Một số ý kiến về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ô nhiễm môi trường nước do doanh nghiệp gây ra

MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG  
THIỆT HẠI Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC DO  
DOANH NGHIỆP GÂY RA  
Nguyễn Hữu Thuận, Đỗ Kim Thanh*  
Khoa Luật, Trường Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh  
GVHD: ThS. Lê Thị Minh Thư  
TÓM TẮT  
Bảo vệ môi trường nước là một trong những vấn đề rất quan trọng cần phải được quan tâm  
hàng đầu đối với tất cả các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Bởi lẽ môi  
trường nước sẽ ảnh hưởng trực đến rất nhiều khía cạnh đối với cuộc sống của người dân,  
cũng như hoạt động của các doanh nghiệp đó là tiêu chí để đánh giá sự phát triển của một  
đất nước. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các chủ thể; trong đó có doanh nghiệp gây ra  
sự ô nhiễm môi trường nước là vấn đề quan trọng cần phải được đặt lên hàng đầu nhằm  
phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam hiện nay.  
Trong phạm vi bài viết này, nhóm tác giả phân tích quy định pháp luật về trách nhiệm bồi  
thường thiệt hại ô nhiễm môi trường nước do doanh nghiệp gây ra. Đồng thời, qua đó cũng  
nêu lên một số bất cập trong những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về trách  
nhiệm bồi thường thiệt hại của doanh nghiệp đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường nước.  
Từ đó, đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và góp phần nâng cao hiệu quả  
khi áp dụng trong thực tiễn.  
Từ khóa: doanh nghiệp, ô nhiễm, môi trường nước, bồi thường thiệt hại, trách nhiệm.  
1 ĐẶT VẤN ĐỀ  
Ô nhiễm môi trường nước là sự biến đổi tính chất vật lý, hóa học, sinh học của thành phần  
môi trường nước do không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường, tiêu chuẩn môi  
trường nước bị thay đổi gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, sinh vật và tự nhiên  
khác. Nhìn dưới góc độ pháp lý: “  nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi  
trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh  
hưởng xấu đến con người và sinh vật” (khoản 8 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2014); “  
nhiễm nguồn nước là sự biến đổi tính chất vật lý, tính chất hóa học và thành phần sinh học  
của nước không phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cho phép, gây ảnh hưởng xấu  
đến con người và sinh vật” (khoản 18 Điều 2 Luật Tài nguyên nước năm 2012). Nguyên  
nhân gây ô nhiễm môi trường nước có thể là do cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp,… trong  
quá trình thực hiện các hoạt động như: sinh hoạt, chăn nuôi, sản xuất, khai thác,… đã xả  
nước thải chưa được xử lý hoặc xử lý không hoàn toàn đạt tiêu chuẩn còn chứa chất gây ô  
2003  
nhiễm. Chất gây ô nhiễm môi trường nước bao gồm: phân bón và thuốc trừ sâu từ sản xuất  
nông nghiệp; nước thải và chất thải từ chế biến thực phẩm; chì, thủy ngân và các kim loại  
nặng khác; chất thải hóa học từ các ngành công nghiệp ra môi trường nước bên ngoài,...  
Những hành vi này đã gây hại nghiêm trọng đến môi trường nước, tác động xấu đến môi  
trường và làm ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường cũng như đời sống của con người, đó là  
một trong nhiều nguyên nhân góp phần gây ra các bệnh truyền nhiễm, dịch bệnh cho con  
người và vật nuôi. Ô nhiễm môi trường nước gây ra những hậu quả hết sức nặng nề. Do đó,  
để hạn chế, giảm thiểu và ngăn chặn tác động xấu của việc gây ô nhiễm môi trường nước thì  
bất cứ quốc gia nào cũng nên xây dựng các quy định về bảo vệ môi trường nước, đồng thời  
có chế tài xử phạt và quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi tổ chức, cá nhân nào đó  
vi phạm các quy định đã ban hành.  
