sau đó  
muốn khôi phục chế độ tài sản chung, thì vợ chồng phải thoả thuận  
bằng văn bản có ghi rõ các nội dung sau đây :  
67  
- Lý do khôi phục chế độ tài sản chung;  
- Phần tài sản thuộc sở hữu riêng của mỗi bên;  
- Phần tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng, nếu có;  
- Thời điểm có hiệu lực của việc khôi phục chế độ tài sản chung;  
- Các nội dung khác, nếu có.  
Văn bản thoả thuận phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập văn bản và  
phải có chữ ký của cả vợ và chồng; văn bản thoả thuận có thể có  
người làm chứng hoặc được công chứng, chứng thực theo yêu cầu của  
vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.  
Sáu là, thời điểm có hiệu lực của việc khôi phục chế độ tài sản  
chung.  
Trong trường hợp văn bản thoả thuận khôi phục chế độ tài sản  
chung của vợ chồng không xác định rõ thời điểm có hiệu lực của việc  
khôi phục chế độ tài sản chung, thì hiệu lực được tính từ ngày, tháng,  
năm lập văn bản.  
Trong trường hợp văn bản thoả thuận chia tài sản chung của vợ  
chồng được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của vợ chồng,  
thì văn bản thoả thuận khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng  
cũng phải được công chứng hoặc chứng thực và việc khôi phục chế độ  
tài sản chung có hiệu lực kể từ ngày xác định trong văn bản thoả  
thuận; nếu văn bản không xác định ngày có hiệu lực đó, thì hiệu lực  
được tính từ ngày văn bản đó được công chứng, chứng thực.  
Trong trường hợp văn bản thoả thuận chia tài sản chung của vợ  
chồng phải công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật, thì  
văn bản thoả thuận khôi phục chế độ tài sản chung cũng phải được  
công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật và có hiệu lực kể  
từ ngày được công chứng, chứng thực.  
Theo yêu cầu của những người có quyền, lợi ích liên quan thì  
việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện các  
nghĩa vụ về tài sản sau đây bị Toà án tuyên bố là vô hiệu: (1) nghĩa vụ  
68  
nuôi dưỡng, cấp dưỡng người khác theo quy định của pháp luật; (2)  
nghĩa vụ bồi thường thiệt hại; (3) nghĩa vụ thanh toán khi bị Toà án  
tuyên bố phá sản doanh nghiệp; (4) nghĩa vụ nộp thuế và nghĩa vụ tài  
chính khác đối với Nhà nước; (5) nghĩa vụ trả nợ cho người khác và  
các nghĩa vụ khác về tài sản theo quy định của pháp luật.  
2.1.2. Quyền sở hữu của vợ, chồng đối với tài sản riêng (điều 32, 33)  
Thứ nhất, về căn cứ xác lập tài sản riêng của vợ, chồng.  
Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình 2000 quy định: "Tài sản  
riêng của vợ, chồng bao gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết  
hôn, tài sản được thừa kế riêng, tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân;  
tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo điều 29 và khoản 30 của  
luật này: đồ dùng tư trang cá nhân. Vợ chồng có quyền nhập hoặc  
không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung''.  
Kế thừa Luật Hôn nhân và gia đình 1986, Luật 2000 qui định  
vợ, chồng có quyền có tài sản riêng. Việc xác định tài sản riêng của  
vợ, chồng bao gồm:  
- Tài sản có trước khi kết hôn;  
- Tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kì  
hôn nhân;  
- Tài sản được chia khi hôn nhân tồn tại (kể cả hoa lợi, lợi tức  
thu được từ tài sản đó);  
- Đồ dùng tư trang cá nhân.  
Chế độ tài sản của riêng vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia  
đình là hoàn toàn phù hợp với quyền sở hữu tài sản của công dân theo  
Hiến pháp 1992. Quy định này hoàn toàn không ảnh hưởng đến tính  
chất của hôn nhân mà còn tạo điều kiện cho vợ, chồng tự do kinh  
doanh, thực hiện các nghĩa vụ về tài sản độc lập; đồng thời còn ngăn  
chặn hiện tượng kết hôn vụ lợi, sau đó xin ly hôn để chia tài  
sản chung.  
