Giáo trình Luật đất đai (Phần 2)
Chương 4
CHẾ ĐỘ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI ĐẤT ĐAI
1. KHÁI NIỆM VỀ CHẾ ĐỘ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
ĐẤT ĐAI
1.1. Định nghĩa
Quản lý Nhà nước đối với đất đai là tổng hợp các hoạt động của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu nhà
nước về đất đai; đó là hoạt động trong việc nắm chắc tình hình sử dụng
đất, trong việc phân phối lại vốn đất theo quy hoạch; trong việc kiểm tra
giám sát quá trình sử dụng đất
1.2. Đặc điểm của quản lý Nhà nước về đất đai
Xét về tính chất: Hoạt động quản lý nhà nước về đất đai mang tính
vĩ mô (bao trùm lên tất cả và có tính tổ chức) nhằm khai thác và sử dụng
đất đai có hiệu quả, nó khác với hoạt động quản lý của người sử dụng đất
chỉ mang tính chất nghiệp vụ kỹ thuật, nghiệp vụ gắn liền với hoạt động
sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực của mình.
Xét về số lượng: Hoạt động quản lý đất đai của nhà nước rất phong
phú, đa dạng bao gồm: Điều tra, khảo sát, đo đạc đánh giá, phân loại đất,
lập bản đồ địa chính, quản lý các hoạt động sử dụng đất, thống kê, kiểm
kê, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; kiểm tra, thanh tra việc chấp
hành các chế độ, thể lệ về quán lí sử dụng đất; giải quyết các tranh chấp
khiếu nại tố cáo về đất đai. Ban hành các văn bản pháp luật về quản lý và
sử dụng đất, tổ chức thực hiện các văn bản đó, …
Phân loại các hoạt động quản lý nhà nước về đất đai bao gồm:
- Thứ nhất: Hoạt động nắm chắc tình hình đất đai.
- Thứ hai: Nhà nước thực hiện việc phân phối và phân phối lại đất
đai theo đúng quy hoạch và kế hoạch.
- Thứ ba: Nhà nước phải thường xuyên thanh tra, kiểm tra chế độ
quán lý và sử dung đất đai.
39
Các mặt hoạt động trên có mỗi quan hệ trong một chỉnh thế thống
nhất đều nhằm mục đích bảo vệ, và thực hiện quyền sở hữu nhà nước về
đất đai, quyền lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.
Chế độ quản lý nhà nước đối với đất đai là tổng hợp các quy phạm
pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình quản lý đối với
đất đai.
2. HỆ THỐNG CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI
2.1. Hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước
Quốc hội là người quyết định nhiều chính sách quan trọng trong sự
phát triển của đất nước, là cơ quan thông qua các văn bản luật, quyết định
các vấn đề chiến lược để phát triển đất nước, trong quản lý đất đai Quốc
hội có thẩm quyền:
- Phê chuẩn các quy hoạch, chiến lược trong quản lý và sử dụng đất
đai, thông qua quyết định các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cá
nước, hoạch định các chính sách phát triển lâu dài trong quản lý và sử
dụng đất.
- Thực hiện quyền quyết định và giảm sát tối cao với việc quán lý
và sử dụng đất đai trong phạm vi cả nước.
Ủy ban thường vụ Quốc hội ra các quyết định quan trọng, ban hành
pháp lệnh và các quy định khác để chính phủ quyết định một cách cụ thể
như quyết định về thời hạn để Chính phủ cho thuê đất đối với các dự án
thời hạn cho thuê từ 50 đến 70 năm, quy định về hạn mức nhận quyền sử
dụng đất của hộ gia đình, cá nhân.
Hội đồng nhân dân các cấp ở địa phương thông qua các nghị quyết,
quyết định các vấn đề cụ thể; thực hiện chức năng giám sát đối với các cơ
quan hành chính nhà nước trong quản lý đất đai; thông qua quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất của Ủy ban nhân dân cùng cấp.
2.2. Hệ thống cơ quan hành chính nhà nước
- Cơ quan có thẩm quyền chung: gồm Chỉnh phủ và UBND các
cấp. Chính phủ chịu trách nhiệm quản lý đất đai trên phạm vi cả nước.
UBND chịu trách nhiệm quản lý đất đai tại địa phương.
40
- Cơ quan quản lý chuyên môn về đất đai.
+ Bộ Tài nguyên và Môi trường: Là cơ quan thuộc chính phủ
thực hiện chức năng quán lý nhà nước về các tài nguyên và môi trường.
(Từ năm 1979 đến năm 1994 cơ quan quản lý chuyên ngành về đất đai là
Tổng cụ quản lý ruộng đất, từ năm 1994 đến năm 2002 là Tổng cục địa
chính, từ năm 2000 đến nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường).
