Hoàn thiện pháp luật về thành lập tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp theo tiêu chuẩn quốc tế

VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 81-92  
Original Article  
Legal Recommendations on the Establishment of Worker  
Representative Organization in Enterprise in Accordance with  
International Standards  
Nguyen Le Thu*  
VNU School of Law, 144 Xuan Thuy, Cau Giay, Hanoi, Vietnam  
Received 11 September 2021  
Revised 21 September 2021; Accepted 14 October 2021  
Abstract: In addition to Trade Union, from 1st January 2021, employees in Vietnam are entitled to  
establish and join worker representative organizations in enterprises. This is one of the new  
legislative developments that lack clarifying regulations . In this context, the International Labor  
Organization (ILO) published a Digest of decisions and principles of the Freedom of Association  
Committee of the Governing Body of the ILO, based on about 200 cases presented to this  
organization. Therefore, the research on this vital document might provide Vietnam with the  
opinions of international experts and practical experiences from many countries worldwide on the  
concerned issue for further developing regulations on freedom of association. As this is a big topic,  
this article only focuses on international standards on establishing worker representative  
organization, then comparing them with Vietnamese regulations to find out the gaps to be  
supplemented.  
Keywords: Freedom of association, establishment of worker representative organization in  
enterprise, ILO standards.*  
________  
* Corresponding author.  
E-mail address: [email protected]  
81  
N. L. Thu / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 81-92  
82  
Hoàn thiện pháp luật về thành lập tổ chức của  
người lao động tại doanh nghiệp theo tiêu chuẩn quốc tế  
Nguyễn Lê Thu*  
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam  
Nhận ngày 11 tháng 9 năm 2021  
Chỉnh sửa ngày 21 tháng 9 năm 2021; Chấp nhận đăng ngày 14 tháng 10 năm 2021  
Tóm tắt: Bên cạnh tổ chức Công đoàn, từ ngày 1/1/2021, người lao động có quyền tự do thành lập  
và tham gia các tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp. Đây là một trong những nội dung rất  
mới trong pháp luật Việt Nam, nên chưa có các quy định cụ thể, từ đó khiến cho quá trình thực thi  
nhóm quyền này gặp nhiều khó khăn. Trong bối cảnh đó, Tổ chức Lao động Quốc tế ILO đã có Bộ  
Tổng quan các nguyên tắc bảo vệ quyền tự do hiệp hội dựa trên các phân tích khoảng 200 vụ việc  
xảy ra tại nhiều quốc gia liên quan đến nội dung trên. Do đó, việc khảo cứu các tư liệu này là hữu  
ích để Việt Nam thu thập kinh nghiệm từ thực tiễn hoạt động tại nhiều quốc gia cũng như ý kiến  
chuyên môn của cơ quan chuyên trách quốc tế, từ đó hoàn thiện quy định pháp luật về tự do hiệp  
hội nói chung và việc thành lập tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp nói riêng. Trong khuôn  
khổ bài viết, tác giả tập trung vào tiêu chuẩn quốc tế về thành lập tổ chức đại diện người lao động,  
sau đó phân tích các quy định phát luật về thành lập tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp để  
tìm ra những điểm cần điều chỉnh và bổ sung.  
Từ khóa: Tự do hiệp hội, thành lập tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp, tiêu chuẩn ILO.  
*
Quyền tự do hiệp hội (freedom of  
và chức năng của các tổ chức này. TCĐD NLĐ  
tại cơ sở bao gồm công đoàn cơ sở và tổ chức  
của người lao động tại doanh nghiệp với bản chất  
khác nhau. Trong khi công đoàn là tổ chức chính  
trị xã hội được điều chỉnh bởi Luật Công đoàn  
[2], tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp  
chỉ là tổ chức xã hội đơn thuần làm chức năng  
nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi chính đáng của người  
lao động trong phạm vi quan hệ lao động [3] và  
được điều chỉnh bởi BLLĐ 2019. Tổ chức của  
người lao động tại doanh nghiệp là một khái  
niệm mới và chỉ được quy định bởi các điều  
khoản chung, chưa cụ thể, dẫn đến một số khó  
khăn trong việc thực thi quyền tự do hiệp hội.  
Rất nhiều điều khoản liên quan đến nội dung này  
này còn chờ được làm rõ bởi các văn bản hướng  
dẫn thi hành. Trong bối cảnh đó, tác giả nhận  
association), trong đó có quyền thành lập và gia  
nhập tổ chức đại diện người lao động là một  
trong các quyền cơ bản được bảo đảm bởi rất  
nhiều các công ước quốc tế và thu hút sự quan  
tâm cả về thực tiễn và học thuật. Mặc dù chưa  
phải là thành viên của Công ước số 87 của ILO  
về quyền tự do hiệp hội nhưng trong các Hiệp  
định thương mại song phương và đa phương gần  
đây, Việt Nam thể hiện cam kết mạnh mẽ trong  
việc đảm bảo nhóm quyền này theo các tiêu  
chuẩn được ILO đề ra. Trong xu hướng đó, nhóm  
quyền này được mở rộng đáng kể trong Bộ luật  
Lao động 2019 (BLLĐ 2019) [1]. Bộ luật dành  
một chương XIII để quy định về tổ chức đại diện  
người lao động (TCĐD NLĐ) tại cơ sở và dành  
nhiều điều khoản khác để đề cập về quyền hạn  
________  
* Tác giả liên hệ.  
Địa chỉ email: [email protected]  
N. L. Thu / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 81-92  
83  
thấy ILO, với lịch sử 100 năm phát triển, đã thiết  
lập, thu thập dữ liệu và phát triển nhiều nội dung  
liên quan đến việc đảm bảo quyền tự do hiệp hội  
cả từ góc độ học thuật và thực tiễn. Từ việc phân  
tích các Công ước liên quan, Uỷ ban về quyền tự  
do hiệp hội và quan hệ lao động của ILO (sau  
đây, trong phạm vi bài viết này, gọi tắt là Uỷ ban)  
đã đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật của nhiều  
quốc gia liên quan đến việc bảo vệ quyền tự do  
hiệp hội trong khoảng 200 vụ việc khác nhau.  
Tuy mỗi vụ việc không được giải quyết bởi các  
phán quyết tư pháp, nhưng những kết luận của  
Uỷ ban về từng vụ việc cũng được đưa ra dựa  
trên những lập luận và phân tích pháp lý chặt chẽ.  
Những nội dung này được tổng hợp trong các Bộ  
Tổng tập về các nguyên tắc và quyết định của  
ILO về tự do hiệp hội được sửa đổi bổ sung qua  
6 lần từ năm 1972 đến năm 2018 [4]. Đây là  
nguồn tài liệu đáng giá để tham khảo vì vừa thể  
hiện các ý kiến của chuyên gia về ý nghĩa nội  
hàm của các quyền được bảo vệ theo Công ước,  
vừa chỉ ra những bất cập trong quá trình áp dụng  
thực tiễn tại nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy  
nhiên, mảng nội dung về quyền tự do hiệp hội  
bao gồm nhiều vấn đề nhỏ khác nhau, mà trong  
phạm vi một bài viết, tác giả không thể cùng lúc  
làm rõ. Do vậy, bài viết này tập trung vào các  
tiêu chuẩn quốc tế liên quan đến quyền thành lập  
TCĐD NLĐ. Bài viết sẽ khai thác nguồn tài liệu  
trên cùng với việc tham khảo một số vụ việc tiêu  
biểu tại các quốc gia để có thể đưa ra một số kết  
luận về tiêu chuẩn của ILO về thành lập TCĐD  
NLĐ. Sau đó, bài viết phân tích các quy định  
hiện hành về thành lập tổ chức của người lao  
động tại doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam  
để tìm ra những nội dung cần được bổ sung làm  
rõ nhằm hoàn thiện các quy định về quyền tự do  
hiệp hội.  
thành lập tổ chức đại diện, Công ước này ghi  
nhận quá trình thành lập tổ chức đại diện phải  
tuân thủ theo quy định pháp luật và theo sự lựa  
chọn của chính các thành viên mà không chịu bất  
kỳ sự phân biệt hay xin phép trước nào. Ba nội  
dung trên được coi là các yếu tố then chốt quyết  
định cơ chế đảm bảo pháp lý cho việc thành lập  
TCĐD NLĐ, tuy nhiên, cách hiểu và áp dụng  
còn có nhiều điểm cần được làm rõ phần nào  
thông qua các Bộ Tổng tập và các vụ việc cụ thể.  
