Pháp luật về tình trạng khẩn cấp của Liên Bang Nga và những gợi mở cho Việt Nam

KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
PHÁP LUẬT VỀ TÌNH TRẠNG KHẨN CẤP CỦA LIÊN BANG NGA  
VÀ NHỮNG GỢI MỞ CHO VIỆT NAM  
Cao Vũ Minh*  
* TS. Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh  
Tóm tắt:  
Thông tin bài viết:  
Tình trạng khẩn cấp là trạng thái xã hội đang lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng  
do nhiều nguyên nhân tác động, đe dọa sự sống còn của quốc gia. Việc tuyên  
bố tình trạng khẩn cấp có khả năng làm gia tăng quyền lực cho các cơ quan nhà  
nước. Tương ứng với sự gia tăng quyền lực nhà nước là sự hạn chế quyền và lợi  
ích của con người, của công dân. Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích  
pháp luật về tình trạng khẩn cấp của Liên bang Nga và đưa ra các gợi mở cho  
Việt Nam trong việc hoàn thiện pháp luật về tình trạng khẩn cấp ở Việt Nam.  
Từ khóa: Tình trạng khẩn cấp,  
pháp luật về tình trạng khẩn cấp,  
Liên bang Nga.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 17/3/2021  
: 16/4/2021  
: 18/4/2021  
Abstract:  
Article Infomation:  
A state of emergency is a state in which the state is in serious crisis due to different  
causes that provide affects threats to the national survival. The declaration of a  
state of emergency is likely to increase the power of state agencies. Corresponding  
to the increase of state power is the restriction of rights and interests of inhabitants.  
This article provides an analysis of the state of emergency law of the Russian  
Federation, and suggests experiences of Vietnam.  
Keywords: State of emergency;  
legal regulations on state of  
emergency; the Russian Federation.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 17 Mar. 2021  
: 16 Apr. 2021  
: 18 Apr. 2021  
Approved  
kiện bình thường1. Nói cách khác, tình trạng  
khẩn cấp là tình huống mà chính quyền, vì  
lợi ích chung, có thể ban hành những chính  
sách hoặc thực hiện những hành động mà  
thông thường không được áp dụng.  
1. Pháp luật về tình trạng khẩn cấp của  
Liên bang Nga  
1.1. Cơ sở pháp lý ban hành tình trạng  
khẩn cấp  
“Tình trạng khẩn cấp” (state of  
emergency) là trạng thái xã hội, do nhiều  
nguyên nhân tác động, lâm vào khủng  
hoảng nghiêm trọng đe dọa sự sống còn của  
quốc gia. Do đó, nhằm bảo vệ đất nước; bảo  
đảm lợi ích công cộng; bảo vệ tính mạng,  
tài sản của cá nhân, tổ chức, các cơ quan có  
thẩm quyền thiết lập những biện pháp, quy  
tắc đặc biệt không được áp dụng trong điều  
Tại Liên bang Nga, tình trạng khẩn cấp  
chỉ được áp dụng theo những quy định được  
ghi nhận trong Hiến pháp Liên bang Nga  
năm 1993 và Luật Tình trạng khẩn cấp Liên  
bang Nga năm 2001 đã được sửa đổi, bổ  
sung năm 2005 (Luật Tình trạng khẩn cấp  
năm 2001). Điều 1 Luật Tình trạng khẩn  
cấp năm 2001 quy định: “Tình trạng khẩn  
1
Oren Gross - Fionnuala Ní Aoláin, Law in Times of Crisis: Emergency powers in theory and practice,  
Cambridge University Press, 2006, p. 249.  
