Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam (Phần 1)

ĐẠI HỌC HUẾ  
KHOA LUẬT  
TS. ĐOÀN ĐỨC LƯƠNG (Chủ biên)  
Giáo trình  
LUẬT HÔN NHÂN VÀ  
GIA ĐÌNH VIỆT NAM  
(Tái bản lần thứ hai, có chỉnh sửa, bổ sung)  
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC HUẾ  
Huế - 2013  
Biên mục trên xuất bản phẩm của Thư viện Quốc gia Việt Nam  
Đoàn Đức Lương  
Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam / B.s.: Đoàn Đức  
Lương (ch.b.), Hoàng Thị Hải Yến, Đào Mai Hường, Nguyễn Thanh Tùng.  
- Tái bản lần thứ 3. - Huế : Đại học Huế, 2013. - 128tr. ; 21cm  
Thư mục: tr. 126-127  
1. Pháp luật 2. Hôn nhân 3. Gia đình 4. Việt Nam 5. Giáo trình  
346.59701 - dc14  
DUK0019p-CIP  
Mã số sách: GT/94 - 2013/T2  
CHỦ BIÊN: TS. GVC. ĐOÀN ĐỨC LƯƠNG  
THAM GIA BIÊN SOẠN:  
1. TS. GVC. Đoàn Đức Lương  
2. ThS. GV. Hoàng Thị Hải Yến  
3. ThS. Thẩm phán Đào Mai Hường  
4. ThS. GV. Nguyễn Thanh Tùng  
LỜI NÓI ĐẦU  
Luật Hôn nhân và gia đình là một trong những môn học bắt buộc  
trong chương trình đào tạo ngành Luật. Để đáp ứng nhu cầu học tập của  
sinh viên ngành Luật thuộc Đại học Huế, từ năm 2000, khoa Luật đã biên  
soạn “Tài liệu học tập môn học Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam”.  
Từ khi Luật Hôn nhân và gia đình được ban hành và có hiệu lực thi  
hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2001, đã có hàng loạt các văn bản hướng  
dẫn thi hành Luật. Đồng thời trên cơ sở Chương trình khung đào tạo  
ngành Luật dùng cho hệ đại học được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo  
ban hành, trong đó quy định kết cấu và những kiến thức tối thiểu của  
môn học Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam. Vì vậy, khoa Luật trực  
thuộc Đại học Huế đã hoàn chỉnh “Tài liệu học tập môn học Luật Hôn  
nhân và gia đình Việt Nam” thành “Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình  
Việt Nam” trên cơ sở kết cấu chương trình theo quy định, tham khảo và  
cập nhật các nội dung của văn bản pháp luật mới được ban hành và tiếp  
thu nhiều ý kiến đóng góp của các chuyên gia, của các nhà khoa học và  
sinh viên.  
Năm 2013, nhóm tác giả đã có sửa đổi bổ sung một số vấn đề trên  
cơ sở tiếp cận các quy định mới và các ý kiến góp ý của các chuyên gia  
để hoàn thiện giáo trình. Tuy nhóm tác giả biên soạn đã cố gắng, nhưng  
không thể tránh khỏi những sai sót nhất định. Chúng tôi mong muốn tiếp  
tục nhận được các ý kiến đóng góp cho cuốn giáo trình này để hoàn thiện  
cho tái bản lần sau.  