Từng nội dung này sẽ được lần lượt phân tích  
dưới đây.  
1.1. Việc thành lập tổ chức đại diện người lao  
động không có sự phân biệt  
Điều 2, Công ước 87 của ILO ghi nhận rằng  
“người lao động có quyền thành lập và tham gia  
tổ chức của họ […] mà không chịu bất kỳ sự  
phân biệt nào”. Thuật ngữ “không có bất kỳ sự  
phân biệt nào” được giải thích là quyền tự do liên  
kết được bảo vệ khỏi mọi hình thức phân biệt đối  
xử dựa trên nghề nghiệp, giới tính, màu da,  
chủng tộc, tín ngưỡng, quốc tịch, quan điểm  
chính trị,… không chỉ dành cho người lao động  
trong khu vực tư nhân của nền kinh tế mà còn  
dành cho cả công chức và người làm việc trong  
khu vực công nói chung [4, Bản tái bản lần 6,  
đoạn 315]. Quan điểm này của Uỷ ban đã thể  
hiện tính kế thừa về các tiêu chuẩn liên quan đến  
chống phân biệt đối xử được đề cập đến trong  
Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và Công ước  
số 111 của ILO về chống phân biệt đối xử trong  
lao động và việc làm. Tuy nhiên, các trường hợp  
cấm phân biệt đối xử trong Công ước 87 được bổ  
sung thêm trường hợp phân biệt giữa khu vực  
kinh tế tư nhân và khu vực công. Với việc bổ  
sung yêu cầu trên vào cách giải thích thuật ngữ  
“không có sự phân biệt nào” của Công ước số 87,  
Uỷ ban muốn nhấn mạnh vào quyền tự do liên  
kết của người lao động trong khu vực công, vốn  
được cho là ít được đề cập đến trong pháp luật  
quốc gia. Nói cách khác, mọi người lao động,  
không vì phạm vi thiết lập quan hệ việc làm,  
1. Tiêu chuẩn của ILO về thành lập tổ chức  
đại diện người lao động  
Công ước 87 của ILO được xây dựng với mục  
đích đảm bảo quyền tự do thành lập và gia nhập  
các tổ chức và hiệp hội của cả người lao động và  
người sử dụng lao động. Liên quan đến bước  
N. L. Thu / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 81-92  
84  
quan hệ lao động trong khu vực kinh tế công mà  
bị giới hạn về quyền tự do hiệp hội. Quan điểm  
này của Uỷ ban được củng cố trong bản Báo cáo  
số 353 năm 2009 về vụ việc số 2625. Trong vụ  
việc này, Chính phủ Ecuador không công nhận  
Liên đoàn quốc gia của Hiệp hội cán bộ tư pháp  
Ecuador (National Federation of Judicial  
Association of Ecuador - FENAJE) là tổ chức đại  
diện cho các cán bộ tư pháp tại Ecuador và bản  
thân các cán bộ tư pháp này không được coi là  
người lao động (worker) để có thể thành lập tổ  
chức đại diện của mình. Quan điểm này của  
Chính phủ Ecuador đã bị coi là trái với nguyên  
tắc “không có bất kỳ một sự phân biệt nào” trong  
việc áp dụng quyền tự do hiệp hội. Tình huống  
tương tự cũng được ghi nhận trong vụ việc số  
2677 được đưa ra tại Uỷ ban. Trong vụ việc này,  
công chức tại Panama không có toàn quyền tự do  
thành lập tổ chức đại diện cho họ, mặc dù pháp  
luật của quốc gia này bảo hộ quyền tự do hiệp  
hội. Công chức có thể thành lập các hiệp hội  
(association) nhưng bị giới hạn bởi nhiều yếu tố  
như phải có tư cách công chức vĩnh viễn, số  
lượng thành viên tối thiểu hoặc việc pháp luật  
quốc gia không quy định cụ thể về quyền đình  
công của công chức. Như vậy, có thể thấy Uỷ  
ban đưa ra quan điểm rõ ràng về việc mở rộng  
đối tượng được hưởng quyền tự do hiệp hội,  
không hạn chế quyền này trong phạm vi khu vực  
kinh tế tư nhân. Tuy nhiên, mặc dù có nhóm đối  
tượng áp dụng rộng lớn, Công ước 87 (Điều 8)  
khẳng định không bắt buộc áp dụng cho người  
làm việc trong lực lượng vũ trang hoặc công an.  
Theo đó, mỗi quốc gia được quyền lựa chọn,  
bằng cách ban hành các quy định pháp luật, có  
hoặc không áp dụng quyền tự do hiệp hội cho  
nhóm đối tượng này. Trong vụ việc số 2738,  
trước khiếu nại của Công đoàn người lao động  
cảnh sát Mát-xơ-cơ-va, Uỷ ban chỉ dừng lại ở  
việc ghi nhận sự việc và để cho Chính phủ tự giải  
quyết dựa trên pháp luật quốc gia.  