46  
Số 10(434) - T5/2021  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
cấp là một chế độ pháp lý đặc biệt …, được  
áp dụng trên toàn lãnh thổ Liên bang Nga  
hoặc ở địa phương, cho phép hạn chế đối  
với các quyền, tự do của công dân Liên  
bang Nga, người nước ngoài, người không  
có quốc tịch, quyền của các tổ chức xã hội,  
hiệp hội, hoặc đặt ra những nghĩa vụ bổ  
sung cho các chủ thể này”. Như vậy, cơ sở  
pháp lý của việc ban hành tình trạng khẩn  
cấp ở Liên bang Nga là Hiến pháp và Luật  
Tình trạng khẩn cấp.  
nguyên nhân từ sự biến - tức là những hiện  
tượng của đời sống khách quan xảy ra mà  
không phụ thuộc vào ý chí của con người  
như thiên tai, dịch bệnh…3.  
1.3. Thủ tục ban hành tình trạng khẩn cấp  
Theo quy định của Luật Tình trạng khẩn  
cấp năm 2001, khi có những tình huống đã  
được dự liệu phát sinh trên thực tế, Tổng  
thống Liên bang Nga sẽ ban hành sắc lệnh  
về tình trạng khẩn cấp (Điều 5). Sắc lệnh  
của Tổng thống Liên bang Nga về việc ban  
hành tình trạng khẩn cấp sẽ được báo cáo  
cho Hội đồng Liên bang (Thượng viện) và  
Duma Quốc gia (Hạ viện), và công bố ngay  
lập tức qua các kênh phát thanh, truyền  
hình, báo chí (Điều 6). Khi nhận được báo  
cáo của Tổng thống về việc ban bố tình  
trạng khẩn cấp, hai viện của Quốc hội liên  
bang sẽ cho ý kiến, nhưng quyết định cuối  
cùng về việc phê chuẩn sắc lệnh này thuộc  
về Hội đồng Liên bang4.  
1.2. Phân định tình trạng khẩn cấp  
Theo quy định của Điều 3 Luật Tình  
trạng khẩn cấp năm 2001, tình trạng khẩn  
cấp chỉ được ban hành trong trường hợp đe  
dọa trực tiếp đến tính mạng và an ninh của  
công dân, của con người hoặc nền tảng của  
chế độ hiến định Liên bang Nga. Pháp luật  
Liên bang Nga quy định hai trường hợp dẫn  
đến tình trạng khẩn cấp là: (i) Cưỡng ép  
bằng vũ trang, khủng bố, bạo loạn để thay  
đổi chế độ hiến định Liên bang Nga hoặc  
các hành vi bạo lực đe dọa trực tiếp đến tính  
mạng và an ninh của công dân, hoạt động  
bình thường của các cơ quan nhà nước; (ii)  
Tình trạng khẩn cấp do hiện tượng thiên  
nhiên nguy hiểm, thiên tai, dịch bệnh hoặc  
các thảm họa khác kéo theo gây thiệt hại đối  
với con người2.  
Trong thời hạn không quá 72 giờ kể từ  
khi công bố sắc lệnh của Tổng thống Liên  
bang Nga về việc ban hành tình trạng khẩn  
cấp, Hội đồng Liên bang sẽ xem xét vấn đề  
phê chuẩn sắc lệnh. Trong trường hợp sắc  
lệnh của Tổng thống Liên bang Nga không  
được Hội đồng Liên bang thông qua, sắc  
lệnh sẽ hết hiệu lực sau 72 giờ kể từ thời  
điểm ban hành (Điều 7). Như vậy, quy định  
về thẩm quyền của Tổng thống Liên bang  
Nga ban hành tình trạng khẩn cấp là nhằm  
bảo đảm tính nhanh chóng, kịp thời ứng phó  
với tình trạng khẩn cấp; trong khi đó, sự phê  
chuẩn của Hội đồng Liên bang là nhằm bảo  
đảm cho tính cẩn trọng khi ban hành và áp  
dụng tình trạng khẩn cấp.  
Nếu căn cứ vào nội dung và nguyên nhân  
phát sinh thì trường hợp (i) được xem là  
tình trạng khẩn cấp về an ninh, quốc phòng.  