+ Sở Tài nguyên và Môi trường: Là cơ quan thuộc Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh có chức năng quản lý tài nguyên đất, các tài nguyên khác và
môi trường; đo đạc bản đồ và đồng thời chịu sự lãnh đạo về mặt chuyên
môn của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
+ Phòng Tài nguyên và Môi trường: Là cơ quan thuộc UBND
cấp huyện có chức năng quản lý tài nguyên đất, các tài nguyên khác và
môi trường; đo đạc bản đồ và, đồng thời chịu sự lãnh đạo về mặt chuyên
môn của sở Tài nguyên và Môi trường.
+ Riêng ở cấp cơ sở hiện nay chưa có cơ quan quản lý chuyên
môn về đất đai mà chỉ có Cán bộ địa chính cấp xã là người giúp Ủy ban
nhân dân xã, phường, thị trấn, trong công tác quán lý đấy đai. Theo Luật
Đất đai năm 2003, cán bộ địa chính xã do UBND cấp huyện bổ nhiệm.
2.3. Các tổ chức dịch vụ công trong quán lý và sử dụng đất
Bên cạnh việc tổ chức, kiện toàn hệ thống cơ quan chuyên ngành
về đất đai, lần đầu tiên Luật Đất đai năm 2003 còn quy định về các tổ
chức dịch vụ công trong quản lý sử dụng đất nhằm cải cách cơ bản thủ
tục hành chính trong lĩnh vực đất đai. Các tổ chức đó bao gồm Văn
phòng đăng ký quyền sử dụng đất, tổ chức phát triển quỹ đất, tổ chức
hoạt động tư vấn trong quản lý và sử dụng đất đai.
2.3.1. Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất
Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc sở tài nguyên và môi
trường có các nhiệm vụ sau:
Thực hiện đăng ký quyền sử dụng đất đối với các trường hợp thuộc
thẩm quyền giao đất cho thuê đất của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Lập, chỉnh lý và quản lý hồ sơ địa chính gốc cung cấp bản sao hồ
sơ địa chỉnh gốc, bản sao hồ sơ biến động đất đai cho Sở Tài nguyên và
41
môi trường, tiếp nhận kết quả biến động đất đai từ cơ quan quản lý đất
đai để chính lý thống nhất về hồ sơ địa chính gốc.
Xây dựng, cập nhật thông tin về đất đai;
Cung cấp các số liệu cho các cơ quan thuế để xác định mức thu hồi
với các loại phí liên quan đến đất đai.
Thực hiện dịch vụ trích lục bản đồ địa chính, trích sao hồ sơ địa
chính, dịch vụ thông tin về đất đai.
Thu phí và lệ phí từ đất đai liên quan đến việc đăng ký quyền sử
dụng đất.
Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng Tài nguyên và
Môi trường có nhiệm vụ sau:
- Đăng ký quyền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân.
- Thực hiện dịch vụ trích lục bản đồ địa chính, trích sao hồ sơ địa
chính, dịch vụ thông tin về đất đai.
- Thu cả phí dịch vụ từ việc đăng ký quyền sử dụng đất.
2.3.2. Tổ chức phát triển quỹ đất
Theo Luật Đất đai năm 2003, Tổ chức phát triển quy đất là do
UBND cấp tỉnh ra quyết định thành lập theo loại hình hoạt động sự
nghiệp có thu nhập hoặc doanh nghiệp công ích có chức năng phát triển
quỹ đất đai, vận động và xúc tiến quỹ đầu tư vào khu vực quy hoạch
nhưng chưa có dự án đầu tư. Tổ chức này có nhiệm vụ sau:
- Thực hiện việc quản lý quỹ đất sau thu hồi theo quy định tại
Khoản 3 Điều 41 Luật Đất đai năm 2003;
- Nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong khu vực có quy
hoạch phải thu hồi đất mà người sử dụng đất có nhu cầu chuyển đi nơi
khác trước khi nhà nước có quyết định thu hồi đất;
- Thực hiện việc bồi thường, giải phóng mặt bằng theo quyết định
thu hồi đất của UBND cấp tỉnh;
- Giới thiệu địa điểm đầu tư, vận động đầu tư theo quy hoạch được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định;
- Tổ chức việc đấu giá quyền sử dụng đất đối với đất đươc nhà
nước giao quản lý.
42
2.3.3. Tổ chức hoạt động dịch vụ trong quản lý và sử dụng đất
Tổ chức hoạt động dịch vụ trong quản lý và sử dụng đất là tổ chức
sự nghiệp có thu do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành
lập hoặc doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được thành lập theo
quy định của pháp luật và được cấp giấy phép hoạt động dịch vụ trong
lĩnh vực đất đai.
Hoạt động dịch vụ trong lĩnh vực đất đai bao gồm các lĩnh vực sau:
- Tư vấn về giá đất;
- Tư vấn về lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
- Dịch vụ đo đạc và bản đồ địa chính;
- Dịch vụ về thông tin đất đai.
3. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẤT ĐAI
3.1. Hoạt động của nhà nước trong việc nắm chắc tình hình đất đai
3.1.1. Hoạt động đánh giá đất
Đánh giá đúng về số lượng, chất lượng đất đai phải điều tra, đo đạc,
khảo sát và phân loại đất.
- Điều tra, đo đạc, khảo sát là biện pháp kỹ thuật nhằm xác định về
số lượng, đồng thời nắm chắc về chất lượng đất như độ phì nhiêu, độ bền
trong kết cấu của đất…. Trên cơ sở đó để phân loại cây trồng. Phân hạng
đất là xác định tác dụng sử dụng cụ thể; đất tốt, đất xấu, đất một vụ lúa,
hai vụ lúa. Phân hạng đất là căn cứ để tính thuế sử dụng đất tiền thuê đất,
tiền đền bù…. Ngoài ra, còn phải xác định cụ thể vị trí của từng lô đất.
Nói chung, việc đánh giá đất chủ yếu được thực hiện bởi các biện
pháp kỹ thuật nghiệp vụ nên pháp luật hiện nay mới chỉ quy định về trách
nhiệm của các cơ quan nhà nước và đề ra một số nguyên tắc trong quá
trình đánh giá đất.
Luật Đất đai quy định về trách nhiệm:
- Chỉnh phủ chỉ đạo UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
điều tra, khảo sát, đo đạc, đánh giá và phân hạng đất.
43
- UBND chỉ đạo cơ quan quán lý đất đai trực thuộc và UBND cấp
dưới quản lý, theo dõi về sự biến động của diện tích đất, loại đất, người
sử dụng đất, kịp thời chỉnh lý các tài liệu về đất đai cho phù hợp với hiện
trạng sử dụng đất ở địa phương mình.
3.1.2. Xây dựng, quản lý hồ sơ địa chính, hồ sơ địa giới hành chính
Theo Luật Đất đai năm 2003, hồ sơ địa chính là hồ sơ phục vụ quản
lý nhà nước đối với việc sử dụng đất bao gồm: Bản đồ địa chính, Sổ Địa
chính, Sổ Mục kê đất đai, Sổ Theo dõi biến động đất đai.
- Bản đồ địa chính là bản đồ thể hiện các thửa đất và các yếu tố địa
lý có liên quan lập theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn, được cơ
quan nhà nước có thẩm quyến xác nhận. Bản đồ địa chính là thành phần
của hồ sơ chính phục vụ thống nhất quản lý nhà nước về đất đai. Bộ Tài
nguyên và Môi trường chỉ đạo việc khảo sát, đo đạc, lập và quản lý bản
đồ địa chính trong phạm vi cả nước, UBND cấp tỉnh tổ chức thực hiện
việc khảo sát, đo đạc, lập và quản lý bản đồ địa chính tại địa phương.
Bản đồ địa chính được quản lý, lưu trữ tại cơ quan quản lý đất đai
cấp tỉnh, cơ quan quản lý đất đai cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã.
Nội dung bản đồ địa chính thể hiện chi tiết đến từng thửa đất theo yêu
cầu công tác quản lý Nhà nước đối với đất đai (như vị trí, ranh giới, hình
thể của thửa đất).
- Bên cạnh bản đồ địa chính là thành phần cơ bản trong hồ sơ địa
chính phục thống nhất quản lý nhà nước về đất đai thì các loại bản đồ
hiện trạng sử dụng đất, bản đồ quy hoạch sử dụng đất cũng có vai trò
quan trọng trong việc nắm chắc tình hình đất đai được quy định tại Điều 20
Luật Đất đai năm 2003.
- Sổ địa chính là sổ được lập cho từng đơn vị xã, phường, thị trấn
để ghi người sử dụng đất và các thông tin về người sử dụng đất đó.
- Sổ mục kê đất đai là sổ được lập cho từng đơn vị xã, phường, thị
trấn để ghi các thửa đất và các thông tin về thửa đất đó.
- Sổ theo dõi biến động đất đai là sổ được lập để theo dõi các
trường hợp có thay đổi trong sử dụng đất gồm thay đổi kích thước và
hình dạng thửa đất, người sử dụng đất, mục đích sử dụng đất, thời hạn sử
44
dụng đất, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
- Nội dung của hồ sơ địa chính bao gồm các thông tin về thửa đất.
+ Số liệu, kích thước, hình thể, vị trí;
+ Người sử dụng đất;
+ Nguồn gốc, mục đích, thời hạn sử dụng đất;
+ Giá đất, tài sản gắn liền với đất, nghĩa vụ tài chính về đất đai
đã thực hiện và chưa thực hiện;
+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền và những hạn chế
về quyền của người sử dụng đất;
+ Biến động trong quá trình sử dụng đất và các thông tin khác
có liên quan.