T/M Nhóm tác giả  
TS. Đoàn Đức Lương  
MỤC LỤC  
Trang  
09  
Chương 1: Khái niệm và các nguyên tắc cơ bản  
của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam  
1
Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin về những  
hình thái hôn nhân và gia đình trong lịch sử  
09  
12  
2
Khái niệm hôn nhân và các đặc trưng của hôn nhân xã  
hội chủ nghĩa  
3
4
5
Khái niệm và chức năng của gia đình  
Khái niệm Luật Hôn nhân và gia đình  
14  
15  
Nhiệm vụ và nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và  
gia đình  
19  
6
Nguồn của Luật Hôn nhân và gia đình  
22  
25  
25  
27  
29  
Chương 2: Quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình  
Khái niệm quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình  
Các yếu tố của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình  
Sự kiện pháp lý  
1
2
3
4
Thực hiện Luật Hôn nhân và gia đình và bảo vệ chế độ  
hôn nhân và gia đình  
31  
33  
Chương 3: Kết hôn và huỷ việc kết hôn trái pháp  
luật theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam  
1
2
3
Khái niệm kết hôn  
33  
38  
45  
Các điều kiện kết hôn của Luật Hôn nhân và gia đình  
Hủy việc kết hôn trái pháp luật  
Chương 4: Quan hệ giữa vợ và chồng theo Luật  
Hôn nhân và gia đình Việt Nam  
56  
1
2
Quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng  
Quan hệ tài sản vợ và chồng  
56  
60  
Chương 5: Quan hệ giữa cha mẹ và con, giữa các  
thành viên trong gia đình theo luật hôn nhân  
và gia đình  
73  
73  
1
2
3
Căn cứ phát sinh quan hệ giữa cha mẹ và con theo  
luật hôn nhân và gia đình  
Quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản giữa cha mẹ  
và con  
87  
92  
93  
Quan hệ giữa các thành viên khác trong gia đình  
Chương 6: Nghĩa vụ cấp dưỡng theo Luật Hôn  
nhân và gia đình Việt Nam  
1
2
Khái niệm  
93  
97  
Các trường hợp cấp dưỡng cụ thể  
Chương 7: Chấm dứt hôn nhân  
100  
1
2
Chấm dứt hôn nhân do một bên chết trước hoặc bị  
tuyên bố đã chết  
100  
Ly hôn  
100  
119  
126  
Câu hỏi hướng dẫn học tập  
Tài liệu tham khảo  
CHƯƠNG 1  
KHÁI NIỆM VÀ NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN  
CỦA LUẬT HÔN NHÂN GIA ĐÌNH VIỆT NAM  
1. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊ NIN VỀ NHỮNG  
HÌNH THÁI HÔN NHÂN GIA ĐÌNH TRONG LỊCH SỬ  
Hôn nhân gia đình là những hiện tượng xã hội luôn luôn được  
các nhà Triết học, Xã hội học, Luật học, Sử học,... nghiên cứu. Hôn  
nhân là cơ sở của gia đình, còn gia đình là tế bào của xã hội, trong đó  
kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa lợi ích của công dân với lợi ích nhà  
nước. Vì vậy, trong bài nói chuyện tại Hội nghị cán bộ thảo luận dự  
thảo Luật Hôn nhân và gia đình 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói:  
"Rất quan tâm đến gia đình là đúng và nhiều gia đình cộng lại thì mới  
thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội  
mới tốt. Hạt nhân của xã hội chính là gia đình". Trong cuốn Nguồn  
gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước, C. Mác và  
Angghen đã chứng minh một cách khoa học rằng, hôn nhân và gia  
đình là một phạm trù phát triển theo lịch sử; giữa chế độ kinh tế - xã  
hội và tổ chức gia đình có mối quan hệ chặt chẽ, trực tiếp với nhau.  
Hai ông đã phân tích nguồn gốc của hôn nhân và gia đình từ giai đoạn  
thấp nhất của xã hội loài người, khi con người chỉ mới tách khỏi thiên  
nhiên, săn bắn hái lượm để kiếm sống. Trong thời kỳ này, tồn tại quan  
hệ tính giao bừa bãi, không có sự chọn lọc ngôi thứ, thích thuộc. Lúc  
này chưa có khái niệm hôn nhân và gia đình trong xã hội mà thị tộc  
được coi như một đơn vị duy nhất không tách rời của xã hội cộng sản  
nguyên thủy 1.  
1
. Lê Trọng Ân, Tìm hiểu tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của  
nhà nước. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2004.  
9
Từ trạng thái nguyên thủy đó, bước tiếp theo là chế độ quần hôn  
xuất hiện. Chế độ quần hôn có hai thời kỳ phát triển chính tương ứng  
với hai hình thái hôn nhân. Do vậy, việc nghiên cứu chế độ quần hôn  
có ý nghĩa quan trọng để tìm hiểu quan hệ hôn nhân gia đình trong  
thời kỳ sơ khai của lịch sử xã hội loài người.  
1.1. Chế độ quần hôn  
1.1.1. Gia đình huyết tộc  
Quan hệ hôn nhân xây dựng theo thế hệ (cha mẹ và con) tạo  
thành nhóm hôn nhân nhất định mà chỉ trong giới hạn đó mới cho  
phép có quan hệ tính giao. Trong gia đình huyết tộc, cấm quan hệ tính  
giao giữa người mẹ và những người con trai của họ, còn người cha rất  
khó xác định được vì người mẹ quan hệ tính giao với nhiều người đàn  
ông. Trong gia đình này, anh chị em cùng một mẹ sinh ra có thể quan  
hệ tính giao với nhau như những người khác. Ở gia đình này “các tập  
đoàn hôn nhân đều phân theo thế hệ: Trong phạm vi gia đình, tất cả  
ông và bà đều là vợ chồng với nhau; các con họ đều là vợ chồng với  
nhau, rồi đến lượt cháu họ cũng họp thành nhóm vợ chồng chung thứ  
ba; rồi con cái của những người ấy, tức là chắt của những người nói  
trên cũng lại hợp thành một nhóm vợ chồng thứ tư”.2  
1.1.2. Gia đình pu-na-lu-an  
Thực tế của gia đình này, là sự thể hiện quan hệ tính giao hạn  
chế hơn nữa. Không những cấm quan hệ tính giao giữa cha, mẹ và con  
(trực hệ) mà còn cấm quan hệ tính giao giữa anh em trai với các chị  
em gái trong cùng một "gia đình" mà chủ yếu do cùng một mẹ sinh ra.  
