Luật tục hôn nhân của người Mông ở Điện Biên - một số đánh giá và kiến nghị

LUẬT TỤC HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI MÔNG Ở ĐIỆN BIÊN -...  
MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ VÀ KIẾN NGHỊ  
MA THỊ THANH HIẾU*  
Bài viết tập trung giới thiệu một số luật tục trong lĩnh vực hôn nhân của người Mông  
trên địa bàn tỉnh Điện Biên, đặc biệt là quy định phạt vạ “lễ rửa mặt chị gái” khi em gái  
đi lấy chồng trước chị gái hiện vẫn đang được cộng đồng người Mông áp dụng. Trên cơ sở  
đó, tác giả đánh giá và kiến nghị về việc giữ gìn, phát huy những luật tục có giá trị tiến  
bộ, tốt đẹp, loại bỏ những luật tục lạc hậu, phản tiến bộ.  
Từ khóa: Luật tục, luật tục hôn nhân, dân tộc H’Mông, tập quán.  
Ngày nhận bài: 15/11/2020; Biên tập xong: 18/11/2020; Duyệt đăng: 18/11/2020  
The article introduces some marriage customary laws of the Hmong in Dien bien  
province, especially the punishment “elder sister’s face washing” in case younger sister  
gets married before their elderly which is being applied among the Mong community.  
Thereby, the author evaluates and recommends about preserving and promoting  
progressive customary laws, eliminating backward customary laws.  
Keywords: Customary law, marriage customary law, Hmong ethinic group, custom.  
1. Khái quát về người Mông ở Điện của một quá trình phát triển nhất định  
của tộc người, trở thành một thể chế  
quản lý cộng đồng vượt lên phong tục,  
biên và luật tục của người Mông  
Người Mông là dân tộc thiểu số đông  
tập quán, mang tính ràng buộc cao với  
đảo nhất ở Điện Biên với hơn 38% dân số,  
cơ chế thưởng, phạt kèm theo. Bởi thế,  
cư trú ở hầu hết các huyện sát biên giới,  
nhiều nhà nghiên cứu đã đánh giá, luật  
vùng sâu vùng xa của tỉnh, tập trung  
tục là một hình thức sơ khai của pháp  
nhiều nhất ở các huyện Tủa Chùa, Điện  
1
luật [5, tr.32].  
Biên, Điện Biên Đông, Mường Chà, Tuần  
Giáo, Mường Nhé và Nậm Pồ. Dân tộc  
Luật tục của người Mông chưa được  
tìm hiểu, nghiên cứu nhiều như một  
Mông có 5 nhánh Mông trắng (Môngz  
số luật tục người dân tộc Thái, dân tộc  
Đơư), Mông Hoa (Môngz Lênhs), Mông  
Mường nhưng có thể nói, người Mông  
đỏ (Môngz Si), Mông Đen (Môngz Đuz),  
cũng có hệ thống các quy định, quy tắc  
Mông Xanh (Môngz Dua). Bản làng  
ứng xử lâu đời, đa dạng không kém.  
người Mông có khoảng từ 30 đến 80  
Điểm đặc trưng trong luật tục của người  
hộ gia đình các dòng họ: Giàng, Thào,  
Mông là các quy định khá tương tự nhau  
Sùng, Vàng, Vừ, Mùa, Hờ, Li, Lầu, Hạng,  
dù khác địa bàn sinh sống, chênh lệch về  
Chang, Cứ…. cùng chung sống. Cũng  
đời sống kinh tế - xã hội. Giữa các cộng  
giống như một số cộng đồng các dân tộc  
đồng người Mông, chỉ khác biệt một chút  
thiểu số khu vực Tây Bắc, người Mông  
cũng có luật tục riêng của dân tộc mình.  
