Chính sách hình sự đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu trong bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017
CHÍNH SÁCH HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NHÓM TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU
TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ 2015, SỬA ĐỔI, BỔ SUNG 2017
Ths. Vũ Anh Sao1, Ths. Đoàn Trọng Chỉnh2
1Khoa Luật và Quan hệ quốc tế UEF,
Trường đại học Kinh tế Tài chính (UEF)
2Khoa Luật HUTECH,
Trường Đại học Công nghệ TP.HCM
TÓM TẮT
Pháp luật ban hành nhằm điều chỉnh hành vi con người, hướng xã hội đến trật tự nhất định, phù hợp với ý
chí của giai cấp cầm quyền. Tuy nhiên, pháp luật cũng có những thay đổi nhằm phù hợp với điều kiện
kinh tế - xã hội, chính vì vậy các chính sách pháp luật của Nhà nước cũng có những chuyển biến theo từng
giai đoạn lịch sử. Trong phạm vi bài viết, đề cập đến chính sách hình sự của Nhà nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu, được quy định trong Bộ luật hình sự 2015, sửa
đổi, bổ sung 2017.
Từ khóa: Chính sách hình sự; xâm phạm sở hữu.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Hiến pháp và pháp luật quy định, công dân có quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản của mình, cụ
thể là quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt. Do đó, những hành vi trái luật xâm phạm đến quyền sở hữu
tài sản của công dân là vi phạm pháp luật. Tùy vào mức độ nguy hiểm của hành vi mà chủ thể vi phạm có
thể bị xử lý hành chính hoặc hình sự. Các hành vi xâm phạm sở hữu có tính chất nguy hiểm đáng kể cho
xã hội sẽ bị xem xét xử lý hình sự, tuy nhiên chính sách hình sự đối với nhóm tội này cũng có sự thay đổi
theo thời gian và không gian, kể từ khi Bộ luật hình sự đầu tiên 1985 ra đời đến nay là Bộ luật hình sự
2015, sửa đổi, bổ sung 2017 trong chính sách hình sự của Nhà nước đối với nhóm tội này cũng có những
thay đổi phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội và sự biến đổi trong từng giai đoạn lịch sử. Trong phạm vi
bài viết được tác giả trình bày, tập trung vào chính sách hình sự liên quan đến: tội phạm hóa và phi tội
phạm hóa đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu.
1.1. Các nội dung lý luận liên quan
1.1.1. Dấu hiệu của nhóm tội xâm phạm sở hữu
Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình
sự và có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây
thiệt hại cho quan hệ sở hữu.
Dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm sở hữu
Khách thể loại của nhóm tội phạm:
Khách thể loại của các tội xâm phạm sở hữu là quyền sở hữu, bao gồm các quyền chiếm hữu, quyền sử
dụng và quyền định đoạt đối với tài sản của chủ tài sản theo quy định của pháp luật. Thông thường, hành
vi phạm tội xâm phạm sở hữu thì xâm phạm đến cả ba quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt của người
133
khác. Tuy nhiên, có trường hợp hành vi xâm phạm sở hữu chỉ là xâm phạm đến một trong ba quyền trên
như hành vi khách quan của tội “Sử dụng trái phép tài sản” chỉ xâm phạm đến quyền sử dụng tài sản.
Trong thực tế có những hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu, đồng thời lại
gây thiệt hại cho quan hệ xã hội khác và gây sự thiệt hại cho quan hệ xã hội đó mới thể hiện đầy đủ bản
chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi, thì khách thể trực tiếp của những tội phạm này không phải là quan
hệ sở hữu.
Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác (của các cơ quan,
tổ chức hoặc cá nhân). Nếu chủ tài sản có hành vi tự gây thiệt hại cho quyền sở hữu của chính mình mà
không ảnh hưởng đến lợi ích của người khác thì không phạm tội. Còn trong trường hợp đặc biệt, nếu có
hành vi tác động lên tài sản của mình nhằm gây thiệt hại cho quyền sở hữu của người khác thì vẫn bị coi là
phạm tội.