Do vậy, lúc này một nhóm các chị em gái là "vợ" của một nhóm các  
anh em trai của một "gia đình" khác, loại trừ anh em trai của họ do  
cùng một mẹ sinh ra; ngược lại một nhóm các anh em trai la "chồng"  
của một nhóm các chị em gái của một "gia đình" khác, loại trừ các chị  
2 . Lê Trọng Ân, Tìm hiểu tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của  
nhà nước. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2004., tr 44.  
10  
em gái của họ do cùng một mẹ sinh ra. Các ông chồng này gọi nhau là  
pu-na-lu-an nghĩa là bạn đường (assocíe: người cùng hội).  
Trong chế độ quần hôn, không thể xác định được ai là cha của  
đứa trẻ, nên đứa trẻ sinh ra mang họ mẹ, trong thời kỳ này còn gọi là  
"gia đình không cha". Vai trò của người phụ nữ trong xã hội rất lớn,  
họ là lao động chính trong nền kinh tế của thị tộc, quyết định những  
vấn đề quan trọng nhất của thị tộc nên thị tộc lúc này là thị tộc "mẫu  
quyền".  
1.2. Hôn nhân và gia đình đối ngẫu (gia đình cặp đôi)  
Bước phát triển tiếp theo của gia đình là ở chỗ trong một nhóm  
những người có thể có quan hệ tính giao ngày càng thu hẹp lại. Từ  
chỗ chỉ cấm quan hệ tính giao giữa các anh em trai với các chị em gái  
do cùng một mẹ sinh ra thì bây giờ loại trừ tất cả anh chị em họ hàng  
chú bác và những người họ hàng xa khác. Do vậy, gia đình pu-na-lu-  
an được thay thế bằng gia đình đối ngẫu. Trong gia đình đối ngẫu thì  
mỗi người đàn bà và mỗi người đàn ông chọn cho mình một người  
đàn ông và người đàn bà khác là "vợ - chồng" hay còn gọi hôn nhân  
theo từng cặp. Tuy nhiên, hôn nhân đối ngẫu chưa phải là một đơn vị  
kinh tế độc lập mà nó chỉ là một đơn vị hôn phối, còn thị tộc vẫn là  
một đơn vị kinh tế toàn bộ. Hôn nhân đối ngẫu là bước phát triển để  
tiến tới hình thành hôn nhân một vợ, một chồng.  
1.3. Hôn nhân một vợ một chồng và các biến thể  
Hôn nhân một vợ, một chồng là một hình thức hôn nhân mới  
trong lịch sử đặc trưng cho một chế độ sở hữu khác. Bước chuyển từ  
hôn nhân đối ngẫu sang hôn nhân một vợ, một chồng là dựa trên cơ sở  
kinh tế đó là xuất hiện chế độ tư hữu nên gia đình đối ngẫu đã trở  
thành một đơn vị kinh tế độc lập trong thị tộc và cuối cùng thì chế độ  
thị tộc tan rã. Trong thời kỳ này, xuất hiện một hình thức trung gian là  
gia đình gia trưởng với đặc trưng: Sự tổ chức của một số người tự do  
và không tự do thành gia đình dưới quyền lực gia trưởng của người  
11  
chủ gia đình. Hình thức gia đình đó đánh dấu bước chuyển từ chế độ  
hôn nhân đối ngẫu sang chế độ "một vợ, một chồng". Như vậy, đã  
diễn ra việc chuyển từ gia đình đối ngẫu sang gia đình cá thể. Những  
đặc trưng của gia đình gia trưởng:  
Một là, nét đặc trưng chủ yếu của gia đình gia trưởng không phải  
là chế độ nhiều vợ, mà là việc thu nhận những người nô lệ và quyền  
lực gia trưởng (điển hình của gia đình này là gia đình La Mã).  