Hồ sơ địa chính được thiết lập chi tiết đến từng thửa đất theo đơn vị
hành chính xã, phường, thị trấn. Mỗi thửa đất phải có số hiệu riêng và
không trùng với số hiệu các thửa đất khác trong phạm vi cả nước.
Nội dung của hồ sơ địa chính phải được thể hiện đầy đủ, chính xác,
kịp thời phải được chỉnh lý thường xuyên đối với các biến động theo quy
định của pháp luật trong quá trình sử dụng đất.
Hồ sơ địa chính được lập thành một (01) bản gốc và hai (02) bản
sao từ bản gốc; bản gốc được lưu tại văn phòng đăng ký quyền sử dụng
đất thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, một bản sao được lưu tại UBND
xã, phường, thị trấn. Bản gốc hồ sơ địa chính phải được chỉnh lí kịp thời
khi có biến động về quyền sử dụng đất, bản sao hồ sơ địa chính phải
được chỉnh lý phù hợp với bản gốc hồ sơ địa chính.
- Bản đồ địa chính được lập theo quy định sau:
+ Bản đồ địa chính được lập theo chuẩn kỹ thuật thống nhất trên
hệ thống tọa độ nhà nước;
+ Nội dung bản đồ địa chính thể hiện thửa đất, hệ thống thủy
văn, thủy lợi; hệ thống đường giao thông; mốc giới và đường địa giới
hành chính các cấp, mốc giới hành lang an toàn công trình; điểm toạ độ
địa chính, địa danh và các ghi chú chứng minh;
+ Thửa đất phải được thể hiện chính xác về ranh giới; đỉnh thừa
phải có toạ độ chính xác. Mỗi thửa đất phải kèm theo thông tin về số hiệu
45
thửa đất, diện tích thửa đất và ký hiệu loại đất.
+ Bản đồ địa chính phải do các đơn vị được cấp giấy phép hành
nghề hoặc được đăng ký hành nghề đo đạc bản đồ lập.
+ Hồ sơ địa chính được lưu giữ và quản lý dưới dạng tài liệu
trên giấy và từng bước chuyển sang dạng số để quản lý trên máy tính.
UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm đầu tư tin
học hóa hệ thống hồ sơ địa chính.
+ Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành quy phạm, tiêu chuẩn
kỹ thuật, định mức kinh tế đối với việc lập hồ sơ địa chính trên giấy và
hồ sơ địa chính dạng số, quy định tiến trình thay thế hệ thống hồ sơ địa
chính trên giấy bằng hệ thống địa chính dạng số.
3.1.3. Đăng ký đất đai (đăng ký quyền sử dụng đất)
Việc sử dụng đất luôn có sự biến động về chủ thể sử dụng, về diện
tích sử dụng, về loại, hạng đất nên phải thường xuyên đăng ký đất đai.
- Đăng ký quyền sử dụng đất là việc ghi nhận quyền sử dụng đất
hợp pháp đối với một thửa đất xác nhận vào hồ sơ địa chính nhằm xác
lập quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
- Là một biện pháp của nhà nước nhằm theo dõi tình hình sử dụng
đất và những biến động trong quá trình sử dụng đất.
- Quá trình sử đăng ký đất đai là quá trình mà các chủ thể sử dụng
đất làm đơn kê khai những thửa đất của mình đang sử dụng với cơ quan
nhà nước có thẩm quyền. Các cơ quan này xét duyệt và ghi vào số địa
chính để cấp giấy chứng nhận quyến sử dụng đất.
- Đăng ký đất đai là trách nhiệm, nghĩa vụ của các cơ quan quản lý
nhà nước, quản lý về đất đai đồng thời cũng là quyền lợi và nghĩa vụ của
người sử dụng đất.
- Hoạt động đăng ký đất đai có hai loại: Đăng ký ban đầu và đăng
ký biến động.
Đăng ký ban đầu được thực hiện trong các trường hợp sau:
- Được nhà nước giao đất, cho thuê sử dụng;
- Người đang sử dụng đất mà thửa đất đó chưa được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất;
46
- Đăng ký biến động được thực hiện đối với người sử dụng đất đã
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà có sự thay đổi về việc
sử dụng đất trong các trường hợp sau đây:
+ Người sử dụng đất thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển
nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế tặng cho quyền sử dụng đất, thế
chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất;
+ Người sử dụng đất được phép đổi tên;
+ Có thay đổi về hình dạng, kích thước, diện tích thửa đất;
+ Chuyển mục đích sử dụng đất;
+ Có thay đổi về thời hạn sử dụng đất;
+ Chuyển đổi từ hình thức nhà nước cho thuê đất sang hình thức
nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất;
+ Có thay đổi về những hạn chế quyền của người sử dụng đất;
+ Nhà nước thu hồi đất.