2 QUY ĐỊNH  
Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, theo quy định tại khoản 1  
Điều584 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe,  
danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt  
hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”. Từ  
quy định ta thấy để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bao gồm những  
căn cứ: phải có thiệt hại xảy ra trên thực tế; có hànhvi trái pháp luật gây thiệt hại; có mối quan hệ  
nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật; BLDS2015 đã bỏ yếu tố lỗi, lỗi không là  
căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nhưnglỗi vẫn còn nguyên giá  
trị trong việc xem xét mức độ thiệt hại được bồi thường. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô  
nhiễm môi trường nước do doanh nghiệp gây ra là một trường hợp cụ thể về bồi thường thiệt  
hại ngoài hợp đồng. Vì vậy, căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi  
trường nước do doanh nghiệp gây ra cũng bao gồm những căn cứ: cần phải có thiệt hại xảy  
ra trên thực tế do doanh nghiệp xả nước thải ra môi trường. Hành vi xả nước thải chưa được  
xử lý ra môi trường là hành vi trái pháp luật. Hành vi trái pháp luật đó của doanh nghiệp đã vi  
phạm pháp luật và xâm phạm đến quyền và lợi íchhợp pháp của những người dân được pháp  
luật bảo vệ và dẫn đến hậu quả thiệt hại nghiêm trọng. Có mốiquan hệ nhân quả giữa thiệt hại  
xảy ra và hành vi trái pháp luật.  
Về nguyên tắc bồi thường: Điều 585 BLDS 2015: thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn  
bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền,  
bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần,  
trừ trường hợp pháp luật cóquy định khác. Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể  
được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả  
năng kinh tế của mình. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại  
hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác  
thay đổi mức bồi thường. Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi  
thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra. Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm khôngđược bồi  
thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn,  
hạnchế thiệt hại cho chính mình. Doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm bồi thường, khôi phục lại  
trạng thái banđầu những tổn thất về môi trường dẫn đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân  
2004  
phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của các cá nhân; danh dự, uy tín, tài  
sản của pháp nhân hoặc chủ thể bị thiệthại và khắc phục hậu quả khi người bị hại yêu cầu bồi  
thường ngay cả khi doanh nghiệp không có lỗi khi đã có thiệt hại xảy ra. Căn cứ tại khoản 3  
Điều 164 luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định nguyên tắc xử lý trách nhiệm đối với tổ  
chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường là: “(i) Người đứng đầu trực tiếp của tổ chức phải chịu  
trách nhiệm đối với hành vi vi phạm pháp luật về môi trường có liên quan đến hoạt động của tổ  
chức mình; (ii) Tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi trường có trách nhiệm khắc phục  
hậu quả và bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra; (iii) Trường hợp cá nhân gây ô  
nhiễm, suy thoái môi trường do thực hiện nhiệm vụ được tổ chức giao thì tổ chức phải chịu  
trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật”. Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 27  
Luật Tài nguyên nước 2012 “Tổ chức, cá nhân gây ra sự cố ô nhiễm nguồn nước, ngoài việc  
bị xử phạt vi phạm theo quy định của pháp luật còn có trách nhiệm khắc phục hậu quả ô  
nhiễm, suy thoái nguồn nước trước mắt, cải thiện, phục hồi chất lượng nước về lâu dài và  
bồi thường thiệt hại do mình gây ra”. Căn cứ khoản 2 Điều 13 Nghị định 03/2015/NĐ-CP “Tổ  
chức, cá nhân làm môi trường bị ô nhiễm, suy thoái phải bồi thường toàn bộ thiệt hạiđối với môi  
trường do mình gây ra, đồng thời phải chi trả toàn bộ chi phí xác định thiệt hại và thực hiện thủ  
tục yêu cầu bồi thường thiệt hại cho cơ quan đã ứng trước kinh phí theo quy định tại khoản 2  
Điều 9 Nghị định này”.  
Về phương thức bồi thường: căn cứ khoản 1 Điều 585 BLDS 2015 có quy định “Các bên có  
thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực  
hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật  
có quy định khác”. Căn cứ Điều3 BLDS 2015 thỏa thuận là nguyên tắc đặc trưng và cơ bản của  
pháp luật dân sự thì các chủ thể trong quan hệ dân sự có quyền tự thỏa thuận với nhau về  
mức bồi thường, thời gian bồi thường và số lần bồi thường nếu những thỏa thuận đó không vi  
phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội. Căn cứ tại khoản3 Điều 585 BLDS 2015  
“Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại  
có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường”.  
Khi mức bồi thường mà bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại không thỏa thuận được hoặc mức  
bồi thường ấn định không còn phù hợp với thực tiễn do nguyên nhân nào đó. Nên các bên  
muốn được đáp ứng mức bồi thường thích hợp thì có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan  
Nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi vàquy định lại mức bồi thường khác.  