69  
Thứ hai, về chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản riêng của  
vợ, chồng.  
Một là, vợ hoặc chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng và định  
đoạt tài sản riêng theo pháp luật dân sự về quyền sở hữu (ví dụ như  
mua bán, trao đổi, tặng cho,... mà không cần sự đồng ý của  
người chồng).  
Hai là, vợ hoặc chồng tự quản lý tài sản riêng; trong trường hợp  
vợ chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy  
quyền cho người khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản đó.  
Vợ chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài  
sản chung.  
Ba là, nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người thanh toán từ tài  
sản riêng của người đó.  
Xuất phát từ lợi ích các thành viên trong gia đình và đặc điểm  
riêng biệt của quan hệ hôn nhân và gia đình, pháp luật qui định trong  
trường hợp tài sản chung không đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của  
gia đình thì phải sử dụng cả tài sản riêng. Ngoài ra, pháp luật cũng qui  
định hạn chế quyền đối với tài sản riêng trong từng trường hợp tài sản  
riêng đã được đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, tức thu được từ tài  
sản là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản  
riêng đó phải được thỏa thuận của hai vợ chồng. Quy định này nhằm  
đảm bảo lợi ích của các thành viên trong gia đình, cùng hỗ trợ cho  
nhau về cả vật chất và tinh thần để đạt được mục đích xây dựng gia  
đình ấm no, dân chủ, hạnh phúc và hòa thuận.  
2.2. Quyền thừa kế tài sản giữa vợ chồng  
Qui định quyền thừa kế tài sản giữa vợ chồng tại điều 31 Luật  
Hôn nhân và gia đình 2000, cụ thể hóa qui định của Bộ luật dân sự,  
thể hiện:  
Một là, vợ chồng có quyền thừa kế của nhau theo qui định của  
pháp luật thừa kế.  
70  
Hai là, khi vợ hoặc chồng chết hoặc bị toà án tuyên bố thì bên  
còn sống quản lí tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di  
chúc có chỉ định người khác quản lý tài sản.  
Ba là, trong trường hợp yêu cầu chia tài sản thừa kế mà việc chia  
tài sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ hoặc chồng  
còn sống và gia đình thì bên còn sống có quyền yêu cầu Tòa án xác  
định phần di sản mà những người thừa kế được hưởng chung chưa  
chia trong một thời hạn nhất định. Nếu hết thời hạn do Toà án xác  
định hoặc bên còn sống đã kết hôn với người khác thì người thừa kế  
khác có quyền yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế.  
Trên cơ sở qui định của điều 31, Nghị quyết số 02/2000/NQ-  
HĐTP hướng dẫn:  
Việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên  
vợ hoặc chồng còn sống và gia đình là trong trường hợp người chết có  
để lại di sản, nhưng nếu đem di sản này chia cho những người thừa kế  
được hưởng thì vợ hoặc chồng còn sống và gia đình gặp rất nhiều khó  
khăn trong cuộc sống như: Không có chỗ ở, mất nguồn tư liệu sản  
xuất duy nhất,...  
Ví dụ 1: Trước khi kết hôn anh A mua được một ngôi nhà cấp 4  
có diện tích 25m2. Sau đó anh A kết hôn với chị B và không nhập  
ngôi nhà này vào khối tài sản chung của vợ chồng. Sau khi sinh được  
một người con thì anh A bị chết và không để lại di chúc. Bố mẹ của  
anh A yêu cầu chia di sản thừa kế là ngôi nhà của anh A. Chị B và con  
không có chỗ ở nào khác và cũng chưa có điều kiện để tạo lập chỗ ở  
khác. Ngôi nhà này lại không thể chia được bằng hiện vật. Trong  
trường hợp này việc chia di sản thừa kế là ngôi nhà sẽ ảnh hưởng  
nghiêm trọng đến đời sống của chị B và con.  