Theo Luật Đất đai năm 2003 việc đăng ký đất đai được tiến hành
tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất.
3.1.4. Thống kê, kiếm kê đất đai
Thống kê đất đai là việc Nhà nước tổng hợp, đánh giá trên sơ đồ
địa chính về hiện trạng sử dụng đất đai tại thời điểm thống kê và tình
hình biến động đất đai giữa hai lần thống kê.
Những số liệu thu được từ quá trình thống kê, kiểm kê đất đai
không những để theo dõi tình hình đất đai mà còn cung cấp những thông
tin cần thiết và chính xác cho công tác quy hoạch, kế hoạch hóa đất đai,
giúp cho nhà nước xây dựng những chính sách chế độ quán lý và sử dụng
đất đai một cách hiệu quả.
- Thống kê đất đai được tiến hành mỗi năm một lần và cứ 5 năm thì
tiến hành kiểm kê đất đai. Không tiến hành thống kê đất đai vào năm
kiểm kê.
- Thời điểm thống kê đất đai hằng năm là ngày 01/01 năm sau.
- Thời điểm kiểm kê đất đai 01/01 năm cuối của kỳ quy hoạch sử
dụng đất. Đơn vị thống kê, kiểm kê đất đai là xã, phường, thị trấn.
47
- Trách nhiệm thực hiện việc thống kê, kiểm kê đất đai được quy
định tại Khoản 2 điều 53 Luật Đất đai 2003.
UBND các cấp tổ chức việc thống kê, kiểm kê đất đai tại địa
phương. UBND cấp huyện, UNND cấp xã báo cáo kết quả thống kê, kiểm
kê đất đai tại tại phương lên UBND cấp trên trực tiếp; UBND cấp tỉnh báo
cáo kết quả thống kê kiểm kê đất đai lên Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Bộ Tài nguyên và Môi trường tổng hợp báo cáo Chính phủ về kết
quả thống kê đất đai hằng năm, kết quả kiểm kê đất đai 5 năm của cả nước.
Chính phủ báo cáo Quốc hội kết quả kiểm kê đất đai 5 năm đồng
thời với kế hoạch sử dụng đất đai 5 năm trong cả nước.
Số liệu thống kê, kiểm kê đất đai được sử dụng vào các mục đích sau:
- Đánh giá hiện trạng sử dụng đất, làm căn cứ để lập quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất, làm cơ sở để kiểm tra việc thực hiện quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất;
- Làm tài liệu điều tra cơ bản về tài nguyên đất phục vụ cho việc
xây dựng chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội, quốc phòng, an ninh cả nước, của các ngành và các địa phương;
- Công bố trong niên giám thống kê quốc gia;
- Phục vụ nhu cầu sử dụng dữ liệu về đất đai trong nghiên cứu khoa
học và các nhu cầu khác.
3.1.5. Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Luật Đất đai năm 2003 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26/11/2003 có
hiệu lực từ ngày 01/07/2004. Sự ra đời của Luật Đất đai năm 2003 là một
nhu cầu tất yếu khách quan trên cơ sở kế thừa phát triển các quy định của
Luật Đất đai năm 1993 và luật hóa các văn bản dưới luật nhưng cũng đã
có rất nhiều quy định mang tính khoa học hơn, tiến bộ hơn so với Luật
Đất đai năm 1993. Luật Đất đai năm 2003 đã thể hiện chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là một chứng thư pháp lý do
cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho người sử dụng đất nhằm xác
48
nhận mối quan hệ hợp pháp giữa Nhà nước và người sử dụng đất. Người
có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ được nhà nước bảo hộ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình. Vì vậy bất kỳ người sử dụng đất nào cũng
mong muốn có được chứng thư pháp lý ấy. Tuy nhiên, trong thời gian
qua tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong phạm vi cả
nước diễn ra rất chậm, có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến kế hoạch cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nhà nước không hoàn thành
trong đó một phần không nhỏ là do cơ sở pháp lý cho hoạt động cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất còn nhiều điểm chưa rõ ràng, chưa hợp lý.