Ngoài quan hệ sở hữu, một số tội phạm trong chương này còn đồng thời xâm phạm quan hệ nhân thân
(quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, tự do thân thể…..) như tội cướp tài sản, bắt cóc nhằm
chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, việc xâm phạm quan hệ nhân thân chỉ là thủ đoạn để người phạm tội đạt
đến mục đích cuối cùng là xâm phạm quan hệ sở hữu. Vì vậy, nhà làm luật sắp xếp các tội phạm này trong
chương các tội xâm phạm sở hữu mà không quy định tại chương các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe,
nhân phẩm, danh dự của con người.
Đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu:
Đối tượng của các tội xâm phạm sở hữu là tài sản. Tài sản bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền
về tài sản. Tuy nhiên, các tài sản trên chỉ trở thành đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu khi
thỏa mãn một số điều kiện nhất định.
Ngoài đối tượng tác động là tài sản, một số tội xâm phạm sở hữu còn có đối tượng tác động là con người
(tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản). Con người là đối tượng tác động của các tội xâm
phạm sở hữu phải có mối quan hệ nhất định với tài sản (chủ sở hữu, người quản lý tài sản, người thân
thích của chủ tài sản…..); việc tác động lên con người nhằm mục đích cuối cùng là tác động lên tài sản để
chiếm đoạt tài sản đó.
Nghiên cứu về đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu có ý nghĩa quan trọng trong việc định tội
và quyết định hình phạt.
Biểu hiện khách quan của nhóm tội phạm:
Các tội xâm phạm sở hữu có đối tượng tác động là tài sản và gây ra thiệt hại về vật chất nên có thể định
lượng được. Vì vậy hầu hết các tội phạm trong nhóm tội này đều có CTTP vật chất. Một số tội phạm trong
nhóm này chỉ riêng hành vi phạm tội đã thể hiện được tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội nên nhà làm luật
quy định dưới dạng CTTP hình thức.
Hành vi khách quan:
Hành vi phạm tội xâm phạm sở hữu rất đa dạng. Tuy nhiên, dựa vào tính chất của hành vi phạm tội, chúng
ta có thể phân nhóm như sau: Hành vi chiếm đoạt tài sản; Hành vi giữ trái phép tài sản; Hành vi sử dụng
trái phép tài sản; Hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản; Hành vi vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng
đến tài sản.
Hành vi chiếm đoạt tài sản: Là hành vi cố ý chuyển biến trái pháp luật tài sản đang thuộc sự quản lý của
người khác thành tài sản của mình.
134
Việc nghiên cứu về hành vi chiếm đoạt tài sản có ý nghĩa trong việc phân biệt các tội phạm sở hữu có tính
chất chiếm đoạt với các tội phạm không có tính chất chiếm đoạt; và phân biệt các tội phạm sở hữu có tính
chất chiếm đoạt với các quan hệ pháp luật dân sự, kinh tế (không phải là tội phạm).
Hành vi chiếm đoạt tài sản có thể thực hiện bằng các hình thức: Cướp tài sản, cưỡng đoạt tài sản, cướp
giật tài sản, công nhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Hành vi chiếm giữ trái phép tài sản: Là hành vi cố tình không giao trả tài sản do ngẫu nhiên mà chiếm hữu
được sau khi chủ tài sản, người quản lý hợp pháp tài sản hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu.
Hành vi sử dụng trái phép tài sản: Là hành vi khai thác lợi ích vật chất do tài sản đem lại mà không được
sự đồng ý của chủ tài sản hoặc quản lý tài sản đó.
Hành vi hủy hoại hoặc làm hư hỏng tài sản: Hủy hoại tài sản là hành vi cố ý làm cho tài sản mất giá trị sử
dụng ở mức độ không còn hoặc khó có khả năng phục hồi lại được. Cố ý làm hư hỏng tài sản là hành vi
làm giảm giá trị sử dụng của tài sản ở mức độ còn khả năng khôi phục lại được.