Ví dụ 2: Anh C và chị D kết hôn với nhau và mua được ngôi nhà  
có diện tích 20m2. Sau khi sinh được một người con thì anh C bị chết  
và không để lại di chúc. Bố mẹ của anh C yêu cầu chia di sản do anh  
C để lại là phần nhà của anh C trong ngôi nhà này. Chị D và con  
71  
không có chỗ ở nào khác, trong khi đó ngôi nhà này nếu chia bằng  
hiện vật thì không bảo đảm cho việc sinh hoạt tối thiểu của chị D và  
con; nếu buộc chị D phải thanh toán bằng tiền phần thừa kế mà bố mẹ  
anh C được hưởng thì chị D cũng không có khả năng. Trong trường  
hợp này việc chia di sản thừa kế phần nhà của anh C trong ngôi nhà  
có diện tích 20m2 sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của chị D  
và con.  
Khi thuộc trường hợp trên, Toà án cần giải thích cho người có  
yêu cầu chia di sản thừa kế biết là họ mới chỉ có quyền yêu cầu xác  
định phần di sản mà họ được hưởng và họ chỉ có quyền yêu cầu chia  
di sản sau một thời hạn nhất định, cụ thể là ba năm, nếu trong thời hạn  
này bên còn sống là vợ hoặc chồng của người đã chết chưa kết hôn  
với người khác. Nếu họ có yêu cầu xác định phần di sản mà họ được  
hưởng thì Toà án thụ lý để giải quyết. Trong trường hợp này, nếu họ  
không được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, miễn án phí thì họ phải nộp  
tiền tạm ứng án phí như đối với vụ án không có giá ngạch.  
2.3. Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng  
Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng được cụ thể trong  
Chương cấp dưỡng.  
72  
CHƯƠNG 5  
QUAN HỆ GIỮA CHA MẸ VÀ CON,  
GIỮA CÁC THÀNH VIÊN TRONG GIA ĐÌNH  
THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH  
1. CĂN CỨ PHÁT SINH QUAN HỆ PHÁP LUẬT GIỮA CHA  
MẸ VÀ CON THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH  
Quan hệ pháp luật giữa cha mẹ và con dựa trên sự kiện pháp luật  
nhất định do Luật Hôn nhân và gia đình quy định là sự kiện sinh đẻ và  
sự kiện nhận nuôi con nuôi.  
1.1. Quan hệ giữa cha mẹ và con phát sinh dựa trên sự kiện sinh đẻ  
Việc đứa trẻ ra đời từ người cha, người mẹ nhất định được xác  
nhận giữa hai bên có tồn tại quan hệ hợp pháp hay không sẽ làm phát  
sinh quan hệ pháp luật giữa cha mẹ và con. Như vậy, cơ sở pháp lý  
của quan hệ trên là sự kiện sinh đẻ, mối quan hệ huyết hệ tự nhiên.  
Tuy nhiên, việc xác định cha, mẹ, con về mặt lý luận và thực tiễn áp  
dụng còn có một số trường hợp khá phức tạp. Việc xác định cha mẹ,  
con dựa trên cơ sở suy đoán pháp lý tại điều 63 Luật Hôn nhân và gia  
đình 2000.  
1.1.1. Xác định cha, mẹ cho con trong giá thú  
Luật Hôn nhân và gia đình 2000 quy định phương pháp suy đoán  
pháp lý xác định quan hệ cha mẹ, con tại khoản 1 điều 63 như sau:  
"Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong  
thời kỳ đó là con chung của vợ chồng.  
Con sinh ra trước ngay đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa  
nhận cũng là con chung của vợ chồng".  
Trong thực tế cuộc sống, có những trường hợp khi kết hôn hai  
bên nam nữ đã có quan hệ sinh lý với nhau và người phụ nữ có thai  
73  
nên Luật Hôn nhân gia đình 2000 không quy định giống luật của một  
số nước tư bản: Đứa trẻ sinh ra sau khi hôn nhân chấm dứt (do một  
bên chết trước hoặc ly hôn) là con chung của vợ chồng. Ví dụ, Bộ luật  
dân sự Cộng hòa Pháp quy định “đứa trẻ sinh ra sau thời gian 180  
ngày kể từ khi kết hôn hoặc trong thời hạn 300 ngày kể từ khi hôn  
nhân chấm dứt được xác định là con chung của vợ chồng” (điều 311,  
điều 312).  
Theo quy định tại khoản 1 Điều 63, thì về nguyên tắc trong các  
trường hợp sau đây phải coi là con chung của vợ chồng:  
Một là, con sinh ra sau khi đã tổ chức đăng ký kết hôn cho đến  
trước khi chấm dứt quan hệ hôn nhân do Toà án công nhận hoặc quyết  
định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc của cả hai vợ chồng.  