Hai là, hình thức gia đình gia trưởng đánh dấu bước chuyển từ  
hôn nhân cặp đôi sang chế độ nhiều vợ, nhiều chồng. Để đảm bảo sự  
thành thật của người vợ, đảm bảo việc con cái đích thực là do người  
cha đẻ ra, người vợ buộc phải phục tùng quyền lực tuyệt đối của  
người chồng; nếu chồng có giết vợ chăng nữa cũng chỉ là thực hiện  
quyền của mình mà thôi.  
Ba là, gia đình gia trưởng là gia đình gồm nhiều thế hệ sống  
chung trong một nhà, cùng canh tác ruộng đất và ăn ở nhờ vào những dự  
trữ chung 3.  
1.4. Hôn nhân và gia đình dưới chế độ Xã hội chủ nghĩa  
Khác với các hình thức hôn nhân trước đó, hôn nhân và gia đình  
dưới chế độ xã hội chủ nghĩa tiến bộ hơn dựa trên nguyên tắc một vợ,  
một chồng đối với mọi cá nhân; quan hệ vợ chồng bình đẳng nhằm  
xây dựng gia đình ấm no, dân chủ, hoà thuận, hạnh phúc và bền vững.  
2. KHÁI NIỆM HÔN NHÂN VÀ CÁC ĐẶC TRƯNG CỦA HÔN  
NHÂN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA  
2.1. Khái niệm hôn nhân  
Khoản 6, điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình 2000 quy định: "Hôn  
nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn". Như vậy, so  
với các văn bản pháp luật trước đây thì khái niệm hôn nhân chính thức  
3 . Lê Trọng Ân, Tìm hiểu tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, củachees độ tư hữu và của  
nhà nước. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2004., tr 58,59.  
12  
quy định trong luật - đó là sự liên kết giữa một người đàn ông và một  
người đàn bà xác lập quan hệ trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, bình  
đẳng và các điều kiện khác do pháp luật quy định nhằm chung sống  
với nhau suốt đời và xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ,  
hạnh phúc và bền vững.  
2.2. Các đặc trưng của hôn nhân Xã hội chủ nghĩa  
Một là, hôn nhân là sự liên kết giữa một người đàn ông và một  
người đàn bà theo quy định của pháp luật xác lập quan hệ vợ chồng.  
Việc kết hôn giữa nam - nữ phải tuân thủ các điều kiện pháp luật quy  
định và phải đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền  
(điều 9, điều 10 và điều 11 của Luật Hôn nhân và gia đình 2000).  
Hai là, hôn nhân là sự liên kết giữa một người đàn ông và một  
người đàn bà - đó là hôn nhân một vợ, một chồng. Pháp luật quy định  
việc kết hôn giữa một bên là nam và một bên là nữ nhằm hình thành  
gia đình; hôn nhân phải tuân thủ nguyên tắc một vợ, một chồng (điều  
4, điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình 2000).  
Ba là, hôn nhân là sự liên kết bình đẳng giữa một người đàn ông  
và một người đàn bà trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện (điều 9 Luật Hôn  
nhân và gia đình 2000).  
Bốn là, hôn nhân là sự liên kết giữa một người đàn ông và một  
người đàn bà nhằm chung sống với nhau suốt đời xây dựng gia đình ấm  
no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững (điều 1 Luật Hôn nhân -  
gia đình 2000). Như vậy, so với Luật Hôn nhân và gia đình 1986 thì  
Luật Hôn nhân và gia đình 2000 bổ sung thêm mục đích "ấm no" đây là  
tiền đề của các mục đích khác, bởi lẽ khi gia đình có đầy đủ các điều  
kiện kinh tế thì mới thực hiện tốt mục đích bình đẳng, tiến bộ, hạnh  
phúc và bền vững. Luật Hôn nhân và gia đình 1986 quy định mục đích  
xây dựng gia đình dân chủ, hoà thuận, hạnh phúc và bền vững (điều 1).  
Tuy nhiên, phải phối hợp hài hoà các mục đích trên, nếu quá coi trọng  
mục đích kinh tế thì cũng có thể dẫn đến sự tan vỡ của gia đình.  
13  
3. KHÁI NIỆM VÀ CÁC CHỨC NĂNG CỦA GIA ĐÌNH  
3.1. Khái niệm gia đình  
Khái niệm gia đình rộng hơn khái niệm hôn nhân. Nếu hôn nhân  
là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn làm tiền đề xây dựng  
gia đình thì gia đình là sự liên kết của nhiều người có quan hệ với  
nhau do quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi  
dưỡng; các chủ thể có các quyền, nghĩa vụ nhân thân và tài sản do  
pháp luật quy định (quan hệ nhân thân, tài sản giữa vợ - chồng, giữa  
cha mẹ - con cái...).  