Khác với Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003 đã có những
quy định sửa đổi bổ sung cơ bản và quy định chi tiết rõ ràng từ diều 48
đến điều 52 nhằm góp phần nâng cao hiệu quả việc thực hiện các chính
sách đất đai trên thực tế, cụ thể bao gồm một số nội dung cơ bản sau:
- Hình thức của giấy chứng nhận: Trong phạm vi cả nước hiện nay
đang tồn tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo ba mẫu đó là giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp theo Luật Đất đai năm 1987
theo mẫu do Tổng cục Quản lý ruộng đất phát hành, giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất được cấp theo Luật Đất đai năm 1993 theo mẫu do
Tổng cục Địa chính phát hành (người sử dụng đất hay gọi là bìa đỏ) và
Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở đô thị (người
sử dụng đất hay gọi là bìa hồng). Nhưng kể từ khi Quyết định số
24/2004/QĐ-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường được ban hành
ngày 1/11/2004, quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ được sử dụng thống nhất trong phạm vi
cả nước với mọi loại đất do Bộ Tài nguyên Môi trường phát hành. Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất bao gồm một tờ, 4 trang khổ 190mm *
265mm, trang 1 (trang bìa) màu đỏ đối với bản cấp cho người sử dụng
đất bao gồm quốc huy và dòng chữ “Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất”màu vàng, số phát hành màu đen và dấu nổi của Bộ Tài nguyên và
Môi trường. Trang 2 và trang 3 nền được in hoa văn trống đồng màu
vàng tơ ram 35% và ghi nhận những thông tin về thửa đất, về người sử
dụng đất. Trang 4 màu trắng in bảng, in chữ đen để ghi nhận những
thông tin về biến động đất đai.
49
Như vậy, theo Luật Đất đai năm 2003 thì sẽ không còn Giấy chứng
nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở đô thị (tức bìa hồng) nữa.
Trong trường hợp có tài sản gắn liền với đất thì tài sản đó được ghi nhận
trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Chủ sở hữu tài sản phải đăng kí
quyền sở hữu tài sản theo quy định của pháp luật về đăng kí bất động sản
và điều 44, Nghị định số 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày
29/10/2004 về hướng dẫn thì hành Luật Đất đai năm 2003.
Bên cạnh những quy định chung về hình thức Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, Luật Đất đai năm 2003 còn quy định cụ thể về việc
ghi tên người sử dụng đất trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
trong từng trường hợp cụ thể. Ví dụ: tại điều 48 Luật Đất đai năm 2003
và điều 43 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP quy định: “Quyền sử dụng đất
là tài sản chung của vợ và chồng thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
phải ghi cả họ tên vợ và học tên chồng”. Nếu hộ gia đình thì đề nghị chỉ
ghi tên vợ hoặc chồng thì phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ và
chồng có chứng thực của UBND cấp xã. Nếu một trong hai vợ chồng là
người nước ngoài hoặc là người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì chỉ
ghi tên vợ hoặc chồng là cá nhân trong nước. Nếu Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất của cơ sở tôn giáo, cộng đồng dân thì ghi cơ sở tôn
giáo và cộng đồng dân cư trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối
với trường hợp nhiều người sử dụng đất có quyền sử dụng đất chung thì
ghi tên tất cả những người đó. Đối với nhà chung cư thì việc ghi tên Giấy
chứng nhân quyền sử dụng đất theo điều 46, nghị định số 181/2004/NĐ-CP
của Chính Phủ.
Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 29/10/2009 về cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất quy định về nguyên tắc cấp Giấy chứng nhận đó là:
(1). Giấy chứng nhận được cấp cho người có quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất theo
từng thửa đất. Trường hợp người sử dụng đất đang sử dụng nhiều thửa
đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm
muối tại cùng một xã, phường, thị trấn mà có yêu cầu thì được cấp một
Giấy chứng nhận chung cho các thửa đất đó.
50
(2). Thửa đất có nhiều người sử dụng đất, nhiều chủ sở hữu nhà ở,
tài sản khác gắn liền với đất thì Giấy chứng nhận được cấp cho từng
người sử dụng đất, từng chủ sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất.
(3). Giấy chứng nhận được cấp cho người đề nghị cấp giấy sau khi
đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính liên quan đến cấp Giấy chứng nhận, trừ
trường hợp không phải nộp hoặc được miễn hoặc được ghi nợ theo quy
định của pháp luật; trường hợp Nhà nước cho thuê đất thì Giấy chứng
nhận được cấp sau khi người sử dụng đất đã ký hợp đồng thuê đất và đã
thực hiện nghĩa vụ tài chính theo hợp đồng đã ký.
Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 29/10/2009 cũng tiếp tục ghi
nhận Giấy chứng nhận gồm những nội dung chính sau:
(1). Quốc hiệu, Quốc huy, tên của Giấy chứng nhận “Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất”;
(2). Người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất;
(3). Thửa đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
(4). Sơ đồ thửa đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
(5). Những thay đổi sau khi cấp Giấy chứng nhận.