sự phân biệt nào” thông qua rất nhiều bản báo  
cáo và các vụ việc được khiếu nại tại cơ quan  
này. Theo đó, mọi hạn chế quyền tự do hiệp hội  
dựa trên sự khác biệt về hợp đồng lao động, về  
chủng tộc, quan điểm chính trị, quốc tịch và tuổi  
tác đều được Uỷ ban coi là trái với điều 2 của  
Công ước 87. Quan điểm đó được thể hiện trong  
nhiều vụ việc khác nhau. Cụ thể, trong vụ việc  
số 2547, các trợ lý nghiên cứu và trợ giảng tại  
các trường đại học tư của Hoa Kỳ khiếu nại việc  
Uỷ ban Quan hệ lao động Quốc gia (National  
Labor Relations Board - NLRB) từ chối quyền  
tổ chức và tham gia thương lượng tập thể theo  
Đạo luật Quan hệ lao động Quốc gia. Chính phủ  
Hoa Kỳ, một mặt từ chối sự ràng buộc bởi Công  
ước 87, vẫn cho rằng nhóm người làm công việc  
trợ lý nghiên cứu và giảng dạy tại các trường đại  
học không có đầy đủ các quyền tự do hiệp hội vì  
quan hệ pháp lý phát sinh giữa nhóm người này  
với trường đại học dựa trên tư cách là sinh viên  
sắp hoặc vừa tốt nghiệp chứ không phải là quan  
hệ lao động. Ngay cả trong tình huống này, Uỷ  
ban vẫn cho rằng nguyên tắc “không có sự phân  
biệt nào” tại Điều 2 của Công ước 87 đã bị vi  
phạm. Tương tự, quyền tự do hiệp hội còn được  
Uỷ ban kêu gọi áp dụng cho các đối tượng khác  
nhau, bao gồm người lao động di trú và lao động  
trẻ em. Bên cạnh đó, mặc dù chưa có khiếu kiện  
liên quan, Uỷ ban cũng đề cập đến tình huống tổ  
chức đại diện người lao động chỉ được thành lập  
bởi người lao động của một người sử dụng lao  
động cũng trái với nguyên tắc chống phân biệt  
đối xử trong áp dụng quyền tự do hiệp hội [4, bản  
tái bản lần thứ 5, 2006, đoạn 271]. Như vậy, có  
thể thấy, nguyên tắc “không có bất kỳ sự phân  
biệt nào” ghi nhận trong tiêu chuẩn quốc tế của  
ILO được hiểu và áp dụng theo một cách rất  
rộng. Việc tuân thủ nguyên tắc này yêu cầu các  
quốc gia thành viên không được áp dụng bất kì  
một quy định hạn chế quyền tự do hiệp hội lên  
bất kỳ chủ thể nào, chỉ vì sự khác biệt về quan hệ  
pháp lý, khu vực kinh tế nơi họ làm việc, quan  
điểm chính trị, chủng tộc, quốc tịch và cả tuổi  
Ngoài ra, Uỷ ban tiếp tục thể hiện cách tiếp  
cận rộng mở về nguyên tắc “không có bất kì một  
N. L. Thu / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 81-92  
85  
một cách tuỳ ý. Như vậy, “sự xin phép” không  
chỉ bao gồm các quy định đề cập trực tiếp đến  
yêu cầu xin phép cụ thể, mà trong suốt quá trình  
thành lập tổ chức, mọi công đoạn được quyết  
định một cách tuỳ nghi hoặc gây cản trở đều bị  
coi là vi phạm nguyên tắc “không cần có sự xin  
phép trước”. Tuy nhiên, nguyên tắc này cũng  
không có nghĩa là người thành lập tổ chức được  
miễn mọi quy định liên quan đến trình tự thủ tục  
thành lập tổ chức theo luật định. Các quy định  
này cần rõ ràng, cụ thể và sự từ chối cho thành  
lập phải dựa trên việc không đáp ứng được các  
quy định trên, chứ không thể là một quyết định  
tuỳ nghi. Quan điểm này được thể hiện rõ ràng  
trong vụ việc số 2701 khi Bộ Lao động và An  
sinh xã hội của An-giê-ri chậm trễ trong việc trả  
lời đơn đề nghị thành lập Hiệp hội cấp quốc gia  
của người lao động trong lĩnh vực đào tạo hướng  
nghiệp (National Union of Vocational Training  
Workers - SNTFP) và đưa ra các yêu cầu cao hơn  
so với luật định về các loại giấy tờ trong hồ sơ  
đề nghị thành lập. Trong trường hợp này, Uỷ ban  
cho rằng Chính phủ An-giê-ri đã không đáp ứng  
được đầy đủ các yêu cầu về nguyên tắc “không  
cần xin phép trước” trong việc thành lập tổ chức  
của người lao động.  
Để hạn chế cơ chế “xin phép trước”, Uỷ ban  
đã tuyên bố rằng các quốc gia có quyền tự do  
trong việc đề ra một trình tự thủ tục thành lập tổ  
chức phù hợp với quy định pháp luật. Trong  
trường hợp này, các thủ tục được quy định bởi  
luật pháp quốc gia liên quan đến điều lệ và hoạt  
động của tổ chức của người lao động và người  
sử dụng lao động sẽ được coi là phù hợp với các  
tiêu chuẩn chung nếu các quy định đó không  
nhằm làm suy yếu hoặc phương hại đến những  
nội dung được ghi nhận trong Công ước 87 [4,  
bản tái bản lần 6, 2018, Đoạn 423]. Trình tự thủ  
tục đó cần bao gồm các bước cụ thể và rõ ràng  
và được công bố một cách công khai. Ngoài ra,  
trình tự thủ tục cần được thiết lập theo hướng khả  
thi đối với người thực hiện, do vậy, nếu có một  
trong các bước tiến hành đăng ký thành lập tổ  
chức bị gặp trở ngại bởi các quy định không rõ  
ràng hoặc khó khăn trong việc thi hành trên thực  
tác. Giới hạn duy nhất mà các quốc gia được  
quyền tự quyết liên quan đến quyền tự do hiệp  
hội cho người làm việc trong lực lượng vũ trang  
và công an. Đây là nhóm đối tượng đặc thù, làm  
việc trong lĩnh vực trọng yếu và có ảnh hưởng  
lớn đến an ninh quốc phòng của mỗi quốc gia.  
Tuy vậy, ngay cả đối với đối tượng này, Uỷ ban  
của ILO cũng khuyến nghị các quốc gia nên  
giảm thiểu sự hạn chế quyền tự do hiệp hội.  
1.2. Việc thành lập tổ chức đại diện người lao  
động cần được quy định theo trình tự thủ tục  
nhất định  
Trong các Bản Tổng tập về quyết định và  
nguyên tắc của tự do hiệp hội do Uỷ ban ban  
hành, vấn đề thứ hai cần lưu tâm trong quá trình  
thành lập tổ chức đại diện là việc tránh hình thức  
“xin phép trước”. Yêu cầu trên có thể đạt được  
nếu việc thành lập tổ chức được áp dụng bởi một  
trình tự thủ tục rõ ràng và mình bạch, trong đó,  
cần nhấn mạnh loại bỏ mọi hình thức “xin phép  
trước” mang tính tuỳ nghi. Do đó, bài viết không  
chỉ đề cập đến một nội dung về “tránh hình thức  
xin phép trước” mà đặt nội dung này trong một  
yêu cầu tổng thể về thành lập TCĐD NLĐ theo  
trình tự thủ tục nhất định bao gồm (i) tránh  
hình thức “xin phép trước”, (ii) trình tự thủ tục  
minh bạch, và (iii) cân nhắc quy định về số  
lượng tối thiểu.  
Yêu cầu đầu tiên đặt ra đối với việc đảm bảo  
quyền tự do hiệp hội trong quá trình thành lập tổ  
chức đại diện người lao động là việc thành lập đó  
có thể được tiến hành mà không cần có bất kỳ sự  
cho phép tuỳ nghi nào trước đó. Yêu cầu này  
cũng được hiểu và áp dụng theo một cách rộng  
mở, không chỉ bao gồm điều kiện về sự đồng ý  
của một cơ quan tổ chức nào, ví dụ như sự cho  
phép liên quan đến yêu cầu phê chuẩn điều lệ và  
các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của tổ chức  
hoặc những bước phải thực hiện trước khi thành  
lập tổ chức [4, bản chỉnh sửa lần 5 năm 2006,  
đoạn 272]. Sự xin phép trước còn được hiểu là  
các hành vi trên thực tế gây cản trở việc thành  
lập tổ chức hoặc cơ quan có thẩm quyền đăng ký  
thành lập tổ chức có quyền từ chối việc thành lập  
N. L. Thu / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 81-92  
86  
tế, thì các quy định đó vẫn bị coi là không tương  
thích với nội dung Công ước 87. Vấn đề này  
được giải thích trong vụ việc số 2777. Theo đó,  
Hiệp hội những người lính cứu hoả Szent Florian  
khiếu nại rằng việc đăng ký thành lập của họ bị  
trì hoãn theo cách thức không phù hợp với Công  
ước 87. Uỷ ban đã có ý kiến rằng, mặc dù các  
bước thành lập tổ chức của người lao động được  
quy định theo luật định, nhưng một số yêu cầu  
trong các bước đó khá tốn kém và việc thiếu đi  
các mẫu đơn đề nghị cụ thể khiến cho việc đăng  
ký thành lập bị từ chối là chưa phù hợp với Công  
ước 87. Tương tự, nếu quá trình nộp đơn xin  
thành lập tổ chức bị từ chối vì không đúng về  
hình thức, người thành lập tổ chức nên có quyền  
nộp lại lần sau để chỉnh sửa về mặt hình thức.  