Hai là, con sinh ra sau khi chấm dứt quan hệ hôn nhân do Toà án  
công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả  
hai vợ chồng, nhưng người vợ đã có thai trong thời kỳ hôn nhân  
(trong thời kỳ từ khi đã tổ chức đăng ký kết hôn cho đến trước khi  
chấm dứt quan hệ hôn nhân). Nghị định 70/2001/NĐ-CP quy định  
“con sinh ra trong vòng 300 ngày kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm  
dứt là con chung của vợ chồng”.  
Ba là, con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn (ngày tổ chức  
đăng ký kết hôn) nhưng được cả vợ và chồng thừa nhận.  
Theo quy định tại khoản 2 Điều 63 và Điều 64, khi có người yêu  
cầu Toà án xác định một người nào đó là con của họ hay không phải là  
con của họ thì phải có chứng cứ; do đó về nguyên tắc người có yêu cầu  
phải cung cấp chứng cứ. Trong trường hợp cần thiết thì phải giám định  
gien. Người có yêu cầu giám định gien phải nộp lệ phí giám định gien.  
Thời kỳ thai nghén là khoảng thời gian phụ nữ mang thai. Thời  
kỳ thai nghén bắt đầu từ khi người phụ nữ thụ thai cho đến khi họ sinh  
đẻ. Y học chứng minh thời kỳ thai nghén tối thiểu là 200 ngày, tối đa  
là 286 ngày. Pháp luật quy định thời kỳ thai nghén tối thiểu là 189  
74  
ngày, tối đa là 300 ngày, xác định thời kỳ thai nghén sẽ xác định thời  
điểm người phụ nữ thụ thai đứa trẻ và có ý nghĩa quan trọng trong  
việc xác định cha cho con kể cả con trong giá thú.  
Do vậy, trong thực tế việc xác định có thai trong thời kỳ hôn  
nhân nhiều trường hợp hết sức khó khăn. Về nguyên tắc trong thời  
hạn 300 ngày (kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân) người vợ sinh con  
thì đứa trẻ đó xác định là con chung của vợ chồng. Đối với trường  
hợp trong thời gian 300 ngày mà người vợ kết hôn với người khác  
thì theo tinh thần điều 63 khoản 1 nếu sau này người vợ sinh con  
được xác định là con của người chồng sau theo nguyên tắc suy đoán  
pháp lý: con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân. Nếu người chồng sau  
không thừa nhận đứa con đó là con mình thi quyền đưa ra các chứng  
cứ chứng minh (khi kết hôn người vợ đã có thai với người chồng  
trước hoặc sự thừa nhận của người vợ qua các chứng cứ khác,...).  
Trường hợp cha mẹ không thừa nhận con, pháp luật quy định:  
"Trong trường hợp cha mẹ không thừa nhận là con thì phải có chứng  
cứ và phải được Tòa án xác định" (khoản 1 điều 63) và "Người không  
được nhận là cha mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định  
người đó là con mình. Người được nhận là cha mẹ một người có thể  
yêu cầu tòa án xác định người đó không phải là con mình".  
Trong thực tế, có trường hợp quan hệ hôn nhân đang tồn tại,  
nhưng một bên chồng nghi ngờ người vợ không chung thủy nên ngoại  
tình và đứa con đó không phải là con mình thì phải đưa các chứng cứ  
chứng minh trước tòa án (có căn cứ khoa học xác định bất lực sinh lý,  
trong thời gian có thể thụ thai người vợ đang đảm nhận trách nhiệm  
đặc biệt liên quan an ninh quốc phòng...) nếu người chồng không  
chứng minh được thì được xác định là con chung của vợ chồng và  
người vợ không có nghĩa vụ chứng minh. Theo quy định tại khoản 2  
Điều 63 và Điều 64, khi có người yêu cầu Toà án xác định một người  
nào đó là con của họ hay không phải là con của họ thì phải có chứng  
cứ; do đó về nguyên tắc người có yêu cầu phải cung cấp chứng cứ.  
75  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 73 trang Thùy Anh 14640 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_luat_hon_nhan_va_gia_dinh_viet_nam_phan_2.pdf