- Hoạt động cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
Luật Đất đai năm 2003 quy định khá cụ thể, chi tiết về đối tượng
được cung cấp giấy, đối tượng không được cấp giấy, về nghĩa vụ tài
chính của hộ gia đình cá nhân khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, về thẩm quyền và trình tự thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất. Ngoài ra, còn quy định việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất trong từng trường hợp cụ thể như cấp cho kinh tế trang trại, cho
đất xây dựng, trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp, cho đất làm mặt bằng
xây dựng cơ sản xuất, kinh doanh…
Điều 49 Luật Đất đai năm 2003 quy định rõ 9 trường hợp việc cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (tức chỉ rõ đối tượng được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất) và Nghị định hướng dẫn thi hành Luật
Đất đai năm 2003 lại chỉ rõ các trường hợp không được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đó là:
51
+ Đất do nhà nước giao để quản lý quy định tại điều 3 của Nghị
định số 181/2004/NĐ-CP;
+ Đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích do ủy bạn nhân dân
xã, phường, thị trấn quản lý sử dụng;
+ Người sử dụng đất cho thuê, thuê lại của người khác mà
không phải là đất thuê hoặc thuê lại trong khu công nghiệp quy định tại
điểm d khoản 5 điều này;
+ Người đang sử dụng đất mà không đủ điều kiện để cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 50 và 51 của
Luật Đất đai;
Đối với Người nhận khoán đất trong các lâm trường. Khi các chủ
thể được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Luật Đất đai hiện hành
cũng xác định rõ trách nhiệm pháp lý của họ là phải thực hiện các nghĩa
vụ tài chính theo quy định của pháp luật và thực hiện đầy đủ các trình tự,
thủ tục pháp lý. Hộ gia đình, cá nhân khi được cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất ngoài việc phải nộp lệ phí địa chính họ còn phải nộp
tiền sử dụng đất. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp xin cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, người sử dụng đất đều phải nộp tiền sử
dụng đất mà Luật Đất đai năm 2003 chỉ rõ những trường hợp nào phải
nộp tiền sử dụng đất và những trường hợp nào không nộp tiền sử dụng
đất. Theo Luật Đất đai năm 2003 thì hộ gia đình, cá nhân sau đây khi làm
thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải nộp tiền sử
dụng đất.
+ Những người có một trong các loại giấy tờ hợp lệ được quy
định tại Khoản 1, Điều 50 Luật Đất đai năm 2003.
+ Người có một trong các loại giấy tờ quy định tại Khoản 1,
Điều 50 nhưng trên giấy tờ đó ghi tên người khác kèm theo giấy tờ về
việc chuyển quyển sử dụng đất có những chữ kí của các bên liên quan
nhưng đến trước ngày 01/07/2004 chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền
sử dụng đất được UBND cấp xã xác nhận đất không có tranh chấp.
+ Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có hộ khẩu thường trú
tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng
thủy sản, làm muối tại vùng có đều kiện kinh tế - xã hội khó khăn được
52
UBND xã nơi có đất xác nhận sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp.
+ Hộ gia đình cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy
tờ quy định tại Khoản 1, Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 nhưng sử dụng
đất ổn định trước ngày 15/10/1999 nay được UBND xã xác nhận đất
không có tranh chấp phù hợp với quy hoạch.
Luật Đất đai năm 2003 quy định trường hợp sau thì người sử dụng
đất làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhân quyền sử dụng đất phải nộp tiền
sử dụng đất:
+ Hộ gia đình cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy
tờ quy định tại khoản 1, điều 50 Luật Đất đai năm 2003 nhưng đã sử
dụng đất từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày luật này có hiệu lực nay
được UBND cấp xã xác nhận đất không có tranh chấp, phù hợp với quy
hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng phải nộp
tiền sử dụng đất theo quy định của Chính phủ.
Ngoài ra trong các trường hợp sau đây, người sử dụng đất cũng
được xem xét để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi họ đã
thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước:
+ Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết
định của tòa án nhân dân, của cơ quan thi hành án quyết định giải quyết
tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước thẩm quyền đã được thi hành.
+ Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được Nhà nước giao,
cho thuê từ 15/10/1993 đến trước ngày 01/07/2004 mà chưa được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Người đang sử dụng đất khi muốn được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất ngoài việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính, họ còn
phải thực hiện theo trình tự thủ tục pháp lí đã được quy định cụ thể tại
Điều 123 Luật đất 2003, Điều 135, 135 Nghị định 181/2004/NĐ-CP và
Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 29/10/2009.
Thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được quy
định tại Điều 52 Luật Đất đai năm 2003. Theo đó UBND cấp tỉnh có
thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức trong
nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được Nhà nước cho thuê
đất; tổ chức, cá nhân nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam, cơ sở tôn
53
giáo; UBND cấp huyện có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân trong nước, cộng đồng dân cư, người
Việt Nam định cư ở nước ngoài được phép mua nhà ở gắn liền với quyền
sử dụng đất ở.