Hành vi vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản.
Vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản thể hiện dưới dạng hành vi thiếu trách nhiệm gây thiệt hại
nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước hoặc vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản.
Hậu quả của tội phạm:
Hậu quả của các tội xâm phạm sở hữu là những thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe hoặc các loại hậu
quả nghiêm trọng khác do hành vi phạm tội gây ra.
Thiệt hại về tài sản là những thiệt hại trực tiếp do hành vi phạm tội gây ra. Mức độ thiệt hại về tài sản là
một trong những căn cứ quan trọng để định khung hình phạt. Đối với những tội phạm có cấu thành hình
thức, dấu hiệu hậu quả có ý nghĩa trong việc định khung hình phạt, quyết định hình phạt. Đối với những
tội phạm có cấu thành vật chất, dấu hiệu hậu quả vừa có ý nghĩa trong việc định tội, vừa có ý nghĩa trong
việc định khung hình phạt và quyết định hình phạt.
Thiệt hại về vật chất là những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe do hành vi phạm tội gây ra. Cùng với thiệt
hại tài sản, thiệt hại về tính mạng, sức khỏe cũng là một trong những căn cứ quan trọng để định khung
hình phạt và quyết định hình phạt trong nhóm tội xâm phạm sở hữu.
Hậu quả nghiêm trọng khác là những thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe, hoặc hậu quả phi vật chất
(gây ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, an ninh trật tự, an toàn
xã hội…..) do hành vi xâm phạm quyền sở hữu gây ra.
Biểu hiện chủ quan:
Phần lớn các tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Một số tội phạm được thực hiện với lỗi vô ý.
Động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu định tội trong hầu hết các tội phạm trong nhóm các tội xâm
phạm sở hữu. Ngoại trừ trường hợp tội “sử dụng trái phép tài sản” quy định động cơ vụ lợi là dấu hiệu
định tội.
Trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, nhà làm luật thường quy định chiếm đoạt tài sản
là hành vi khách quan của tội phạm. Tuy nhiên, trong tội cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản và
tội cưỡng đoạt tài sản, nhà làm luật quy định “chiếm đoạt tài sản” là dấu hiệu mục đích trong cấu thành tội
phạm.
Chủ thể của tội phạm:
135
Hầu hết các tội xâm phạm hữu có chủ thể thường (người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu
trách nhiệm hình sự). Riêng tội “Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản Nhà nước” đòi
hỏi chủ thể là người có nhiệm vụ trực tiếp trong việc quản lý tài sản Nhà nước (chủ thể đặc biệt).
Chính sách hình sự
Theo Từ điển tiếng Việt “Chính sách” được hiểu là “sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích
nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra chính sách”.
Theo khái niệm như trên, chính sách thường mang tầm vĩ mô gắn liền với một chính thể quốc gia, với giai
cấp cầm quyền, là sự cụ thể hóa các đường lối, chủ trương của giai cấp lãnh đạo, nhằm thực thi các kế
hoạch cụ thể.
Chính sách có thể được phân thành các loại theo lĩnh vực như: chính sách kinh tế, chính sách giáo dục,
chính sách pháp luật… Trong phạm vi hẹp hơn, chúng ta có chính sách hính sự.
Theo cách hiểu như trên, chính sách hình sự được khái niệm là các chính sách của Nhà nước đối với Tội
phạm và Hình phạt, hai phạm trù chỉ được ghi nhận trong pháp luật hình sự, theo đó giai cấp cầm quyền
đưa ra các chính sách trong việc đấu tranh phòng và chống tội phạm, chính sách liên quan đến tội phạm
hóa và phi tội phạm hóa qua các giai đoạn của lịch sử, được cụ thể hóa trong các bộ luật hình sự đã được
ban hành và có hiệu lực.