Đây là tình trạng khẩn cấp có nguyên nhân  
từ ý chí, hành vi của con người. Trong khi  
đó, trường hợp (ii) được xem là tình trạng  
khẩn cấp về thiên tai, dịch bệnh, rủi ro  
công nghệ... Đây là tình trạng khẩn cấp có  
2 Article 3 Federal Constitutional Law on State of Emergency (2001 as amended 2005).  
3
Nguyễn Cửu Việt (chủ biên), Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb. Đại học quốc gia  
Hà Nội, 2003, tr. 385.  
4 Mai Văn Thắng, “Mô hình phân quyền ở Liên bang Nga (Kỳ I)”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 13, năm 2012.  
Số 10(434) - T5/2021  
47  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
1.4. Phạm vi, nội dung và thời hạn áp  
dụng tình trạng khẩn cấp  
lãnh thổ; b) Tăng cường trật tự, an ninh; c)  
Hạn chế đối với các loại hoạt động kinh tế  
và tài chính riêng lẻ; d) Thiết lập một quy  
trình đặc biệt để mua bán, phân phối các sản  
phẩm thực phẩm và các vật dụng cần thiết  
hàng ngày; e) Cấm hoặc hạn chế các cuộc  
mít tinh, biểu tình, tuần hành, dã ngoại…;  
f) Cấm đình công; g) Hạn chế giao thông và  
việc kiểm tra các phương tiện giao thông;  
h) Đình chỉ hoạt động của các cơ sở sản  
xuất nguy hiểm và hoạt động của các tổ  
chức sử dụng chất nổ, chất phóng xạ, hóa  
học và sinh học nguy hiểm; j) Di dời các  
giá trị vật chất và văn hóa đến các khu vực  
an toàn hơn.  
Theo Luật Tình trạng khẩn cấp năm  
2001, tình trạng khẩn cấp có thể được áp  
dụng trên phạm vi toàn lãnh thổ Liên bang  
Nga hoặc trong từng địa phương cụ thể. Sắc  
lệnh của Tổng thống Liên bang Nga về việc  
ban hành tình trạng khẩn cấp gồm những  
nội dung sau: a) Các tình huống làm cơ sở  
cho việc ban hành tình trạng khẩn cấp; b)  
Các lập luận để biện minh cho việc đưa ra  
tình trạng khẩn cấp; c) Phạm vi biên giới  
lãnh thổ áp dụng tình trạng khẩn cấp; d)  
Lực lượng và phương tiện bảo đảm chế độ  
trong tình trạng khẩn cấp; e) Danh mục các  
biện pháp được áp dụng trong tình trạng  
khẩn cấp; f) Các cơ quan nhà nước chịu  
trách nhiệm thi hành; g) Thời gian có hiệu  
lực của tình trạng khẩn cấp.  