Về xác định thiệt hại: căn cứ Điều 163 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định: “Thiệt hại  
do ô nhiễm, suy thoái môi trường gồm: (i) Suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường;  
(ii) Thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức,  
cá nhân do hậu quả của việcsuy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường gây ra”. Trong  
BLDS 2015 được quy định tại Điều 589,590, 591 có thể là thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài  
sản bị xâm hại. Tài sản bị hư hỏng; lợi ích gắn liền  
với việc sử dụng, khai thác bị giảm sút;  
thiệt hại về sức khỏe tinh thần, tính mạng; chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục  
thiệt hại khác do doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường nước gây ra thường sẽ được dùng giá  
cả để xác định và tính toán thiệt hại thành một số tiền để làm cơ sở bồi thường.  
3 MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ  
2005  
3.1 Một số bất cập  
Trình trạng ô nhiễm nguồn nước được nhìn thấy rõ ở những con sông gần các khu công  
nghiệp, nhà máy và ở các thành phố lớn hoặc các khu đô thị lớn ở Việt Nam. Cụ thể như:  
năm 2008 Công ty Vedan xả nước thải chưa qua xử lý ra sông Thị Vải (Đồng Nai) hậu quả  
làm hoạt động nuôi tôm, cá trên sông bị chết hết: Theo ông Lê Viết Hưng, Thanh tra Bộ Tài  
nguyên - Môi trường từng phát hiện Vedan gây ô nhiễm môi trường và xử lý vi phạm. Riêng  
Sở Tài nguyên - Môi trường Đồng Nai kiểm tra, xử phạt Vedan ba lần với tổng số tiền hơn 20  
triệu đồng [8]; năm 2016 ở Miền Trung do công ty Formosa đã xả nước thải chưa được xử lý ra  
biển, hậu quả làm 4 tỉnh (Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Huế) bị ảnh hưởng môi trườngmặt  
nước biển, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trực tiếp cuộc sống của người dân về hoạt động đánh  
bắt, nuôitrồng thủy sản và dịch vụ du lịch trên biển: xử phạt Formosa bằng tiền, buộc bổ sung  
cơ sở xử lý xả thải trước khi vận hành. Về việc giám sát hoạt động xả thải, xử phạt vi phạm  
hành chính và việc thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm của Formosa Hà Tĩnh.  
Từ cuối tháng 5, Bộ Tài nguyên – Môi trường đã hoàn thành lắp đặt 2 camera theo dõi, giám sát  
hoạt động quan trắc liên tục, tự động tại Formosa, gửi về Sở Tài nguyên - Môi trường Hà Tĩnh,  
Tổng Cục môi trường Bộ Tài nguyên – Môi trường. Bộ cũng yêucầu Formosa tiếp tục lắp đặt hệ  
thống lấy mẫu tự động. Phương án xây lắp trạm quan trắc tự động bên ngoài hàng rào công ty  
để thuận tiện theo dõi, giám sát, lắp đặt quan trắc nước thải của hệ thống xử lý sinh hoá và bể  
tràn lưu giữ nước thải một thời gian trước khi xả ra biển, sử dụng bể chỉ thị sinh học để kiểm  
soát chất lượng nước thải [9]. Ngoài ra đối với 02 thành phố lớn của Việt Nam là Thành phố Hồ  
Chí Minh và thành phố (Thủ đô) Hà Nội là nơi tập trung nhiều dân cư, nơi tổ chức nhiều hoạt  
động vui chơi, giải trí, thông qua ăn uống, sinh hoạt, vệ sinh hàng ngày,... Nguồn nước thải  
này từ các hoạt động sinh hoạt tại gia đình, trường học, bệnh viện ở các khu nông thôn cho tới  
thành phố vẫn chưa được xử lý hoàn toàn. Nhưng thường nguồn nước thải đó sẽ được đổ  
thẳng ra ngoài cống rãnh hoặc kênh mương, ao hồ bị thiếu hụt ôxy khiến cho các động vật,  
thực vật khó tồn tại gây tắc các dòng kênh cống rãnh, nước thì có màu đen và mùi hôi khó  
chịu ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người dân và mất đi vẻ mỹ quan đô thị, cạn kiệt  
nguồn nước sạch [10]. Khi chung sống với nguồn nước ô nhiễm, con người dễ bị mắc các  
bệnh liên quan đến vấn đề về da, tiêu hóa, tiêu chảy và nguy cơ mắc bệnh ung thư là khá  
cao[11].  