Ngoài ra, thông qua một số vụ việc, Uỷ ban cũng  
đưa ra yêu cầu về tính công khai của các quy định  
thành lập tổ chức và tính bảo mật đối với thông  
tin cá nhân người thành lập tổ chức đối với việc  
đảm bảo quyền tự do hiệp hội.  
Trong yêu cầu về trình tự thủ tục phù hợp với  
tiêu chuẩn quốc tế, Uỷ ban, dựa vào nhiều vụ  
việc thực tế, đưa ra yêu cầu cụ thể về nội dung  
liên quan đến số lượng tối thiểu của các thành  
viên. Trên thực tế, Uỷ ban không phản đối trực  
tiếp việc pháp luật quốc gia đưa ra yêu cầu cụ thể  
về số lượng thành viên tối thiểu. Yêu cầu này chỉ  
bị coi là đi ngược lại với nguyên tắc chung về  
tính tương thích của trình tự thủ tục khi con số  
đó khó đạt được trên thực tế, và sau đó, trở thành  
trở ngại cho người lao động trong việc thành lập  
tổ chức đại diện họ. Do đó, Uỷ ban đề xuất con  
số này sẽ do pháp luật quốc gia quy định nhưng  
cần phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế [4, bản  
tái bản lần 6 năm 2018, Đoạn 441]. Trong các vụ  
việc thực tế xảy ra, kể cả khi pháp luật quốc gia  
ấn định số tuyệt đối (trong vụ việc số 2909 )  
hoặc số tỉ lệ [4, bản tái bản lần 5 năm 2006, đoạn  
289] và vụ việc 2723 tại cả cấp cơ sở và cấp  
ngành,… thì đều bị coi là vi phạm nguyên tắc  
chung trong bảo đảm quyền tự do hiệp hội vì lý  
do số lượng tối thiểu đó có thể hạn chế quyền tự  
do hiệp hội của một số người lao động.  
1.3. Việc thành lập tổ chức đại diện người lao  
động phải dựa trên sự lựa chọn của chính người  
lao động  
Theo cách tiếp cận của Công ước 87, quyền  
tự do hiệp hội được xây dựng trên nguyên tắc tôn  
trọng quyền tự do lựa chọn việc tham gia hoặc  
thành lập (các) tổ chức của chính mình, và quyền  
tự do đó được đảm bảo cả bằng quy định pháp  
luật và trên thực tế [4, bản tái bản lần 6 năm  
2018, Đoạn 472]. Quyền tự do lựa chọn đó cần  
được đảm bảo bằng nhiều cách thức khác nhau,  
trên nhiều phương diện để bảo đảm người lao  
động có thể thụ hưởng nhóm quyền này một cách  
hiệu quả. Theo các khảo cứu của Uỷ ban dựa trên  
khoảng 200 khiếu nại đến từ nhiều quốc gia,  
quyền tự do phần lớn không đến từ việc thiếu  
vắng quy định pháp luật mà thường xuất phát từ  
việc quá trình thực thi quyền chưa tương thích  
với yêu cầu của Công ước số 87. Phần nội dung  
này dành để làm rõ cách hiểu và áp dụng “quyền  
tự do lựa chọn” trong tự do hiệp hội.  
Đầu tiên, yêu cầu “tự do lựa chọn” trong việc  
thành lập tổ chức đại diện là việc lựa chọn đó  
không bị ràng buộc hoặc giới hạn bởi sự tồn tại  
của các tổ chức khác. Người lao động có quyền  
thành lập tổ chức của họ kể cả khi đã có một tổ  
chức đại diện người lao động tại đơn vị, doanh  
nghiệp hoặc ngành nghề của họ. Cách tiếp cận  
này được thể hiện trong các báo cáo của Uỷ ban  
về vấn đề này. Theo đó, trong trường hợp quy  
định pháp luật quốc gia giới hạn việc thành lập  
TCĐD NLĐ trong một ngành nghề hoặc khu vực  
cụ thể thì quy định đó cũng cần được điều chỉnh  
vì không phù hợp với nguyên tắc tự do lựa chọn  
tham gia hoặc thành lập tổ chức đại diện của  
chính mình [4, bản tái bản lần 6 năm 2018, Đoạn  
478]. Ngoài ra, quyết định từ chối cho phép  
thành lập TCĐD NLĐ vì đã từng có một tổ chức  
đại diện khác tại doanh nghiệp đó của Chính phủ  
Panama đã bị cho là vi phạm nguyên tắc tự do  
lựa chọn. Như vậy, luật pháp quốc gia cần được  
xây dựng và thực thi theo cách không cản trở  
hoặc giới hạn việc thành lập TCĐD NLĐ, cả về  
N. L. Thu / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 81-92  
87  
lý do luật định hoặc lý do đã có sự tồn tại của  
những tổ chức đại diện tương tự. Quyền tự do lựa  
chọn đó còn được hiểu là người lao động có thể  
chia tách hoặc sáp nhập các tổ chức đại diện của  
mình, hoàn toàn theo chủ ý của chính mình và  
không có sự can thiệp của cơ quan Nhà nước.  
Chính phủ không hỗ trợ hoặc ngăn cản những nỗ  
lực hợp pháp của người lao động trong việc thay  
thế tổ chức đại diện này bằng các tổ chức đại diện  
khác, mà theo họ là phù hợp với việc bảo vệ  
quyền lợi chung. Việc sáp nhập các tổ chức đại  
diện với nhau cũng cần dựa trên sự lựa chọn của  
chính người lao động mà không bị can thiệp bởi  
các quyết định của cơ quan chính phủ. Một cá  
nhân sẽ không bị bắt buộc lựa chọn tham gia một  
tổ chức đại diện nào chỉ vì lý do là có duy nhất  
một tổ chức đang hoạt động trong ngành nghề  
của cá nhân đó [4, bản tái bản lần 6 năm 2018,  
Đoạn 490]. Các yêu cầu này nhằm hướng đến  
việc đảm bảo cho người lao động có sự tự do lớn  
nhất, trong khuôn khổ luật định, để lựa chọn  
thành lập, chia tách, sáp nhập tổ chức đại diện vì  
quyền lợi chính đáng của chính họ.  
Thứ hai, trong quá trình thành lập tổ chức đại  
diện, người lao động có quyền tự do lựa chọn  
những vấn đề liên quan đến cấu trúc tổ chức và  
thành phần tham gia tổ chức đó. Các quy định  
pháp luật không nên ràng buộc TCĐD NLĐ vào  
một thể thức tổ chức nhất định mà cần để cho  
người lao động tự mình lựa chọn cấu trúc tổ chức  
của chính họ. Ngoài ra, các thành viên của tổ  
chức đại diện người lao động cũng không bị giới  
hạn bởi các tiêu chí liên quan đến quan hệ pháp  
lý hoặc ngành nghề công việc. Trong các báo cáo  
của mình, Uỷ ban chỉ rõ quan điểm rằng người  
tham gia tổ chức đại diện không thể bị bắt buộc  
đều có mối quan hệ lao động. Thành viên của tổ  
chức đại diện có thể là người lao động (có quan  
hệ lao động) hoặc người làm việc không có quan  
hệ lao động nhưng có chia sẻ cùng các lợi ích  
liên quan đến hoạt động làm việc và lao động.  