Ngoài các biện pháp chung nêu trên,  
pháp luật Liên bang Nga còn quy định các  
biện pháp đặc thù áp dụng trong tình trạng  
khẩn cấp về an ninh, quốc phòng hoặc tình  
trạng khẩn cấp về thiên tai, dịch bệnh, rủi ro  
công nghệ. Nói cách khác, có những biện  
pháp chỉ áp dụng đặc thù trong tình trạng  
khẩn cấp về an ninh, quốc phòng mà không  
thể áp dụng cho tình trạng khẩn cấp về thiên  
tai, dịch bệnh, rủi ro công nghệ. Ngược lại,  
có những biện pháp chỉ áp dụng riêng khi  
xảy ra tình trạng khẩn cấp về thiên tai, dịch  
bệnh, rủi ro công nghệ mà không đồng thời  
áp dụng cho tình trạng khẩn cấp về an ninh,  
quốc phòng. Đơn cử, có những biện pháp  
được áp dụng đặc thù trong tình trạng khẩn  
cấp về an ninh, quốc phòng như: a) Ra lệnh  
giới nghiêm; b) Đình chỉ hoạt động của các  
đảng phái chính trị và các hiệp hội xã hội  
khác; c) Hạn chế hoặc cấm buôn bán vũ  
khí, đạn dược, chất nổ, chất độc; d) Trục  
xuất đối với những người vi phạm chế độ  
tình trạng khẩn cấp mà không phải là công  
dân Liên bang Nga… Ngược lại, có những  
biện pháp được áp dụng đặc thù trong tình  
trạng khẩn cấp về thiên tai, dịch bệnh,  
Thời hạn áp dụng tình trạng khẩn cấp  
trên toàn lãnh thổ Liên bang Nga không  
được vượt quá 30 ngày; thời hạn áp dụng  
tình trạng khẩn cấp trong từng địa phương  
là không vượt quá 60 ngày. Nếu các nguyên  
nhân gây ra tình trạng khẩn cấp được loại  
bỏ trước ngày kết thúc thời hạn có hiệu lực,  
Tổng thống Liên bang Nga sẽ hủy bỏ tình  
trạng khẩn cấp toàn bộ hoặc một phần. Khi  
hết thời hạn nêu trên, tình trạng khẩn cấp  
được coi như chấm dứt. Trong trường hợp  
nguyên nhân gây ra tình trạng khẩn cấp  
chưa được loại trừ, Tổng thống Liên bang  
Nga có thể ban hành sắc lệnh gia hạn thời  
gian áp dụng tình trạng khẩn cấp.  
1.5. Các biện pháp đặc biệt áp dụng  
trong tình trạng khẩn cấp  
Luật Tình trạng khẩn cấp Liên bang Nga  
quy định các biện pháp chung được áp dụng  
trong tình trạng khẩn cấp bao gồm: a) Hạn  
chế quyền tự do đi lại, tự do cư trú trên toàn  
48  
Số 10(434) - T5/2021  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
rủi ro công nghệ như: a) Bắt buộc cư dân  
định cư tạm thời tại những khu vực an toàn  
hơn; b) Thực hiện kiểm dịch, thực hiện các  
hoạt động vệ sinh, chống dịch bệnh; c) Sử  
dụng dự trữ vật chất của chính phủ; d) Huy  
động các nguồn lực của các tổ chức…  
quy định trong các văn bản khác ngoài luật  
như pháp lệnh, nghị quyết, nghị định... Do  
đó, việc duy trì Pháp lệnh Tình trạng khẩn  
cấp năm 2000 với nhiều quy định hạn chế  
quyền con người, quyền công dân là không  
phù hợp với nguyên tắc pháp quyền5. Trên  
cơ sở kinh nghiệm lập pháp của Liên bang  
Nga, tác giả cho rằng, cần nghiên cứu và  
sớm ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp  
để thay thế cho Pháp lệnh Tình trạng khẩn  
cấp năm 2000.  
2. Các gợi mở cho Việt Nam trong việc  
hoàn thiện pháp luật về tình trạng  
khẩn cấp  
2.1. Gợi mở về cơ sở pháp lý điều chỉnh  
vấn đề tình trạng khẩn cấp  
2.2. Gợi mở về phân định tình trạng  
khẩn cấp  
Hiện nay, ở Việt Nam, tình trạng khẩn  
cấp được điều chỉnh trong rất nhiều văn  
bản khác nhau như: Pháp lệnh Tình trạng  
khẩn cấp năm 2000, Luật An ninh quốc gia  
năm 2004, Luật Phòng, chống thiên tai năm  
2013, Luật Quốc phòng năm 2018. Trong  
đó, Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp năm  
2000 là văn bản cụ thể nhất quy định về tình  
trạng khẩn cấp.  