Luật Hôn nhân và gia đình 2000 định nghĩa gia đình như sau:  
Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, do  
quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng làm phát sinh các  
quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật Hôn nhân  
và gia đình.  
Xuất phát từ định nghĩa trên thì gia đình được hình thành dựa  
trên những căn cứ sau:  
Một là, dựa trên cơ sở hôn nhân: nam nữ kết xác lập quan hệ vợ  
chồng theo quy định của pháp luật.  
Hai là, dựa trên cơ sở quan hệ huyết thống: Sự kiện sinh đẻ làm  
phát sinh quan hệ pháp luật giữa cha mẹ - các con bao gồm con trong  
giá thú và ngoài giá thú (điều 63, điều 64 Luật Hôn nhân và gia  
đình 2000).  
Ba là, dựa trên cơ sở quan hệ nuôi dưỡng: Sự kiện nuôi con  
nuôi.  
2.2. Các chức năng của gia đình  
Các chức năng của gia đình được nhiều ngành khoa học nghiên  
cứu trong phạm vi khác nhau. Theo quan điểm của các nhà khoa học  
xã hội, gia đình có các chức năng chủ yếu sau đây:  
Một là, chức năng tái sản xuất ra con người;  
14  
Hai là, chức năng kinh tế;  
Ba là, chức năng tiêu dùng;  
Bốn là, chức năng giáo dục;  
Năm là, chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm - sinh lý cho các  
thành viên của mình 4.  
Trong bất kỳ xã hội nào thì gia đình cũng có năm chức năng cơ  
bản này, song tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội mà các chức  
năng trên được giai cấp thống trị chú trọng hơn trong từng giai đoạn  
lịch sử nhất định. Chẳng hạn, trong xã hội phong kiến thì chức năng  
sinh đẻ được chú trọng để con cháu nối dõi tông đường, thờ cúng  
tổ tiên,...  
4. KHÁI NIỆM LUẬT HÔN NHÂN GIA ĐÌNH VIỆT NAM  
Khái niệm Luật Hôn nhân và gia đình có thể hiểu theo nhiều  
nghĩa khác nhau: là một ngành luật, là một môn học và một văn bản  
pháp luật cụ thể:  
Thứ nhất, với tư cách là một ngành luật trong hệ thống pháp luật  
Việt Nam, Luật Hôn nhân và gia đình là tổng hợp các quy phạm pháp  
luật do Nhà nước ban hành hoặc thể chế hoá các phong tục tập quán  
tốt đẹp nhằm điều chỉnh các quan hệ về hôn nhân và gia đình (quan hệ  
nhân thân và quan hệ tài sản).  
Thứ hai, Luật Hôn nhân và gia đình với ý nghĩa là một môn học  
đó là hệ thống những khái niệm, quan điểm, nhận thức, đánh giá mang  
tính chất lý luận về pháp luật hôn nhân và gia đình cũng như thực tiễn  
áp dụng thi hành pháp luật hôn nhân và gia đình.  
Thứ ba, với ý nghĩa là một văn bản pháp luật cụ thể đó là kết quả  
của công tác xây dựng pháp luật trong đó có chứa quy phạm của nhiều  
ngành luật, nhưng nội dung chủ yếu là Luật Hôn nhân - gia đình.  
4 . Xem Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội  
năm 2008, tr. 421-424.  
15  
Với tư cách là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt  
Nam, Luật Hôn nhân - gia đình có đối tượng và phương pháp điều  
chỉnh riêng.  
4.1. Đối tượng điều chỉnh  
Đối tượng điều chỉnh của Luật Hôn nhân và gia đình đó là  
những quan hệ xã hội trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, cụ thể là  
quan hệ nhân thân và tài sản giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con và  
giữa những người thân thích ruột thịt khác.  
Đối tượng điều chỉnh của Luật Hôn nhân và gia đình đó là các  
quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản. Tuy nhiên, các quan hệ này  
thuộc đối tượng điều chỉnh của nhiều ngành luật khác như Luật Dân  
sự (điều chỉnh quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản), Luật Thương  
mại (điều chỉnh quan hệ tài sản). Để phân biệt chúng phải dựa vào các  
đặc điểm của đối tượng điều chỉnh trong Luật Hôn nhân và gia đình  
như sau:  
Một là, quan hệ nhân thân là nhóm quan hệ chủ đạo và có ý  
nghĩa quyết định trong các quan hệ hôn nhân và gia đình. Trong đối  
tượng điều chỉnh của Luật hôn nhân và gia đình thì các quan hệ nhân  
thân không mang tính chất tài sản là chủ yếu như quan hệ nhân thân  
giữa vợ - chồng, giữa cha mẹ - con cái,... Trong nhiều trường hợp các  
quan hệ nhân thân có ý nghĩa quyết định chi phối các quan hệ tài sản  
(nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cha mẹ - các con, giữa vợ - chồng...).  