về phong tục, tập quán như trang phục,  
màu sắc, còn lại thì người Mông trên cả  
Luật tục trong cộng đồng người  
dân tộc thiểu số nói chung, trong cộng  
đồng người Mông nói riêng là kết quả Đại học Thái Nguyên  
* Thạc sĩ, Khoa Luật, trường Đại học Khoa học,  
Số chuyên đề 4 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 58  
MA THỊ THANH HIẾU  
nước về ngôn ngữ, tập quán và luật tục đời. Theo luật tục người Mông, nam nữ  
không có sự khác biệt lớn. Đây là đặc thù cùng họ thì không được lấy nhau dù có  
khiến đi đâu, người Mông cũng có thể dễ  
dàng hiểu nhau, nhận ra nhau và giúp đỡ  
nhau vì cùng là người Mông, là anh em  
một nhà [1].  
cách mấy đời đi chăng nữa. Bên cạnh  
điểm tích cực là tránh được việc kết hôn  
cận huyết, nguyên tắc này cũng có mặt  
tiêu cực là nhiều đôi nam nữ không phải  
họ hàng, anh em nhưng vì cùng họ mà  
không thể lấy nhau, dẫn tới nhiều hệ quả  
đáng tiếc.  
Nội dung luật tục người Mông cũng  
giống luật tục các dân tộc khác, đề cao  
tính cố kết cộng đồng, tính đoàn kết, tình  
cảm gia đình, dòng họ. Trong đó, quan  
hệ hôn nhân gia đình của người Mông  
là một trong những quy định gần gũi và  
thiết thực nhất trong cộng đồng người  
Mông, thể hiện bản sắc văn hóa cũng  
như quan niệm sống của người Mông  
nói chung và người Mông ở Điện Biên  
nói riêng.  
Hai là, luật tục người Mông tôn trọng  
chế độ hôn nhân một vợ, một chồng, vợ  
chồng đã lấy nhau thì phải yêu thương,  
chung thủy cho đến khi chết. Người  
chồng chỉ có quyền lấy vợ lẽ nếu được vợ  
cả đồng ý và vợ cả thuộc một các trường  
hợp như không có con, khuyết tật. Dù đã  
lấy vợ lẽ nhưng người chồng vẫn phải  
yêu thương, chăm sóc vợ cả như trước.  
Trong quan hệ tình yêu cũng như quan  
hệ gia đình, vợ chồng người Mông sống  
rất tình cảm và chung thủy, cùng nhau  
gánh vác trách nhiệm gia đình, chia sẻ  
những khó khăn. Do vậy, việc ly hôn hay  
lấy vợ lẽ trong gia đình người Mông rất  
hiếm khi xảy ra. Qua khảo sát về luật tục  
của người Mông ở Điện Biên, phát hiện  
trong luật tục có quy định về tục nối  
dây: nếu chồng chết thì vợ có thể lấy anh  
chồng hoặc em chồng chưa vợ; vợ chết  
thì chồng có thể lấy em vợ hoặc chị vợ  
chưa chồng, nhưng điều kiện tiên quyết  
là cả hai bên đều phải đồng ý lấy nhau.  
Quy định này xuất hiện rải rác ở một số  
cộng đồng người Mông vùng biên giới.  
2. Một số quy định luật tục về hôn  
nhân và phạt vạ “rửa mặt chị gái” của  
người Mông  
Theo truyền thuyết, tất cả người Mông  
là anh em, do chiến tranh loạn lạc mà mỗi  
người phải đi một phương nhưng họ vẫn  
có mối dây huyết thống gần gũi. Chính  
vì vậy, xét về tổ chức cộng đồng của  
người Mông, khi người Mông gặp nhau,  
câu hỏi đầu tiên là mang họ gì. Nếu đã là  
người cùng mang tên họ giống nhau thì  
nam, nữ cấm tuyệt đối không được lấy  
nhau. Họ đều coi là có chung tổ tiên, coi  
nhau như anh em ruột thịt cùng họ hàng,  
có thể sinh con hoặc chết ở nhà người  
cùng họ, lúc nguy nan phải cưu mang,  
giúp đỡ lẫn nhau. Từng dòng họ có thể  
cư trú quây quần thành một cụm, trưởng  
họ là người có uy tín, đảm nhiệm công  
việc trong dòng họ. Trưởng họ cũng là  
người am hiểu luật tục và có vai trò quan  
trọng khi tổ chức lễ cúng ma, kết hôn cho  
đôi nam nữ. Qua khảo cứu luật tục của  
người Mông ở Điện Biên cho thấy có một  
số những nguyên tắc đặc trưng như:  
Ba là, quy định phạt vạ trong hôn  
nhân. Luật tục của người Mông còn có  
một quy định khá đặc biệt, gọi là “phạt  
rửa mặt chị gái” (tiếng Mông gọi là  
“qwv niam laus hauv caug”). Nội dung  
của quy định này là nếu trong gia đình  
có hai chị em gái mà người em gái lấy  
chồng trước chị gái thì sẽ phải phạt vạ.  