Dù pháp luật đã quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi  
trường nước trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cũng như đã thiết lập  
cơ chế thực thi quy định này. Song, trong việc thực thi trách nhiệm bồi thường thiệt hại trên  
thực tế lại gặp rất nhiều khó khăn do vướng mắc trong việc xác định trách nhiệm bồi thường,  
chứng minh thiệt hại, thời gian thu thậpthông tin, số liệu về tổng mức thiệt hại mất quá nhiều  
thời gian, kèm theo đó là các biện pháp chế tài còn chưa thật sự nghiêm khắc,… Tuy nhiên,  
pháp luật dân sự không có quy định chi tiết về vấn đề bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi  
trường nước gây ra ngoài các quy định chung về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Quy  
định việc bồi thường thiệt hại về sức khoẻ, tính mạng và tài sản của tổ chức, cá nhân do ô  
nhiễm môi trường sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật dân sự.  
Qua những thực trạng trên sau đây là một số vấn đề bất cập:  
2006  
Cách thức xác định thiệt hại về sức khỏe, tinh thần, tài sản: đối với thiệt hại về sức khỏe  
được quy định tại khoản 1 Điều 590 BLDS 2015 thì mặc dù có thiệt hại về sức khoẻ do hậu  
quả của ô nhiễm môi trường nước đã đến cơ sở y tế, bệnh viện chữa trị nhưng việc thu thập  
chứng cứ để chứng minh thiệt hại không phải là điều dễ dàng bởi các thủ tục và trình tự thủ  
tục khá phức tạp, cũng như trình độ hiểu biết của người bị thiệt hại còn thấp nên việc chứng  
minh thiệt hại về sức khỏe, tinh thần, tài sản còn gặp nhiều khó khăn làm cho người bị thiệt  
hại từ bỏ việc đòi lại quyền lợi của mình.  
Đối với thiệt hại về sức khỏe ảnh hưởng đến tinh thần được quy định tại khoản 2 Điều 590  
BLDS 2015 thì làm thế nào để tính toán được thiệt hại về tinh thần và chứng cứ để chứng  
minh có thiệt hại về tinh thần cho người thiệt hại. Bù đắp tổn thất có đồng nghĩa với bồi  
thường toàn bộ, bởi bù đắp tổn thất về tinh thần chỉ mang tính ước lượng chứ không xác  
định được toàn bộ và cũng chưa có luật quy định chi tiết, rõ ràng. Ngoài việc tòa án chỉ ấn  
định một khoản tiền tương ứng trong trường hợp có bù đắp tổn thất về tinh thần.  
Đối với thiệt hại do tài sản bị xâm phạm được quy định tại Điều 589 BLDS 2015 bao gồm: “Lợi  
ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản. Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc  
phục thiệt hại”. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy người bị thiệt hại chỉ mong nhận được một  
khoản bồi thường đối với những thiệt hại trước mắt đã khá khó khăn, trong việc thu thập  
chứng cứ cũng như tìm được sự ủng hộ, bảo vệ của cơ quan chức năng, còn những khoản  
được hình thành từ việc khai thác, sử dụng tài sản hay chi phí để khắc phục thiệt hại dường  
như là điều không tưởng.  
Quy định về giám định thiệt hại môi trường, Điều 150 Luật Bảo vệ môi trường 2014 quy định:  
“Nhà nước khuyến khích cá nhân, tổ chức thành lập doanh nghiệp dịch vụ môi trường thông  
qua hình thức đấu thầu, cơ chế hợp tác công tư trong các lĩnh vực: Giám định về môi trường  
đối với hàng hóa, máy móc, thiết bị, công nghệ; giám định thiệt hại về môi trường; giám định  
sức khỏe môi trường”. Luật Bảo vệ môi trường 2014 mới chỉ quy định về giám định thiệt hại  
về môi trường (đối với máy móc, hàng hoá, sức khoẻ môi trường) mà chưa có quy định về  
giám định thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của người bị thiệt hại [3]. Điều 8 Nghị  
định 03/2015 quy định về xác định bồi thường thiệt hại đối với môi trường: “Tổ chức, cá nhân  
có liên quan đến khu vực môi trường bị ô nhiễm, suy thoái, Ủy ban nhân dân các cấp tại khu  
vực môi trường bị ô nhiễm, suy thoái có trách nhiệm hợp tác, cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp  
thời các dữ liệu, chứng cứ theo yêu cầu của cơ quan tổ chức thu thập và thẩm định dữ liệu,  
chứng cứ quy định tại khoản 3 Điều 3 Nghị định này”. Vì vậy, doanh nghiệp gây ô nhiễm môi  
trường chỉ áp dụng các biện pháp chuyên môn nghiệp vụ, phương tiện kỹ thuật, kinh nghiệm  
thực tiễn để nghiêncứu, xem xét, đánh giá mức độ chính xác của các thiệt hại về môi trường  
(môi trường bị suy giảm chức năng, tính hữu ích). Còn đối với những thiệt hại từ suy giảm  
chức năng, tính hữu ích của môi trường ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của con  
người, tài sản,… về thời gian sau đó là những thiệt hại mà người bị thiệt hại phải gánh chịu  
những hậu quả do ô nhiễm môi trường nước để lại mà không có cơ quan chức năng nào  
thực hiện việc giám định này.  