Ngoài ra, một tổ chức được thành lập không bắt  
buộc chỉ dành cho người lao động tại một nơi  
làm việc, thành viên của một tổ chức có thể đến  
từ những nơi làm việc khác nhau ở các địa  
phương khác nhau . Như vậy, tiêu chí để gắn kết  
người tham gia cùng một tổ chức đại diện người  
lao động không chỉ là chia sẻ cùng mối quan hệ  
pháp lý hoặc cùng là người lao động tại một nơi  
làm việc. Người lao động có quyền tự do lựa  
chọn tập hợp cùng nhau thành lập tổ chức đại  
diện cho quyền lợi của chính họ.  
Thứ ba, quyền tự do lựa chọn để thành lập  
hoặc tham gia một TCĐD NLĐ còn cần được  
đảm bảo thông qua cơ chế đối xử bình đẳng với  
các tổ chức đại diện. Nội dung này được hiểu là,  
pháp luật quốc gia cần loại bỏ các quy định mang  
tính đặc quyền cho bất kể một TCĐD NLĐ nào  
so với các TCĐD NLĐ khác, bao gồm nhưng  
không giới hạn bởi sự công nhận về tính đại diện  
nhất trong các hoạt động đại diện cho tập thể  
người lao động, ví dụ như quyền đại diện trong  
các cuộc thương lượng tập thể. Việc xác định tổ  
chức có tính đại diện nhất cần dựa vào các mục  
đích và các tiêu chí thành lập của của các hiệp  
hội, tránh những trường hợp được quyết định tuỳ  
nghi bởi một cơ quan Nhà nước [4, bản tái bản  
lần 6 năm 2018, Đoạn 529, 530]. Những phân  
biệt đối xử trực tiếp như quy định pháp luật công  
nhận một tổ chức nhất định có quyền thương  
lượng tập thể, có những đặc quyền nhất định, kể  
cả vì tổ chức đó có số lượng thành viên đông nhất  
cũng đều bị coi là không tương thích với yêu cầu  
“tự do lựa chọn” hiệp hội. Ngoài đặc quyền về  
tính đại diện, các lợi thế khác của một tổ chức  
đại diện được cung cấp bởi cơ quan Nhà nước so  
với các tổ chức khác cũng bị coi là ảnh hưởng  
đến quyền tự do lựa chọn của người lao động.  
Một số ví dụ cho những trường hợp đó là hành  
động ủng hộ của cơ quan Nhà nước nhằm làm  
tăng số thành viên của một tổ chức đại diện  
nhất định hoặc cơ quan Nhà nước đơn giản là  
chỉ cho mượn trụ sở để thành lập tổ chức. Tất  
cả các hành động này đều được kết luận là  
không đảm bảo sự trung lập cần thiết của Nhà  
nước đối với các TCĐD NLĐ, từ đó tạo nên vị  
thế hưởng đặc quyền của một số tổ chức và dẫn  
đến việc đảm bảo “quyền tự do” lựa chọn và  
thành lập TCĐD NLĐ.  
Cuối cùng, quyền tự do lựa chọn thành lập và  
tham gia tổ chức đại diện còn được đánh giá dựa  
trên tiêu chí về môi trường an toàn và các điều  
kiện về thời gian một cách hợp lý để thực thi tất  
cả những công đoạn trong quá trình thành lập  
N. L. Thu / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 81-92  
88  
hoặc tham gia này. Một môi trường an toàn, theo  
đánh giá của Uỷ ban, bao gồm việc loại trừ các  
khả năng người tham gia thành lập tổ chức đại  
diện bị đặt trong những tình huống rủi ro và ảnh  
hưởng đến quyền lợi chính đáng của chính họ.  
Theo đó, trong vụ việc 2882 , người tham gia  
thành lập TCĐD NLĐ phải đối mặt với hàng loạt  
các vụ bắt giữ, tra tấn hoặc bị người sử dụng lao  
động sa thải không có lý do chính đáng. Các  
hành động trên bị nghiêm cấm do ảnh hưởng trực  
tiếp đến quyền tự do lựa chọn thành lập tổ chức  
đại diện của người lao động. Bên cạnh đó, ở mức  
độ nhẹ nhàng hơn, mọi hành động không cần  
thiết nhưng tạo nên áp lực cho người thành lập  
hoặc tham gia TCĐD NLĐ cũng cần được loại  
bỏ, ví dụ như sự có mặt, một cách không cần  
thiết, của lực lượng công an trong quá trình tiến  
hành thành lập tổ chức. Như vậy, mọi tác động  
trực tiếp hoặc gián tiếp, bao gồm cả những  
khuyến khích không cần thiết từ phía Nhà nước  
về việc tham gia TCĐD NLĐ, theo đánh giá của  
Uỷ ban, đều có thể ảnh hưởng đến quyền tự do  
lựa chọn của người lao động trong việc thành lập  
và gia nhập TCĐD NLĐ.  
Ngoài ra, quyền tự do lựa chọn tổ chức đại diện  
của người lao động cũng chưa được đảm bảo [6],  
[7]. Trong bối cảnh đó, BLLĐ 2019 ra đời với  
những ghi nhận đầu tiên về TCĐD NLĐ ngoài  
Công đoàn - tổ chức của người lao động tại  
doanh nghiệp. Các quy định của văn bản này về  
thành lập tổ chức này sẽ được phân tích để đánh  
giá về tính tương thích với các tiêu chuẩn đề cập  
phía trên.  
Sự thay đổi đầu tiên phải kể đến trong BLLĐ  
2019 là việc công nhận TCĐD NLĐ khác ngoài  
Công đoàn. Cùng với công đoàn cơ sở, tổ chức  
của người lao động tại doanh nghiệp được trao  
cho quyền đại diện cho người lao động trong  
nhiều hoạt động quan trọng như tham gia đối  
thoại tại nơi làm việc và thương lượng tập thể [1,  
Điều 63 và 65]. Tuy nhiên, khái niệm mới mẻ  
này chưa được làm rõ về bản chất, chức năng và  
nhiệm vụ. BLLĐ 2019 chỉ dành 1 điều khoản để  
quy định về việc thành lập tổ chức của người lao  
động tại doanh nghiệp. Như vậy, mặc dù được đề  
cập đến và được điều chỉnh bởi pháp luật lao  
động, TCĐD NLĐ ngoài Công đoàn vẫn chưa có  
đầy đủ căn cứ pháp lý để được thành lập và hoạt  
động trên thực tế.  