Hiện nay, pháp luật Việt Nam chia tình  
trạng khẩn cấp thành 05 dạng: i) tình trạng  
khẩn cấp về quốc phòng; ii) tình trạng khẩn  
cấp về an ninh quốc gia; iii) tình trạng khẩn  
cấp về thiên tai; iv) tình trạng khẩn cấp về  
thảm họa; v) tình trạng khẩn cấp về dịch  
bệnh6. So với pháp luật về tình trạng khẩn  
cấp của Liên bang Nga thì phân định tình  
trạng khẩn cấp của Việt Nam đa dạng hơn.  
Tuy nhiên, sự đa dạng này vẫn chưa khoa  
học vì còn tồn tại nhiều mâu thuẫn, chồng  
lắp. Ví dụ, Luật Quốc phòng năm 2018  
không chỉ quy định tình trạng khẩn cấp về  
quốc phòng mà còn điều chỉnh cả tình trạng  
khẩn cấp về thảm họa với tính chất là hệ  
quả của tình trạng khẩn cấp về quốc phòng.  
Điều này đã tạo ra sự chồng chéo xoay  
quanh việc áp dụng các biện pháp ứng phó  
được quy định trong Pháp lệnh Tình trạng  
khẩn cấp năm 2000 với Luật Quốc phòng  
năm 2018.  
Theo khoản 13 Điều 70 Hiến pháp năm  
2013, Quốc hội quy định về tình trạng khẩn  
cấp. Khi tình trạng khẩn cấp được công bố,  
các cơ quan nhà nước có thể hạn chế một  
số quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân,  
tổ chức. Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm  
2013 quy định: “quyền con người, quyền  
công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy  
định của luật trong trường hợp cần thiết vì  
lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự,  
an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe  
của cộng đồng”. Quy định trên cho thấy  
hình thức pháp lý của việc hạn chế quyền  
con người, quyền công dân là văn bản  
luật do Quốc hội ban hành. Theo tác giả,  
điều đó có nghĩa việc hạn chế quyền con  
người, quyền công dân không thể được  
Mỗi loại tình trạng khẩn cấp khác nhau  
sẽ có nguyên nhân làm phát sinh khác  
nhau. Pháp luật Liên bang Nga cũng thừa  
5 Đỗ Đức Minh, “Khái niệm, nội dung của nguyên tắc pháp quyền”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 6, năm 2018.  
6 Cao Vũ Minh, “Thẩm quyền của các cơ quan nhà nước trong tình trạng khẩn cấp và những vấn đề cần hoàn  
thiện”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 02, năm 2021.  
Số 10(434) - T5/2021  
49  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
2.3. Gợi mở về thủ tục ban hành tình  
trạng khẩn cấp  
nhận điều này và quy định hai trường hợp  
làm phát sinh tình trạng khẩn cấp. Theo  
tác giả, việc xác định nguyên nhân làm  
phát sinh tình trạng khẩn cấp để phân chia  
trường hợp và áp dụng các biện pháp đặc  
thù ứng phó là điều cần thiết. Do đó, Luật  
Tình trạng khẩn cấp cần phân định tình  
trạng khẩn cấp thành các loại sau: i) tình  
trạng khẩn cấp về an ninh, quốc phòng, ii)  
tình trạng khẩn cấp về thiên tai, dịch bệnh,  
rủi ro công nghệ. Bên cạnh đó, Hiến pháp  
năm 2013 chỉ quy định 06 trường hợp có  
thể hạn chế quyền con người, quyền công  
dân là: i) quốc phòng; ii) an ninh quốc  
gia; iii) trật tự; iv) an toàn xã hội; v) đạo  
đức xã hội; vi) sức khỏe của cộng đồng7.  