Về mức bồi thường và quy định về phương thức chi trả tiền bồi thường: căn cứ tại Khoản 3  
Điều 585 BLDS 2015: “Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại  
2007  
hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu tòa án hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền  
khác thay đổi mức bồi thường”. Nhưng, mức bồi thường có thể thay đổi có khả năng được  
thực hiện trong trường hợp bồi thường nhiều lần (hàng tháng hoặc hàng năm). Nếu bồi  
thường thiệt hại trong trường hợp bồi thường toàn bộ một lần thì có được áp dụng thay đổi  
mức bồi thường không? Trên thực tế, mức bồi thường mà người bị ảnh hưởng được nhận  
đã khá thấp so với những thiệt hại mà họ phải gánh chịu do ô nhiễm nguồn nước gây ra. Đối  
với phương thức chi trả tiền bồi thường mà doanh nghiệp áp dụng là phương thức nào, trình  
tự áp dụng ra sao để vừa công bằng, chính xác cũng như đảm bảo quyền lợi của chủ thể bị  
thiệt hại nếu có di chứng về sau hay đối với các trường hợp có thể có di chứng về sau.  
3.2 Kiến nghị  
Cần phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật môi trường, đặc biệt là luật bảo vệ tài  
nguyên nước trong đó không những nâng cao các biện pháp chế tài xử phạt mà còn phải xử  
lý thật nghiêm minh để đủ sức răn đe các doanh nghiệp và cần phải quy định rõ về trách  
nhiệm bồi thường thiệt hại đối với những chủ thể bị ảnh hưởng do ô nhiễm môi trường nước  
gây ra.  
Cách thức xác định thiệt hại về sức khoẻ, tinh thần, tài sản: cần ban hành nghị định hướng  
dẫn chi tiết về hình thức xác định thiệt hại về sức khoẻ, tinh thần, tài sản, tính mạng đối với  
những thiệt hại mà doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường nước đối với người bị thiệt hại.  
Bởi, thiệt hại về môi trường là thiệt hại mang tính chất đặc thù, cũng không dễ để xác định  
thiệt hại này, vì loại thiệt hại này không phải được biểu hiện một cách trực tiếp, ngay lập tức  
mà cần phải trãi qua một khoảng thời gian thì nó mới có biểu hiện và hậu quả mà nó để lại  
sẽ ảnh hưởng vô cùng nghiêm trọng trong suốt một thời gian dài về sau.  
Quy định về giám định thiệt hại đối với sức khoẻ, tinh thần, tài sản, môi trường, cơ chế trách  
nhiệm cần có quy định rõ ràng về trình tự, phương thức, cơ chế cũng như cơ quan thực hiện  
[7], thời gian thu thập tài liệu, chứng cứ giám định cần phải được thực hiện nhanh chóng và  
trong thời gian ngắn nhằm tạo cơ sở pháp lý cho những người bị thiệt hại bảo vệ quyền lợi  
của mình.  
Quy định về vấn đề thay đổi mức bồi thường và phương thức chi trả tiền bồi thường cần  
phải được cụ thể hóa, và chỉ rõ đối với những phương thức bồi thường (một lần, nhiều lần),  
cũng như phương thức thể hiện những mức bồi thường đó, nhằm đảm bảo quyền lợi của  
người bị thiệt hại và nâng cao trách nhiệm bồi thường thiệt hại của doanh nghiệp khi gây ra  
thiệt hại.  