Nội dung thứ hai cần quan tâm là đối tượng  
được phép thành lập và gia nhập tổ chức của  
người lao động tại doanh nghiệp. Theo BLLĐ  
2019, chỉ người lao động tại doanh nghiệp mới  
có quyền thành lập, gia nhập và tham gia hoạt  
động của tổ chức của người lao động tại doanh  
nghiệp [1, Điều 170.2]. Trong khi đó, theo Luật  
Công đoàn, người lao động là người Việt Nam  
làm việc trong cơ quan, tổ chức doanh nghiệp có  
quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công  
đoàn [2, Điều 5.1]. Như vậy, đối tượng có quyền  
thành lập và gia nhập công đoàn và tổ chức của  
người lao động tại doanh nghiệp không tương  
đồng với nhau. Người lao động trong cả khu vực  
kinh tế tư nhân và kinh tế Nhà nước đều có thể  
thành lập và gia nhập công đoàn. Trong khi đó,  
chỉ người lao động tại các doanh nghiệp mới có  
thể thành lập tổ chức của người lao động tại  
doanh nghiệp. Ngoài ra, khái niệm “người lao  
động” được sử dụng trong BLLĐ 2019 chỉ bao  
gồm những người làm việc theo hợp đồng lao  
động và có quan hệ lao động. Đối tượng này  
2. Quy định pháp luật Việt Nam về thành lập  
tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp  
Pháp luật Việt Nam đã sớm có những quy  
định về quyền của người lao động trong việc  
thành lập và tham gia tổ chức đại diện của họ.  
Tuy nhiên, trong một thời gian dài, quyền tự do  
liên kết của người lao động còn nhiều hạn chế do  
pháp luật chỉ công nhận TCĐD NLĐ duy nhất là  
Công đoàn Việt Nam. Mặc dù người lao động đã  
được trao cho nhiều quyền liên quan đến tự do  
hiệp hội, nhưng một số nội dung được quy định  
tại Bộ luật Lao động 2012 [5] và Luật Công đoàn  
2012 [2] được đánh giá là chưa tương thích với  
các cam kết của Việt Nam trong các Hiệp định  
song phương và đa phương. Trong nhiều nội  
dung liên quan đến quyền tự do hiệp hội, quyền  
thành lập và gia nhập tổ chức đại diện người lao  
động còn bị hạn chế do chưa được áp dụng cho  
nhiều đối tượng như người lao động nước ngoài,  
người làm việc không có quan hệ lao động.  
N. L. Thu / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 81-92  
89  
được phân biệt với “người làm việc không có  
quan hệ lao động” tham gia quá trình làm việc  
không dựa trên hợp đồng lao động [1, Điều 3].  
Do đó, các quy định tại BLLĐ 2019 dẫn đến cách  
hiểu rằng quyền thành lập và gia nhập tổ chức  
của người lao động tại doanh nghiệp chỉ giới hạn  
cho người lao động có quan hệ lao động tại một  
doanh nghiệp nhất định.  
diện người lao động được điều chỉnh bởi Luật  
Công đoàn, trong khi đó, tổ chức của người lao  
động tại doanh nghiệp được điều chỉnh bởi  
BLLĐ 2019, từ đó dẫn đến có thể có những khác  
biệt trong cách thức thực hiện quyền thành lập,  
gia nhập tổ chức đại diện của người lao động.  
Những khác biệt đó, xét theo tiêu chuẩn quốc tế  
như phân tích ở trên, có thể được nhìn nhận như  
sự phân biệt đối xử giữa các TCĐD NLĐ với  
nhau. Tuy nhiên, cách quy định này được đánh  
giá là vẫn đảm bảo sự bình đẳng giữa các TCĐD  
NLĐ trong những hoạt động đại diện cho người  
lao động [8, trang 438]. Ngoài ra, tại cấp cơ sở,  
người lao động có thể lựa chọn thành lập và tham  
gia công đoàn cơ sở hoặc tổ chức của người lao  
động tại doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong các hoạt  
động mang tính tập thể ở cấp cao hơn (ví dụ cấp  
ngành), chỉ có tổ chức công đoàn ngành đại diện  
cho người lao động, ví dụ như thương lượng tập  
thể [1, Điều 72.3]. BLLĐ 2019 chưa đề cập đến  
bất kỳ một tổ chức đại diện người lao động nào  
ngoài công đoàn ở cấp cao hơn cấp cơ sở. Do  
vậy, các quy định này dẫn đến cách hiểu là hiện  
nay TCĐD NLĐ ngoài tổ chức công đoàn chỉ  
mới được thành lập tại cấp cơ sở (doanh nghiệp)  
và chưa thể thành lập ở các cấp cao hơn (cấp  
ngành, khu vực…). Như vậy, quyền tự do thành  
lập và ra nhập tổ chức đại diện của người lao  
động vẫn bị giới hạn ở phạm vi cấp cơ sở. Trong  
khi đó, để đạt được mục tiêu trao cho người lao  
động quyền tự do liên kết, pháp luật quốc gia cần  
xây dựng khung pháp lý cho hoạt động thành lập  
tổ chức đại diện ở mọi cấp và trong mọi ngành  
nghề cũng như khu vực kinh tế khác nhau.  
Nội dung thứ ba liên quan đến tổ chức của  
người lao động tại doanh nghiệp mà BLLĐ 2019  
đề cập đến là trình tự thủ tục thành lập tổ chức  
này [1. Điều 172]. Những quy định này mới chỉ  
dừng lại ở việc đề cập đến (i) tính hợp pháp, (ii)  
yêu cầu đăng ký thành lập, (iii) các trường hợp  
bị thu hồi giấy đăng ký và (iv) trường hợp gia  
nhập công đoàn [1, Điều 172]. Đây là nội dung  
mang tính nguyên tắc cho việc thành lập tổ chức  
và để nội dung chi tiết chờ các hướng dẫn cụ thể  
của Chính phủ. Tuy nhiên, cho đến thời điểm  
công bố bài viết (tháng 10 năm 2021), chưa có  
nghị định hoặc văn bản hướng dẫn thi hành nào  
được ban hành liên quan đến nội dung này. Do  
vậy, quy định pháp luật vẫn thiếu vắng những nội  
dung cụ thể liên quan đến hồ sơ, trình tự, thủ tục  
đăng ký, thẩm quyền, thẩm quyền, thủ tục cấp  
đăng ký, thu hồi đăng ký, quản lý nhà nước đối  
với vấn đề tài chính, tài sản của tổ chức của  
người lao động tại doanh nghiệp cũng như vấn  
đề chia, tách, sáp nhập, giải thể và quyền liên kết  
của các tổ chức này. Hệ quả trực tiếp là các tổ  
chức của người lao động tại doanh nghiệp vẫn  
chưa thể được thành lập và vận hành trên thực tế,  
ảnh hưởng đến việc đảm bảo quyền thành lập và  
tham gia TCĐD NLĐ nói chung.  
Như vậy, đối chiếu với những tiêu chuẩn  
được trình bày trong các phần trên, quy định  
pháp luật hiện hành của Việt Nam về thành lập  
tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp còn  
có những điểm chưa tương thích như sau:  
Một là, các quy định pháp luật về tổ chức của  
người lao động tại doanh nghiệp chưa cụ thể, chi  
tiết và thống nhất với công đoàn cơ sở. Tổ chức  
đại diện người lao động tại cơ sở, theo BLLĐ  
2019, bao gồm công đoàn cơ sở và tổ chức của  
người lao động tại doanh nghiệp và hoạt động  
của mỗi tổ chức được quy định bởi các văn bản  
pháp luật khác nhau. Công đoàn là tổ chức đại  
Hai là, như nhận thấy ở trên, việc thành lập  
và gia nhập tổ chức của người lao động tại doanh  
nghiệp mới chỉ giới hạn cho “người lao động” tại  
“doanh nghiệp”. Như vậy, đối tượng có thể thành  
lập và tham gia tổ chức này chỉ bao gồm người  
tham gia vào quan hệ lao động với hợp đồng lao  
động. Các đối tượng khác như người làm việc  
không có quan hệ lao động, mặc dù thuộc vào  
đối tượng áp dụng của BLLĐ 2019, chưa có  
quyền tự do liên kết này. Ngoài ra, quyền thành  
lập TCĐD NLĐ ngoài công đoàn chưa được áp  
dụng cho đối tượng là công chức và viên chức.  