Hai là, yếu tố tình cảm gắn bó giữa các chủ thể là một đặc điểm  
trong quan hệ hôn nhân - gia đình. Trong quan hệ hôn nhân và gia  
đình, yếu tố tình cảm giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Yếu tố tình  
cảm, trong nhiều trường hợp nó quyết định việc phát sinh quan hệ  
giữa các chủ thể (việc kết hôn, nhận nuôi con nuôi), hoặc sự tồn tại  
giữa các thành viên trong gia đình (tình nghĩa vợ chồng). Nếu không  
còn yếu tố tình cảm thì gia đình có thể tan vỡ hay không đạt được  
mục đích của nó.  
16  
Ba là, quyền và nghĩa vụ hôn nhân và gia đình bền vững lâu dài,  
không mang tính chất đền bù ngang giá. Khác với quan hệ dân sự dựa  
trên cơ sở hàng hoá - tiền tệ giữa các chủ thể thì các quan hệ hôn nhân  
và gia đình dựa trên yếu tố tình cảm nên không mang tính chất đền bù  
ngang giá. Chẳng hạn: Việc cấp dưỡng nuôi con, cấp dưỡng giữa vợ  
và chồng tồn tại ngay cả khi vợ chồng đã ly hôn. Bên cạnh đó, các  
quyền, nghĩa vụ hôn nhân và gia đình tồn tại bền vững và chỉ chấm  
dứt khi có những điều kiện pháp luật quy định chặt chẽ (ví dụ như ly  
hôn, chấm dứt việc nuôi con nuôi). Ngược lại, các quyền và nghĩa vụ  
trong luật dân sự lại chấm dứt trên cơ sở thoả thuận hoặc do pháp luật  
quy định, ví dụ như chấm dứt hợp đồng dân sự, bồi thường thiệt hại  
ngoài hợp đồng.  
Bốn là, các quyền và nghĩa vụ hôn nhân và gia đình gắn liền với  
nhân thân các chủ thể không thể chuyển giao cho người khác được.  
Khác với quan hệ dân sự, các chủ thể có thể uỷ quyền cho người khác  
thực hiện các quyền và nghĩa vụ thì trong quan hệ hôn nhân và gia  
đình các chủ thể phải bằng chính hành vi của mình thực hiện các  
quyền và nghĩa vụ đó. Chẳng hạn, tình nghĩa vợ chồng "chung thuỷ,  
thương yêu, quý trọng, chăm sóc giúp đỡ nhau" (điều 11 Luật Hôn  
nhân - gia đình 1986, điều 18 Luật Hôn nhân và gia đình 2000).  
4.2. Phương pháp điều chỉnh  
Xuất phát từ đối tượng điều chỉnh và các đặc điểm của nó, Luật  
Hôn nhân và gia đình có phương pháp điều chỉnh đặc biệt phù hợp với  
những đặc trưng của nó.  
Phương pháp điều chỉnh của Luật Hôn nhân và gia đình là những  
cách thức, biện pháp mà các qui phạm pháp luật hôn nhân và gia đình  
tác động lên các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của nó.  
Phương pháp điều chỉnh của Luật Hôn nhân và gia đình hết sức mềm  
dẻo, chủ yếu là khuyến khích các chủ thể thực hiện các nghĩa vụ và  
quyền hôn nhân và gia đình. Chỉ trong những trường hợp đặc biệt mới  
17  
dùng biện pháp cưỡng chế, ví dụ như hủy việc kết hôn trái pháp luật,  
hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên,... (điều 16,  
điều 14, điều 41 Luật Hôn nhân và gia đình 2000).  
Phương pháp điều chỉnh của Luật Hôn nhân và gia đình có  
những đặc điểm sau:  
Một là, trong quan hệ hôn nhân và gia đình quyền đồng thời là  
nghĩa vụ của chủ thể. Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản  
chung hợp nhất (điều 27), quyền yêu cầu cấp dưỡng của con chưa  
thành niên và nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ và ngược lại (điều 56,  
điều 57),...  