Tổ chức thống kê, cập nhật dữ liệu nguồn thải nước thải, xây dựng kế hoạch quản lý và  
xử lý nguồn nước thải, công khai thông tin về nguồn thải trên cổng thông tin môi trường  
lưu vực sông.  
Triển khai quy hoạch hệ thống thoát nước và xử lý nước thải khu vực dân cư, khu công  
nghiệp và quy hoạch quản lý chất thải rắn trên lưu vực sông.  
Đẩy mạnh công tác đào tạo, tập huấn, nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường  
và cải tạo, phục hồi môi trường cho những đoạn bị ô nhiễm nghiêm trọng,...  
2008  
Tuyên truyền, phổ biến Luật và các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật đến các doanh  
nghiệp, các cơ quan chịu trách nhiệm quản lý hoặc giám định hành vi gây ra thiệt hại ô  
nhiễm môi trường nước của doanh nghiệp. Đồng thời tăng cường tổ chức các buổi đối thoại  
giữa doanh nghiệp và địa phương hoặc đại diện người dân ở địa phương với nhiều hình  
thức để lắng nghe phản hồi về các quy định được ban hành, những ảnh hưởng từ doanh  
nghiệp đến người dân và môi trường sớm nhất để có kế hoạch sửa đổi bổ sung cho phù  
hợp kịp thời trước khi hậu quả trở nên nghiêm trọng hơn. Các cơ quan chuyên trách cần  
phải thường xuyên, bất ngờ tổ chức kiểm tra các doanh nghiệp về quy trình xử lý nước thải  
trước khi xả ra môi trường nước bên ngoài.  
4 KẾT LUẬN  
Nước có vai trò vô cùng quan trọng và cần thiết đối với con người cũng như đối với môi  
trường tự nhiên. Nước duy trì mọi hoạt động sống cũng như trong sinh hoạt, sản xuất,... Vì thế  
trách nhiệm bồi thường thiệt hại của doanh nghiệp khi gây ra ô nhiễm môi trường nước là loại  
trách nhiệm pháp lý dân sự đặc thù, được áp dụng đối với những doanh nghiệp có hành vi  
gây ô nhiễm môi trường dẫn đến thiệt hại nghiêmtrọng đến môi trường nước tự nhiên, không  
chỉ vậy nó còn ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của con người trong cộng đồng và xã  
hội, để nhằm bảo vệ môi trường cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của những cá nhân, tổ  
chức bị xâm hại. Việc áp dụng dựa trên những quy định của pháp luật để xử lí trách nhiệm  
bồi thường thiệt hại là vấn đề bức thiết đối với môi trường và toàn xã hội. Vì vậy, pháp luật  
về trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với doanh nghiệp cần được quan tâm nhiều hơn  
thông qua những quy định nghiêm khắc của pháp luật, nhằm ngăn chặn và giảm thiệt hại  
bằng những chế tài phù hợp, tương xứng với mức độ hành vi vi phạm, và có tính khả thi áp  
dụng trong thực tế./.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Bộ luật Dân Sự 2015.  
[2] Luật Bảo vệ môi trường 2014.  
[3] Luật Tài nguyên nước 2012.  
[4] Nghị định 03/2015/NĐ-CP quy định về xác định bồi thường thiệt hại đối với môi  
trường.  
[5] Nghị định 155/2016/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo  
vệ môi trường.  
[6] Giáo trình pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Trường Đại  
học Luật Thành phố Hồ Chí Minh năm 2007.  
[7] Phạm Thị Lệ Quyên (2020). Một số bất cập của pháp luật về trách nhiệm bồi thường  
thiệt hại khi doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường.  
boi-thuong-thiet-hai-khi-doanh-nghiep-gay-o-nhiem-moi-truong.html.  
2009  
[8] Minh Quang (2008). Vedan "giết" sông Thị Vải. https://tuoitre.vn/vedan-giet-song-thi-  
vai-278294.htm.  
[9] Những thiệt hại do Formosa Hà Tĩnh gây ra được công bố chi tiết.  
chi-tiet.  
[10] Thực trạng ô nhiễm môi trường nước 2020 cách khắc phục hiệu quả (2019).  
[11] Tác hại của nguồn nước ô nhiễm (2018).  
2010  
pdf 8 trang Thùy Anh 7280 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số ý kiến về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ô nhiễm môi trường nước do doanh nghiệp gây ra", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_y_kien_ve_trach_nhiem_boi_thuong_thiet_hai_o_nhiem_mo.pdf