Một là, người Mông cùng họ thì không Lý giải về việc này, đồng bào cho rằng  
được kết hôn với nhau, dù cách nhiều chị em trong nhà có thứ tự trước sau, em  
Số chuyên đề 4 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 59  
LUẬT TỤC HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI MÔNG Ở ĐIỆN bIÊN -...  
thì phải tôn trọng chị, chị gái lấy chồng  
trước em là điều đương nhiên, mà em lại  
đi lấy chồng trước chị là “đổ vết bẩn” lên  
mặt chị gái (tương tự quan niệm “mất  
duyên” của người Kinh). Vì vậy, việc  
làm lễ “rửa mặt” cho chị gái là cần thiết  
để chị gái không xấu hổ, ngại ngùng với  
họ hàng, bạn bè, bà con trong làng. Tuy  
nhiên, việc phạt vạ trong trường hợp này  
không phải do người em gái chịu, mà do  
nhà trai phải trả và được quy định các  
bước như:  
3. Một số đánh giá và kiến nghị  
Qua tìm hiểu, nghiên cứu quy định về  
hôn nhân trong luật tục của người Mông  
cho thấy có khác nhiều điểm tiến bộ như:  
quan hệ hôn nhân một vợ, một chồng;  
mọi người trong gia đình đều có trách  
nhiệm lao động, cùng chia sẻ khó khăn;  
tôn trọng người già, kính trọng cha mẹ,  
yêu thương chia sẻ giữa những người  
trong gia đình. Đây là những giá trị tốt  
đẹp trong luật tục người Mông cần được  
tìm hiểu, vận dụng và phát huy trong  
- Khi nhà trai đến hỏi cưới em gái, cộng đồng. Tuy nhiên, bên cạnh những  
nhà gái phải nói rõ việc em gái lấy chồng mặt tiến bộ, luật tục người Mông cũng có  
trước chị sẽ phải chịu phạt. Nếu nhà trai một số hạn chế như:  
đồng ý, các thủ tục tiến hành kết hôn với  
em gái mới được tiến hành.  
Luật tục người Mông quy định độ tuổi  
kết hôn của nam và nữ thường là 13, 14  
- Trong lễ cưới em gái, nhà trai phải tuổi là độ tuổi thấp hơn rất nhiều so với  
mang đến một phần lễ vật đã thỏa thuận quy định của Luật Hôn nhân và gia đình  
với nhà gái để làm “lễ rửa mặt” cho chị hiện hành. Đây cũng là một trong những  
gái. Hình phạt thường là rượu, thịt (30 bát nguyên nhân mà tình trạng tảo hôn trong  
rượu, 30 cân thịt cho một người chị gái) cộng đồng người Mông ở Điện Biên vẫn  
hoặc nếu là tiền thì khoảng 1 triệu đồng. khá cao so với các dân tộc khác [4, tr.3].  
Rượu, thịt được làm lễ sau đó mang ra  
làm cơm mời anh em họ hàng ăn, nếu là  
tiền thì đưa cho chị gái giữ. Ăn xong bữa  
cơm thì “lễ rửa mặt chị gái” hoàn thành,  
danh dự của chị gái giữ được và vẫn  
được mọi người tôn trọng như cũ.  