Hai là, các chủ thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình  
phải xuất phát từ lợi ích chung của gia đình. Do vậy, khi thực hiện các  
quyền nhân thân, quyền tài sản, đặc biệt là tài sản chung phải vì lợi  
ích các thành viên trong gia đình. Việc sử dụng tài sản chung của gia  
đình không được vì lợi ích riêng tư của một hoặc một số thành viên  
nào đó, kể cả tài sản riêng trong một số trường hợp nhất định. "Tài sản  
chung được chi dùng để đảm bảo những nhu cầu của gia đình, thực  
hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng", "tài sản riêng của vợ, chồng  
cũng được sử dụng vào các nhu cầu thiết yếu của gia đình trong  
trường hợp tài sản chung không đủ đáp ứng" (điều 28 khoản 2 và điều  
33 khoản 4).  
Ba là, các chủ thể không được phép bằng sự thoả thuận làm thay  
đổi những quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định, bởi lẽ những  
quyền và nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của mỗi chủ thể không thể  
chuyển giao cho người khác được.  
Bốn là, các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình gắn bó mật  
thiết với các quy phạm đạo đức, phong tục tập quán tốt đẹp. Do vậy,  
trước hết khuyến khích các chủ thể thực hiện phong tục tập quán tiến  
bộ cũng chính là thực hiện các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia  
đình một cách tự giác (điều 6 Luật Hôn nhân và gia đình 2000).  
18  
Ngược lại, có những phong tục, tập quán lạc hậu, lỗi thời đã ăn  
sâu vào nhận thức của nhân dân thì phải tuyên truyền, thuyết phục xoá  
bỏ dần dần. Chẳng hạn, tập tục cấm đa thê, đa phu của người Bana,  
cha mẹ có trách nhiệm nuôi dưỡng giáo dục con,... nếu không thực  
hiện thì bị phân xử, giáo dục trước dân làng (người Ê đê, M'nông)  
hoặc nam nữ quan hệ với nhau không phải là vợ chồng thì phạt ba con  
bò mẹ hoặc ba con trâu mẹ (người Chăm); tập tục cấm bỏ nhau, nếu  
bỏ thì một trong hai người phải bỏ sang buôn khác sinh sống  
(người Bana).  
5. NHIỆM VỤ VÀ CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA LUẬT  
HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH  
5.1. Nhiệm vụ của Luật Hôn nhân và gia đình  
Điều 1 của Luật hôn nhân và gia đình 2000 đã xác định rõ  
nhiệm vụ là nhằm:  
- Góp phần xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ hôn nhân và  
gia đình tiến bộ.  
- Xây dựng chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các thành  
viên trong gia đình, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành  
viên trong gia đình.  
- Kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình  
Việt Nam nhằm xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc,  
bền vững.  
5.2. Các nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và gia đình  
Những nguyên tắc cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình là  
những nguyên lý, những tư tưởng chỉ đạo quán triệt toàn bộ hệ thống  
các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình. Nội dung của những  
nguyên tắc cơ bản thể hiện quan điểm pháp luật của Đảng và Nhà  
nước ta đối với nhiệm vụ và các chức năng của các thành viên trong  
gia đình, của các cơ quan hữu quan trọng trong việc thực hiện chế độ  
19  
hôn nhân và gia đình, của các cơ quan hữu quan trong việc thực hiện  
chế độ hôn nhân và gia đình xã hội chủ nghĩa. Các quy phạm pháp  
luật hôn nhân và gia đình phải thể hiện đúng nội dung của các nguyên  
tắc đó. So với Luật Hôn nhân và gia đình 1986, Luật Hôn nhân và gia  
đình 2000 kế thừa các nguyên tắc cơ bản, đồng thời bổ sung thêm một  
số nguyên tắc mới.  
5.2.1. Nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ một, một chồng, vợ  
chồng bình đẳng  
Đây là nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình Nhà  
nước ta, nguyên tắc này có tính kế thừa và khẳng định trong các Luật  
Hôn nhân và gia đình được ban hành từ 1959 đến nay (điều 1 Luật  
Hôn nhân - gia đình 1959, 1986 và 2000).  
5.2.2. Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, các tôn  
giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa  
công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được  
pháp luật bảo vệ  
Nguyên tắc này nhằm đảm bảo quyền tự do kết hôn của nam nữ,  
thể hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc khác nhau  
trên đất nước Việt Nam trong quan hệ hôn nhân. Nguyên tắc này trước  
đây đã được thể hiện tại điều 1 Luật Hôn nhân và gia đình 1986, song  
Luật Hôn nhân và gia đình 2000 khẳng định lại đây là một trong  
những nguyên tắc của chế độ hôn nhân và gia đình.  