Việc Hiến pháp ghi nhận các trường hợp  
hạn chế quyền con người, quyền công dân  
không phải là tạo điều kiện cho các cơ  
quan nhà nước hạn chế quyền con người  
mà để nhằm kiểm soát hành vi lạm quyền  
của cơ quan nhà nước trong hạn chế quyền  
con người, quyền công dân8. Do đó, việc  
phân định thành hai trường hợp tình trạng  
khẩn cấp như đề xuất ở trên sẽ tạo điều  
kiện thuận lợi cho việc tìm kiếm nguyên  
nhân trả lời cho câu hỏi hạn chế quyền con  
người, quyền công dân. Cụ thể, tình trạng  
khẩn cấp về an ninh, quốc phòng có thể  
là nguyên nhân hạn chế quyền con người,  
quyền công dân vì liên quan đến quốc  
phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã  
hội; tình trạng khẩn cấp về thiên tai, dịch  
bệnh, rủi ro công nghệ có thể là nguyên  
nhân hạn chế quyền con người, quyền  
công dân vì liên quan đến sức khỏe của  
cộng đồng.  
Theo quy định của khoản 10 Điều 74  
Hiến pháp năm 2013, Ủy ban thường vụ  
Quốc hội (UBTVQH) có thẩm quyền ban  
bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp. Trên cơ sở  
nghị quyết của UBTVQH Quốc hội, Chủ  
tịch nước sẽ ban hành văn bản quy phạm  
pháp luật để công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn  
cấp. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác  
nhau, UBTVQH có thể không kịp thời ban  
bố tình trạng khẩn cấp. Điều này làm cho  
khả năng ứng phó của đất nước trở nên  
chậm chạp. Dự liệu được khả năng trên,  
Hiến pháp năm 2013 quy định, Chủ tịch  
nước có quyền “công bố, bãi bỏ tình trạng  
khẩn cấp trong cả nước hoꢀc ở từng địa  
phương trong trường hợp UBTVQH không  
thể họp được”.  
Khi UBTVQH ban bố hoặc Chủ tịch  
nước công bố tình trạng khẩn cấp (trong  
trường hợp UBTVQH không thể họp  
được) thì không cần báo cáo hay trình  
bất kỳ một chủ thể nào khác phê chuẩn.  
Điều này có phần khác biệt so với quy  
định về thẩm quyền ban hành tình trạng  
khẩn cấp của Tổng thống Liên bang Nga  
vì sắc lệnh của Tổng thống Liên bang  
Nga phải được trình lên Hội đồng Liên  
bang để phê duyệt.  
Trong trường hợp UBTVQH ban bố  
tình trạng khẩn cấp: Do UBTVQH là cơ  
quan thường trực của Quốc hội nên khi  
ban bố tình trạng khẩn cấp sẽ bảo đảm tính  
nhanh chóng, kịp thời9. UBTVQH lại hoạt  
7 Bùi Tiến Đạt, “Hiến pháp hóa nguyên tắc giới hạn quyền con người: Cần nhưng chưa đủ”, Tạp chí Nghiên  
cứu lập pháp, số 6, năm 2015.  
8
Nguyễn Văn Quân, “Tiêu chí hạn chế quyền con người vì lý do trật tự công cộng trong pháp luật một số  
nước”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 14, năm 2019.  
9 Khoản 1 Điều 44 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014.  
50  
Số 10(434) - T5/2021  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
động theo nguyên tắc tập thể nên sẽ huy  
động được trí tuệ tập thể, từ đó bảo đảm sự  
cẩn trọng, toàn diện khi ban bố tình trạng  
khẩn cấp10.  
quyền lực cho các cơ quan nhà nước, hạn  
chế quyền và lợi ích của con người, của  
công dân11. Do đó, theo kinh nghiệm của  
Liên bang Nga, cần minh định những nội  
dung làm cơ sở cho việc ban hành tình  
trạng khẩn cấp.  
Trong trường hợp UBTVQH không thể  
họp được mà Chủ tịch nước công bố tình  
trạng khẩn cấp, tác giả cho rằng, cần có cơ  
chế kiểm soát. Từ kinh nghiệm của Liên  
bang Nga, tác giả cho rằng, cần bổ sung  
thủ tục, sau khi công bố tình trạng khẩn  
cấp, Chủ tịch nước phải báo với Ủy ban  
thường vụ Quốc hội. Thủ tục này không  
những không vô hiệu hóa thẩm quyền  
của Chủ tịch nước mà còn góp phần tăng  
cường trách nhiệm của UBTVQH với tư  
cách là cơ quan thường trực của Quốc hội  
trong quyết định những vấn đề hệ trọng  
quốc gia.  