Luật tục người Mông cho phép người  
chồng có thể lấy vợ lẽ trong một số  
trường hợp, quy định này mâu thuẫn với  
nguyên tắc một vợ - một chồng của Luật  
Hôn nhân và gia đình. Việc người vợ bị  
khuyết tật, không sinh được con không  
- Luật tục người Mông cũng quy định phải là những nguyên nhân khiến người  
nhà gái không được đòi “lễ rửa mặt chị phụ nữ phải từ bỏ gia đình, chia sẻ hạnh  
gái” một cách tham lam, hay cố tình làm phúc của mình với người khác.  
khó nhằm ngăn cản đôi nam, nữ yêu  
thương nhau đến với nhau.  
Về quy định liên quan đến “lễ rửa  
mặt chị gái” và việc kết hôn giữa những  
Bốn là, về mối quan hệ giữa các thành người Mông cùng họ: Theo quy định tại  
viên trong gia đình, luật tục của người Nghị định số 126/2014/NĐ-CP về Danh  
Mông cũng quy định về nghĩa vụ kính mục Các tập quán lạc hậu về hôn nhân  
trọng cha mẹ, người già, vợ chồng tôn gia đình cần vận động xóa bỏ và cấm áp  
trọng nhau, phát huy truyền thống đạo dụng, các tập quán liệt kê bao gồm: “Kết  
đức tốt đẹp của dân tộc; quy định quyền, hôn trước tuổi quy định của Luật Hôn nhân  
nghĩa vụ cụ thể của các thành viên trong và gia đình (hiện nay là nam đủ 20 tuổi và nữ  
gia đình; quy định rõ trách nhiệm của đủ 18 tuổi); Việc đăng ký kết hôn không do cơ  
cha mẹ, trách nhiệm của con cái trong gia quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện (có  
đình…  
thể do trưởng bản, già làng hoặc các vị chức  
60 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 4 - 2020  
MA THỊ THANH HIẾU  
sắc tôn giáo giải quyết); cấm kết hôn giữa nhà nước phải đóng một vai trò tích cực  
những người có họ trong phạm vi 4 đời trở trong hạn chế, thay đổi suy nghĩ, quan  
lên; …Quy định hôn nhân theo hình thức nối niệm của người dân, tiến tới xóa bỏ dần  
dây”. Từ những quy định được liệt kê trên  
đây, việc cấm kết hôn giữa người Mông  
cùng họ là quy định luật tục đã lạc hậu,  
không còn phù hợp. Trên thực tế trong  
một số cộng đồng nhỏ, người Mông cùng  
họ đã có trường hợp lấy nhau, nhưng  
phải là khác chi và cũng không hề được  
khuyến khích làm điều đó. Hoặc trường  
hợp hôn nhân theo hình thức “nối dây”  
tuy không phổ biến nhưng vẫn tồn tại  
trên thực tiễn. Điều này dẫn tới khó khăn  
trong việc xác định mối quan hệ trong  
gia đình, không phù hợp với văn hóa  
người Việt. Tuy quy định của luật tục là  
việc nối dây phải nhận được sự đồng ý  
của đôi bên nhưng thực chất việc kết hôn  
này chưa đảm bảo được các quy định của  
pháp luật hôn nhân gia đình hiện hành  
về ý chí, tự nguyện và tình yêu giữa hai  
bên nam nữ để dẫn tới hôn nhân.  
Quy định về phạt vạ “rửa mặt chị gái”  
tuy chưa có quy định trong danh mục của  
Nghị định số 126/2014/NĐ-CP, nhưng  
cũng có thể đánh giá là không còn phù  
hợp, cản trở hôn nhân tiến bộ, bởi nếu nhà  
trai không đồng ý trả lễ này thì cũng không  
được cưới em gái. Đây là những quy định  
rất cần được nghiên cứu, đánh giá để hạn  
chế, đi đến loại bỏ trong thời gian tới.  
những luật tục lạc hậu đó.  