Như vậy, một cách tổng quát, chỉ người lao động  
N. L. Thu / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 81-92  
90  
tại các doanh nghiệp mới có quyền thành lập tổ  
chức của người lao động tại doanh nghiệp. Đối  
chiếu với các tiêu chuẩn quốc tế về nội dung  
tương ứng, quy định này chưa đảm bảo quyền tự  
do lựa chọn của mọi người lao động trong việc  
thực hiện các quyền thành lập và gia nhập tổ  
chức đại diện của mình. Tiêu chuẩn quốc tế chỉ  
dành ngoại lệ về việc hạn chế nhóm quyền này  
đối với lực lượng vũ trang hoặc công an, trong  
khi đó, quy định pháp luật hiện hành của Việt  
Nam về quyền tự do thành lập và lựa chọn tổ  
chức đại diện mới áp dụng cho người lao động  
tại doanh nghiệp.  
Ba là, bản thân việc thiếu vắng các quy định  
hướng dẫn cụ thể, theo đúng cách hiểu của Uỷ  
ban, đã là chưa tương thích với tiêu chuẩn quốc  
tế vì thực tế vẫn khiến cho hoạt động thành lập  
tổ chức đại diện người lao động chưa thể triển  
khai hiệu quả. Quyền tự do liên kết của người lao  
động vẫn bị coi là chưa được bảo vệ toàn diện,  
hoặc được bảo vệ theo cách thức chưa phù hợp,  
nếu như các quy định về trình tự thủ tục thành  
lập, gia nhập và vận hành tổ chức đại diện chưa  
được công bố rõ ràng, minh bạch và gây trở ngại  
đối với thực tiễn áp dụng quyền này của người  
lao động. Việc thiếu vắng các quy định hướng  
dẫn cụ thể sẽ khiến cho quá trình thực thi quyền  
tự do hiệp hội của người lao động bị ngưng trệ  
và không được đảm bảo trên thực tế. Bên cạnh  
đó, một số nội dung rất khó giải quyết bằng quy  
định pháp luật ví dụ như số lượng thành viên tối  
thiểu để có thể thành lập tổ chức đại diện cũng  
đã được đề cập đến nhưng chưa được giải quyết  
triệt để.  
và đầy đủ về bản chất chức năng của TCĐD  
NLĐ nói chung. Theo tinh thần của Nghị quyết  
06-NQ/TW của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp  
hành Trung ương Đảng khoá XII, tổ chức của  
người lao động tại doanh nghiệp có chức năng  
chính là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính  
đáng của người lao động [9, Tiểu mục 2.10],  
trong khi đó, tổ chức Công đoàn, bên cạnh chức  
năng bảo vệ người lao động, thực hiện các chức  
năng khác của một tổ chức chính trị - xã hội. Do  
sự khác biệt về bản chất và chức năng đó, tổ chức  
của người lao động tại doanh nghiệp cần được  
quy định rõ về bản chất, chức năng và nhiệm vụ  
trong các văn bản pháp luật, làm cơ sở cho việc  
xác định phạm vi hoạt động của tổ chức này. Tổ  
chức của người lao động tại doanh nghiệp cần  
được ghi nhận là tổ chức được thành lập với mục  
đích đại diện cho người lao động và bảo vệ các  
quyền lợi chính đáng của người lao động. Từ bản  
chất này, tổ chức của người lao động tại doanh  
nghiệp sẽ được phép tham gia mọi hoạt động đại  
diện và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người  
lao động một cách bình đẳng với tổ chức công  
đoàn, đảm bảo nguyên tắc bình đẳng được ghi  
nhận tại khoản 3, Điều 170, BLLĐ 2019. Ngoài  
ra, với cách tiếp cận như trên, những khác biệt  
trong quy định về tổ chức công đoàn sẽ không bị  
coi là hình thức phân biệt đối xử với các tổ chức  
của người lao động khác, do tổ chức công đoàn  
còn thực hiện một số chức năng chính trị khác  
mà tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp  
không có.  
Thứ hai, đối tượng được quyền thành lập và  
tham gia tổ chức của người lao động doanh  
nghiệp cũng cần được nghiên cứu để mở rộng  
thêm. So sánh với tiêu chuẩn quốc tế, đối tượng  
có quyền thành lập và tham gia tổ chức của người  
lao động tại doanh nghiệp chỉ là người lao động  
có quan hệ lao động với một người sử dụng lao  
động nhất định, trong khi đó, Công ước 87 được  
giải thích là nên trao quyền đó cho mọi người lao  
động, không bị phân biệt bởi các mối quan hệ  
pháp lý khác nhau. Trên thực tế, trong bối cảnh  
kinh tế toàn cầu phát triển mạnh mẽ, các doanh  
nghiệp trong một ngành nghề hoặc giữa các  
ngành nghề tương hỗ có mức độ tương tác sâu  
rộng nên người lao động tại các nhóm doanh  
3. Đề xuất kiến nghị  
Từ những phân tích về tiêu chuẩn quốc tế và  
quy định pháp luật Việt Nam, bài viết đã nhận  
diện ra một số khoảng trống pháp lý mà hệ thống  
pháp luật cần bổ sung và điều chỉnh. Trong  
khuôn khổ tập trung vào quyền thành lập tổ chức  
của người lao động tại cơ sở, bài viết muốn đưa  
đến một số kiến nghị đề xuất như sau:  
Thứ nhất, một trong những vấn đề quan trọng  
cần đặt ra trong việc hoàn thiện quy định pháp  
luật về quyền tự do hiệp hội là nhận diện đúng  
N. L. Thu / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 81-92  
91  
nghiệp đó có thể chia sẻ một số lợi ích chung liên  
quan đến quyền về lao động. Mặt khác, chính sự  
liên kết chặt chẽ tạo nên sức mạnh tập thể cho  
người lao động để tạo thế cân bằng với người sử  
dụng lao động trong các thương lượng về điều  
kiện làm việc. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện  
nay, khi mà Việt Nam mới bắt đầu xây dựng các  
quy định pháp luật về tổ chức của người lao  
động, việc mở rộng đó cần được quy định theo  
một lộ trình phù hợp, vừa đảm bảo quyền liên kết  
của người lao động, vừa tránh sự lạm dụng quyền  
đó vì những mục đích không phù hợp khác. Do  
vậy, đối tượng có quyền thành lập và tham gia tổ  
chức của người lao động cần được mở rộng trước  
tiên đến người lao động làm việc trong các doanh  
nghiệp cùng một ngành nghề hoặc trong cùng  
một địa bàn và có chia sẻ những lợi ích chung về  
quyền lao động. Tổ chức của người lao động  
không nên chỉ giới hạn ở cấp độ doanh nghiệp  
mà mở rộng ở cấp ngành và khu vực. Sau đó,  
cùng với sự lớn mạnh và trưởng thành của các tổ  
chức của người lao động tại doanh nghiệp, quyền  
tự do liên kết cũng cần được cân nhắc để mở rộng  
đến các đối tượng khác, trong đó có nhóm người  
lao động không có quan hệ lao động.  
Thứ ba, các quy định về thành lập tổ chức đại  
diện người lao động tại cơ sở cần bổ sung chi tiết  
về trình tự thủ tục đăng ký thành lập tổ chức của  
người lao động tại doanh nghiệp. Do tổ chức của  
người lao động tại doanh nghiệp là chủ thể mới  
được quy định trong BLLĐ 2019, quá trình này  
cần được làm rõ trong các văn bản hướng dẫn thi  
hành. Đây được coi là vấn đề then chốt bắt buộc  
mà quy định pháp luật quốc gia cần thực hiện  
nhằm đảm bảo quyền tự do hiệp hội trên thực tế.  