2.5. Gợi mở về các biện pháp đặc biệt  
áp dụng trong tình trạng khẩn cấp  
Như đã đề cập ở trên, ở nước ta hiện  
nay tồn tại của nhiều văn bản khác nhau  
quy định về tình trạng khẩn cấp, mỗi văn  
bản lại điều chỉnh một lĩnh vực tình trạng  
khẩn cấp khác nhau nên các biện pháp  
đặc biệt áp dụng trong tình trạng khẩn cấp  
khá tản mạn. Trên cơ sở kinh nghiệm lập  
pháp của Liên bang Nga, tác giả cho rằng,  
cần minh định giữa biện pháp đặc biệt áp  
dụng trong tình trạng khẩn cấp với các  
biện pháp áp dụng trong điều kiện bình  
thường; xác định những biện pháp đặc  
thù áp dụng phù hợp với từng loại tình  
trạng khẩn cấp. Ví dụ, tổng động viên,  
động viên cục bộ, thiết quân luật chỉ nên  
được quy định là các biện pháp đặc biệt  
áp dụng trong tình trạng khẩn cấp về an  
ninh, quốc phòng chứ không thể được áp  
dụng trong tình trạng khẩn cấp về thiên  
tai, dịch bệnh, rủi ro công nghệ. Việc thiết  
kế những biện pháp đặc thù áp dụng phù  
hợp với phân loại từng tình trạng khẩn  
cấp vừa tạo điều kiện cho các cơ quan nhà  
nước dễ dàng nhận thức, kịp thời ứng phó  
với tình hình thực tế, vừa hạn chế tình  
trạng lạm quyền, tùy tiện, vi phạm quyền  
2.4. Gợi mở về phạm vi, nội dung và  
thời hạn áp dụng tình trạng khẩn cấp  
Theo quy định của Hiến pháp năm  
2013, tình trạng khẩn cấp ở Việt Nam có  
thể được áp dụng trong phạm vi cả nước  
hoặc ở từng địa phương cụ thể. Nội dung  
này có sự tương đồng với các quy định  
về tình trạng khẩn cấp trong pháp luật  
Liên bang Nga. Tuy nhiên, các quy định  
hiện hành của Việt Nam không xác định  
cụ thể những nội dung cần phải làm rõ  
khi ban hành tình trạng khẩn cấp như:  
cơ sở cho việc ban hành tình trạng khẩn  
cấp, các lập luận để biện minh cho việc  
đưa ra tình trạng khẩn cấp, thời gian có  
hiệu lực của tình trạng khẩn cấp. Việc  
tuyên bố tình trạng khẩn cấp làm gia tăng  
con người, quyền công dân  
10 Khoản 2 Điều 44 và khoản 1 Điều 45 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 quy định: “Ủy ban thường vụ Quốc  
hội gồm Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội và các Ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội do Chủ  
tịch Quốc hội làm Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Quốc hội làm Phó Chủ tịch. Các thành viên Ủy ban thường  
vụ Quốc hội chịu trách nhiệm tập thể về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban thường vụ Quốc hội”.  
11  
Oren Gross - Fionnuala Ní Aoláin, Law in Times of Crisis: Emergency powers in theory and practice,  
Cambridge University Press, 2006, p. 267.  
Số 10(434) - T5/2021  
51  
pdf 6 trang Thùy Anh 12260 Free
Bạn đang xem tài liệu "Pháp luật về tình trạng khẩn cấp của Liên Bang Nga và những gợi mở cho Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphap_luat_ve_tinh_trang_khan_cap_cua_lien_bang_nga_va_nhung.pdf