Một trong những phương pháp được  
đánh giá là hiệu quả trong việc vừa tuyên  
truyền những điểm tiến bộ của pháp luật,  
vừa thúc đẩy việc loại bỏ những luật tục  
lạc hậu là sử dụng mô hình tự quản cộng  
đồng trong các thôn bản người Mông ở  
Điện Biên. Trong các thôn bản, mô hình  
Già làng, Trưởng bản người Mông được  
thiết lập lại trên cơ sở chính luật tục của  
người Mông, đây là những người vừa có  
uy tín, kinh nghiệm trong cộng đồng, vừa  
am hiểu luật tục và được bổ sung kiến  
thức pháp luật. Già làng, Trưởng bản  
sẽ đóng vai trò vận động, thuyết phục  
người dân áp dụng nếp sống, suy nghĩ  
mới đúng quy định của pháp luật, không  
áp dụng các luật tục lạc hậu, phản tiến  
bộ. Nhờ am hiểu tập quán, ngôn ngữ của  
đồng bào, lại có uy tín trong cộng đồng  
mà những lời khuyên bảo, vận động của  
Già làng, Trưởng bản thuyết phục được  
người dân làm theo, về lâu dài sẽ điều  
chỉnh dần suy nghĩ, quan niệm và cách  
ứng xử theo luật tục của đồng bào.  
Thứ hai, chính quyền địa phương, nhất  
là chính quyền cấp xã cần tích cực trong  
vận động, tuyên truyền, giáo dục pháp  
luật, nâng cao dân trí và cả đời sống kinh  
tế cho đồng bào. Người Mông vẫn là một  
trong những cộng đồng dân tộc thiểu số  
có mức sống thấp với tỷ lệ hộ nghèo, cận  
nghèo cao so với các dân tộc khác. Mặt  
khác, địa bàn sinh sống của người Mông  
thường ở vùng núi cao, vùng sâu, vùng  
xa của tỉnh Điện Biên nên đời sống kinh  
tế rất khó khăn, giao thông không thuận  
tiện. Những yếu tố này đã cản trở việc  
Trên cơ sở những đánh giá mặt tích  
cực, hạn chế trong luật tục về hôn nhân  
của người Mông ở Điện Biên, tác giả đề  
xuất một số kiến nghị như sau:  
Thứ nhất, việc loại bỏ ngay lập tức các  
quy định luật tục lạc hậu, phản tiến bộ  
của người Mông là không thể bởi các luật  
tục này đã ăn sâu, bén rễ vào đời sống,  
suy nghĩ và cách ứng xử hàng ngày của  
người Mông. Chính vì vậy, để thay đổi giao lưu văn hóa, kinh tế của đồng bào,  
cần có những giải pháp đồng bộ mang làm những luật tục lạc hậu có môi trường  
tính lâu dài mà trong đó, pháp luật của tồn tại và phát triển. Việc nâng cao dân  
Số chuyên đề 4 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 61  
LUẬT TỤC HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI MÔNG Ở ĐIỆN bIÊN -...  
trí, đời sống của người Mông là rất quan diện về luật tục của người Mông, chúng  
trọng trong việc thay đổi suy nghĩ, quan ta mới có cơ chế chọn lọc, chỉnh hợp để  
niệm của luật tục đã ăn sâu vào đời sống hình thành những luật tục mới, là cơ sở  
của họ. Muốn vậy, cán bộ xã cần sâu sát, đề xuất luật tục chính thức được thừa  
đồng thời có những biện pháp linh hoạt, nhận như một hình thức biểu hiện của  
đa dạng trong tuyên truyền, vận động tập quán trong đời sống đồng bào.  
người Mông thay đổi phương thức sản  
xuất, thanh niên học tập, nâng cao dân  
trí. Chỉ khi đời sống tốt lên thì mới có  
thể thay đổi được suy nghĩ, cách ứng xử  
truyền thống của đồng bào, bởi khi nhìn  
thấy những cái tốt, lợi ích do nhà nước,  
pháp luật mang lại, đồng bào mới tin  
tưởng mà làm theo.  