Theo tiêu chuẩn quốc tế, thủ tục đăng ký thành  
lập tổ chức của người lao động cần được quy  
định một cách chi tiết, cụ thể và công khai minh  
bạch. Mọi công đoạn trong quá trình này cần  
được quy định rõ ràng bởi các văn bản pháp luật,  
bao gồm nhưng không bị giới hạn bởi các nội  
dung liên quan đến cơ quan tiếp nhận đơn, thời  
hạn tối đa xử lý đơn, mẫu đơn và các vấn đề chi  
tiết khác nhằm thúc đẩy quá trình thành lập tổ  
chức của người lao động tại doanh nghiệp. Cụ  
thể, quy định pháp luật cần đề cập đến (i) các  
điều kiện thành lập tổ chức của người lao động  
tại doanh nghiệp, (ii) các bước cụ thể trong trình  
tự thủ tục thành lập tổ chức của người lao động  
tại doanh nghiệp và (iii) cách thức công nhận tổ  
chức của người lao động tại doanh nghiệp. Trong  
phạm vi nội dung (i), quy định pháp luật nên đề  
cập đến các điều kiện về thành phần và phạm vi  
tham gia thành lập tổ chức của người lao động  
tại doanh nghiệp. Điều cần chú ý trong các quy  
định này là số lượng thành viên tối thiểu để có  
thể thành lập tổ chức của người đại diện tại  
doanh nghiệp. Trong nội dung (ii), các bước  
thành lập tổ chức của người lao động tại doanh  
nghiệp cần liệt kê đầy đủ các quy định về các  
bước chuẩn bị để thành lập tổ chức, thành phần  
tham gia vào hoạt động thành lập tổ chức, các  
giấy tờ cần chuẩn bị, nội dung cần thống nhất  
giữa những người tham gia thành lập. Các quy  
định này cần chi tiết, cụ thể và khả thi. Bất kỳ  
một trở ngại nào không đáng có tạo ra trong giai  
đoạn này bởi quy định pháp luật sẽ bị coi là vi  
phạm quyền tự do hiệp hội. Cuối cùng, như nhiều  
chủ thể pháp luật khác, tổ chức của người lao  
động tại doanh nghiệp cần được xác định cách  
thức công nhận bởi cơ quan quản lý Nhà nước để  
xác lập đời sống pháp lý. Khác với các công đoàn  
cơ sở, tổ chức của người lao động tại doanh  
nghiệp không thuộc hệ thống công đoàn để được  
công đoàn cấp trên công nhận. Quy định pháp  
luật cần đề cập đến cơ chế này theo hình thức  
đăng ký thành lập tương tự như các pháp nhân  
khác để đảm bảo mục đích hoạt động của tổ  
chức. Các quy định pháp luật cũng cần tránh các  
yêu cầu nhất định về tiêu chuẩn của người thành  
lập tổ chức hoặc sự chấp thuận của người sử  
dụng lao động hay một chủ thể nào khác, nhằm  
đảm bảo rằng quy trình này “không cần sự xin  
phép trước”. Về tổng thể, quy định về trình tự  
thủ tục thành lập TCĐD NLĐ cần tạo sự thuận  
lợi cho người lao động trong việc thực thi nhóm  
quyền này.  
Sau khi khảo cứu tài liệu quốc tế và so sánh  
với pháp luật Việt Nam về thành lập tổ chức của  
người lao động tại doanh nghiệp, bài viết nhận  
định rằng, pháp luật Việt Nam đã và đang tiếp  
cận với các tiêu chuẩn quốc tế, từng bước đảm  
N. L. Thu / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 81-92  
92  
[3] Cổng thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam, Quy  
định về tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở  
bảo đảm thực hiện các cam kết quốc tế, ngày  
24/6/2019 tại liên kết,  
bảo các quyền tự do hiệp hội của người lao động,  
mặc dù vẫn còn một số điểm chưa tương thích và  
cần hoàn thiện. Do quyền tự do hiệp hội nói  
chung và quyền của người lao động thành lập và  
gia nhập TCĐD NLĐ là một vấn đề phức tạp,  
việc đảm bảo toàn diện nhóm quyền này trên  
thực tế rất khó khăn, thể hiện qua hàng trăm vụ  
việc được đưa ra Uỷ ban. Tuy nhiên, hệ thống  
quy định pháp luật của Việt Nam về nội dung  
này đã có những bước tiến vững chắc, tạo tiền đề  
cho việc thực thi đầy đủ quyền tự do hiệp hội của  
người lao động.  
quoc-hoi.aspx?ItemID=40906 (truy cập ngày  
18/8/2021).  
[4] ILO, Tự do Hiệp hội - Bộ Tổng tập về các nguyên  
tắc và quyết định của Uỷ ban ILO về Tự do hiệp  
hội được xuất bản lần đầu vào năm 1972 và được  
tái bản có sửa đổi 6 lần vào các năm 1972, 1976,  
1986, 1996, 2006 và 2018. Bản tái bản năm 2006  
được dịch bởi dịch giả Nguyễn Văn Bình và Phạm  
Thu Lan và bản quyền bản dịch tiếng Việt thuộc về  
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội năm 2017.  
[5] Bộ luật Lao động số 10/2012/QH13 được ban hành  
ngày 18/6/2012 và có hiệu lực từ ngày 1/5/2013 và  
đã được thay thế bởi Bộ luật Lao động 2019.  
Lời cảm ơn  
[6] Lê Thị Hoài Thu, Thực trạng pháp luật lao động  
Việt Nam hiện nay dưới góc nhìn tm chiếu với Hiệp  
định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình  
Dương, Tạp chí Luật học, Đại học Quốc gia Hà  
Nội, số 35 (3), 2019, tr. 30-42.  
Bài viết được thực hiện trong khuôn khổ Đề tài  
cấp Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội mã số  
KL20.05 “Hoàn thiện quy định pháp luật về tổ  
chức đại diện người lao động tại cơ sở” do TS.  
Nguyễn Lê Thu chủ nhiệm.  
[7] Đào Mộng Điệp. Hoàn thiện pháp luật về quyền tự  
do liên kết và thương lượng tập thể của người lao  
động khi thực hiện CPTPP, Tạp chí Nghiên cứu  
Lập pháp số 5(381), tháng 3/2019.  
Tài liệu tham khảo  
[8] Nguyễn Hữu Chí, Nguyễn Văn Bình, Bình luận  
khoa học Bộ luật Lao động 2019, Nhà xuất bản Tư  
pháp, 2021.  
[9] Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII, Nghị  
quyết số 06-NQ/TW của Hội nghị lần thứ tư Ban  
Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII.  
[1] Bộ luật Lao động số 25/2019/QH14 được Quốc hội  
ban hành ngày 20/11/2019 và có hiệu lực ngày  
01/01/2021.  
[2] Luật Công đoàn số 12/2012/QH13 được ban hành  
ngày 20/6/2012 và có hiệu lực từ 1/1/2013.  
A
a
pdf 12 trang Thùy Anh 16360 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hoàn thiện pháp luật về thành lập tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp theo tiêu chuẩn quốc tế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhoan_thien_phap_luat_ve_thanh_lap_to_chuc_cua_nguoi_lao_dong.pdf