1.1.2. Khái niệm tội phạm hóa và phi tội phạm hóa
Tội phạm hóa: Là việc xác định một hành vi là tội phạm và được quy định trong Bộ luật hình sự và có tính
chịu hình phạt kèm theo.
Phi tội phạm hóa: Đối lập với tội phạm hóa, đó là việc loại trừ tội phạm, hành vi không được quy định
trong bộ luật hình sự, không phải là tội phạm do đó không có tính chịu hình phạt.
1.2. Chính sách tội phạm hóa và phi tội phạm hóa đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu trong
Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017
1.2.1. Tội phạm hóa
Bổ sung thêm dấu hiệu định tội “Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ”,
trong trường hợp tài sản bị xâm phạm dưới mức định lượng so với trường hợp xâm phạm sở hữu thông
thường.
Bổ sung thêm các dấu hiệu định tội không cần định lượng trong trường hợp tài sản bị xâm phạm là “di vật,
cổ vật”.
1.2.2. Phi tội phạm hóa
Thu hẹp phạm vi xử lý hình sự đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội. Cụ thể, theo quy định BLHS hiện
hành, trong nhóm tội xâm phạm sở hữu, chỉ có tội cướp tài sản và bắt cóc chiếm đoạt tài sản thì ở giai
đoạn chuẩn bị phạm tội mới phải chịu trách nhiệm hình sự.
Thu hẹp phạm vi xử lý hình sự đối với đối tượng phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi. Cụ thể, lứa tuổi
này chỉ chịu trách nhiệm hình sự đối với tội cướp tài sản, bắt cóc chiếm đoạt tài sản, cướp giật tài sản,
trộm cắp tài sản, hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác ở mức rất nghiêm trọng hoặc đặc
biệt nghiêm trọng.
Nâng giá giá trị định lượng tài sản bị xâm phạm tối thiểu là dấu hiệu định tội đối với các tội: Tội sử dụng
trái phép tài sản; tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh
nghiệp; tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản.
136
2. KẾT LUẬN
Với thực tiễn điều kiện kinh tế - xã hội, thì việc Nhà nước có sự thay đổi trong quy định pháp luật hình sự
về tội phạm hóa và phi tội phạm hóa theo tác giả là có cơ sở. Cụ thể, việc nâng định lượng giá trị tài sản
làm cơ sở xác định tội phạm trong điều kiện mới là hợp lý, bởi xã hội phát triển, nền kinh tế phát triển, đời
sống người dân và xã hội được nâng cao, có những giá trị tài sản bị xâm phạm trước đây được coi là nguy
hiểm, thì nay không còn phù hợp nữa, hay không còn tính nguy hiểm đáng kể nữa, do đó nâng cao định
lượng tài sản trong dấu hiệu định tội là một bước cụ thể hóa chính sách phi tội phạm đối với nhóm tội này.
Nhìn chung, về bản chất pháp luật thuộc kiến trúc thượng tầng, được quyết định bởi cơ sở hạ tầng là nền
kinh tế mà xã hội đó đang tồn tại, do đó mọi sự thay đổi trong chính sách hình sự của Nhà nước đối với tội
phạm là điều tất yếu và phù hợp với quy luật khách quan của tự nhiên và xã hội.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017.
[2] Trần Thị Quang Vinh, Vũ Thị Thúy, Tập bài giảng Luật hình sự Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia
TPHCM, 2011.
[3] Tập tài liệu học tập Luật hình sự - Đại học Công nghệ TPHCM.
[4] Nguyễn Thị Phương Hoa, Phan Anh Tuấn – Bình luận khoa học những điểm mới của BLHS 2015,
sửa đổi, bổ sung 2017.
[5] Bộ luật dân sự 2015.
137
Bạn đang xem tài liệu "Chính sách hình sự đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu trong bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
chinh_sach_hinh_su_doi_voi_nhom_toi_xam_pham_so_huu_trong_bo.pdf