Thứ ba, cần nghiên cứu một cách có hệ  
thống, toàn diện hơn về luật tục người  
Mông, chọn lọc những quy định tốt đẹp,  
tiến bộ để phát huy, loại bỏ những quy  
định không còn phù hợp.  
Hiện nay, pháp luật đã thừa nhận việc  
áp dụng tập quán, án lệ trong các quan  
hệ pháp luật dân sự, nhưng việc nghiên  
cứu, thống kê những tập quán tốt đẹp  
có thể thừa nhận và áp dụng trong các  
cộng đồng dân tộc thiểu số như người  
Mông là chưa có. Kinh nghiệm của nhiều  
quốc gia đã có cơ chế công nhận luật tục  
như Malaysia, Australia cho thấy, khi có  
những quy định rõ ràng về các tập quán,  
luật tục được thừa nhận và áp dụng thì  
việc giải quyết các tranh chấp phát sinh  
liên quan đến người dân tộc thiểu số sẽ  
đơn giản và hiệu quả hơn. Cơ chế công  
nhận luật tục phù hợp thông qua Tòa  
án hoặc một văn bản luật chính thức sẽ  
là cơ sở vững chắc nhất, vừa phát huy  
được những luật tục có giá trị, phù hợp  
với pháp luật, vừa giữ gìn được những  
đặc trưng văn hóa truyền thống của cộng  
đồng thiểu số. Đây cũng là quyền văn  
hóa của người dân tộc thiểu số đã được  
các Công ước quốc tế thừa nhận, kêu gọi  
Tóm lại, dân tộc Mông là một trong  
những cộng đồng dân tộc truyền thống  
có nhiều nét văn hóa đặc trưng, được giữ  
gìn lâu đời nhất tại Điện Biên. Cùng với  
sự phát triển chung của đất nước, đời  
sống kinh tế - xã hội của đồng bào dân  
tộc Mông ngày càng đi lên. Tuy nhiên,  
bên cạnh những sự thay đổi mang tính  
chất tích cực, vẫn còn những quy định  
trong luật tục người Mông mang tính  
chất lạc hậu, kìm hãm sự phát triển,  
nhất là những quan hệ hôn nhân gia  
đình. Trong thời gian tới, các cơ quan  
nhà nước cần có giải pháp căn cơ, đồng  
bộ, sử dụng pháp luật như một trong  
những công cụ hữu hiệu nhất để thúc  
đẩy việc hạn chế, loại bỏ những luật tục  
lạc hậu, vừa giữ gìn được những phong  
tục, tập quán đặc sắc của người Mông,  
vừa đảm bảo được các quyền của cộng  
đồng dân tộc thiểu số trong cộng đồng  
các dân tộc Việt Nam./.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Đỗ Quang Khải (2015), Nét văn hóa của  
đồng bào dân tộc Mông ở tỉnh Điện Biên, Báo Điện  
Biên 02/2015.  
2. Nghị định số 126/2014/NĐ-CP về Danh  
mục Các tập quán lạc hậu về hôn nhân gia đình  
cần vận động xóa bỏ và cấm áp dụng.  
3. Quốc hội, Luật Hôn nhân và gia đình  
năm 2014.  
4. Ủy ban dân tộc (2019), Báo cáo kết quả  
điều tra dân số, kinh tế - xã hội của các dân tộc  
thiểu số ở Việt Nam năm 2019.  
5. Ngô Đức Thịnh (2009), Luật tục các dân  
các quốc gia công nhận. Thông qua các tộc thiểu số Việt Nam, NXB Văn hóa thông tin,  
nghiên cứu mang tính hệ thống, toàn Hà Nội.  
62 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 4 - 2020  
pdf 5 trang Thùy Anh 14420 Free
Bạn đang xem tài liệu "Luật tục hôn nhân của người Mông ở Điện Biên - một số đánh giá và kiến nghị", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluat_tuc_hon_nhan_cua_nguoi_mong_o_dien_bien_mot_so_danh_gia.pdf