5.2.3. Vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số và kế  
hoạch hoá gia đình  
Nguyên tắc này kế thừa và phát triển các quy định của Luật Hôn  
nhân và gia đình 1986 "vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện sinh đẻ có kế  
hoạch" (điều 2). Việc quy định nguyên tắc này khẳng định rằng việc  
thực hiện chính sách kế hoạch hoá của vợ chồng là thực hiện chủ  
trương lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm giảm tỷ lệ dân số. Có như  
20  
vậy thì mới thực hiện được mục tiêu xây dựng gia đình ấm no, bình  
đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững góp phần xây dựng xã hội công  
bằng văn minh. Tuy nhiên, việc thực hiện vấn đề này cần phối hợp với  
nhiều biện pháp, phương thức khác nhau mới có thể đạt được yêu cầu  
đặt ra. Pháp lệnh dân số có hiệu lực pháp luật ngày 01 tháng 5 năm  
2003 quy định mỗi cặp vợ chồng có quyền quyết định thời gian sinh  
con, số con và khoảng cách giữa các lần sinh phù hợp với lứa tuổi,  
tình trạng sức khỏe, điều kiện học tập, lao động, thu nhập và nuôi dạy  
con của cái nhân, cặp vợ chồng trên cơ sở bình đẳng; lựa chọn, sử  
dụng các biện pháp kế hoạch hóa gia đình ( Điều 10, khoản 1). Ngày  
27 tháng 12 năm 2008, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành  
Pháp lệnh sửa đổi điều 10, theo đó mỗi cặp vợ chồng, cá nhân chỉ  
được sinh từ một hoặc hai con, trừ trường hợp đặc biệt Chính phủ  
hướng dẫn trong văn bản riêng.  
5.2.4. Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của cha mẹ, các con cũng như  
các thành viên khác trong gia đình (khoản 4, 5 điều 2)  
Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con thành công dân có ích cho xã  
hội; con có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ; cháu  
có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng ông bà; các thành viên  
khác trong gia đình có nghĩa vụ chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau. Nhà nước  
và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con. Nguyên  
tắc này được thể hiện trong rất nhiều các quy phạm của Luật Hôn  
nhân và gia đình 2000, ví dụ như điều 4, từ điều 34 đến điều 49  
Chương IV,...  
5.2.5. Nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em  
Kế thừa nguyên tắc quan trọng của Luật Hôn nhân và gia đình  
1986 nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ và trẻ em,  
điều 2 khoản 6 quy định: "Nhà nước, xã hội và gia đình có trách  
nhiệm bảo vệ phụ nữ, trẻ em, giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức  
năng cao quý của người mẹ". Nguyên tắc này được thể hiện rõ trong  
21  
các điều 41, điều 42, điều 85 của Luật. Chẳng hạn, quy định "Trong  
trường hợp người vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì  
người chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn" (khoản 2 điều 85).  
6. NGUỒN CỦA LUẬT HÔN NHÂN - GIA ĐÌNH  
Nguồn của Luật Hôn nhân và gia đình là các văn bản quy phạm  
pháp luật (một số quy định dựa trên cơ sở các tập quán tiến bộ) trong  
đó có chứa đựng các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ hôn  
nhân và gia đình. Một văn bản là nguồn của Luật Hôn nhân và gia  
đình phải đảm bảo các yêu cầu của một văn bản quy phạm pháp luật  
nói chung đó là được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành, có  
chứa đựng các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình và được ban  
hành theo trình tự thủ tục luật định.  
Căn cứ vào hiệu lực pháp lý của các văn bản quy phạm pháp luật  
do Nhà nước ban hành có thể phân loại nguồn của Luật Hôn nhân và  
gia đình như sau:  
6.1. Hiến pháp  
Hiến pháp là nguồn của nhiều ngành luật trong đó có Luật Hôn  
nhân và gia đình.  
6.2. Các Bộ luật, Luật  
- Bộ luật Dân sự 2005 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng  
01 năm 2006).  
- Bộ luật Hình sự 1985, 1999 (các tội xâm phạm chế độ hôn  
nhân và gia đình).  
- Luật Bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em (có hiệu lực thi hành  
12/8/1991).  
- Luật Phổ cập giáo dục tiểu học (có hiệu lực thi hành 12  
tháng 8 năm 1991).  
- Luật Hôn nhân và gia đình 1959 (có hiệu lực thi hành từ ngày  
13 tháng 01 năm 1960).  
22  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 53 trang Thùy Anh 13760 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam (Phần 1)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_luat_hon_nhan_va_gia_dinh_viet_nam_phan_1.pdf