Ngoài việc phân định thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất dựa vào chủ thể thì Khoản 3, Điều 52, Luật Đất đai năm 2003
còn quy định UBND cấp tỉnh ủy quyền cho sở Tài nguyên và Môi trường
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trường hợp thuộc thẩm quyền
của mình. Các trường hợp UBND tỉnh được phép ủy quyền quy định cụ
thể ở Điều 56, Nghị định 181/2004/NĐ-CP (bao gồm 4 trường hợp), sở
Tài nguyên và Môi trường, phòng Tài nguyên và Môi trường, Văn phòng
đăng ký quyền sử dụng đất còn được phép chỉnh lý biến động về quyền
sử dụng đất trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại
Điều 57, Nghị định 181/2004/NĐ-CP. Những quy định về việc ủy quyền
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chỉnh lý biến động trên Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất là một trong những nội dung mới lần đầu
tiên được ghi nhận trong Luật Đất đai năm 2003, mang tính tiến bộ nhằm
giảm bớt một phần công việc cho UBND cấp tỉnh, nâng cao hiệu quả
quản lý đất đai (vì theo Luật Đất đai năm 1993 mọi thẩm quyền về quản
lý đất đai không được phép ủy quyền).
- Đính chính và thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Trong quá trình quản lý nhà nước về đất đai, khi phát hiện nội dung
ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có sai sót thì sở Tài nguyên
và Môi trường, phòng Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm đính
chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Còn việc thu hồi và đính
chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định
tại khoản 2, điều 42, Nghị định số 181/2004/NĐ-CP và Điều 25, Nghị
định số 88/2009/NĐ-CP ngày 29/10/2009 về cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
(1). Khi phát hiện nội dung ghi trên Giấy chứng nhận đã cấp có sai
sót thì Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm đính chính đối với
Giấy chứng nhận thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp,
Phòng Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm đính chính đối với Giấy
chứng nhận do Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp.
54
(2). Thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trái pháp luật thực hiện như sau:
a) Trường hợp Giấy chứng nhận đã cấp mà có văn bản của cơ quan
điều tra, cơ quan thanh tra kết luận là Giấy chứng nhận đã cấp trái với
quy định của pháp luật thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy
chứng nhận có trách nhiệm xem xét, nếu kết luận đó là đúng thì ra quyết
định thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp;
b) Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng
nhận tự kiểm tra và phát hiện Giấy chứng nhận đã cấp là trái pháp luật thì
có trách nhiệm thông báo bằng văn bản tới cơ quan thanh tra cùng cấp để
thẩm tra. Thanh tra cấp huyện có trách nhiệm thẩm tra đối với Giấy
chứng nhận do Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp, Thanh tra cấp tỉnh có
trách nhiệm thẩm tra đối với Giấy chứng nhận do Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh hoặc Sở Tài nguyên và Môi trường cấp. Nếu qua thẩm tra có kết
luận là Giấy chứng nhận cấp trái pháp luật thì cơ quan nhà nước đã cấp
Giấy chứng nhận ra quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp;
c) Trường hợp tổ chức, công dân phát hiện Giấy chứng nhận đã cấp
trái pháp luật thì gửi kiến nghị, phát hiện đến cơ quan nhà nước đã cấp
Giấy chứng nhận. Cơ quan nhà nước đã cấp Giấy chứng nhận có trách
nhiệm xem xét, giải quyết theo quy định tại điểm b khoản này.
(3). Việc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp đối với của trường hợp
không thuộc quy định tại khoản 2 Điều 42 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP
và Khoản 2 Điều 25 Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 29/10/2009 chỉ
được thực hiện khi có bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân đã có
hiệu lực thi hành.
Luật Đất đai năm 2003 ra đời như một nhu cầu tất yếu khách quan,
nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý đất đai của Nhà nước, đồng thời quan tâm
đến người sử dụng đất bằng cách tạo cơ sở pháp lí để bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của người sử dụng đất trong đó các quy định về giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đã được Luật Đất đai năm 2003 quy đinh khá rõ
ràng, minh bạch và hướng dẫn cụ thể tại các nghị định hướng dẫn, sẽ đẩy
nhanh tốc độ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong phạm vi cả
nước, tránh những thủ tục hành chính phức tạp, nhiêu khê; hạn chế việc
lạm quyền, tiêu cực của các cán bộ quản lý đất đai, đáp ứng yêu cầu
55
mong mỏi của nhân dân, tạo niềm tin cho người sử dụng đất để họ yên
tâm cải tạo đất và sử dụng đất đai có hiệu quả, đồng thời Nhà nước cũng
quản lý đất đai thống nhất và khoa học.
3.2. Hoạt động phân phối và phân phối lại đất đai
3.2.1. Quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất
- Khái niệm quy hoạch, kế hoạch đất đai:
+ Quy hoạch đất đai là việc khoanh định hoặc điều chỉnh việc
khoanh định đối với các loại đất cho phù hợp với từng giai đoạn phát
triển kinh tế xã hội của từng địa phương và trong phạm vi cả nước, là sự
tính toán, phân bổ, sử dụng đất cụ thể về số lượng, chất lượng, vị trí,
không gian.
+ Kế hoạch đất đai là việc xác định các biện pháp, thời gian để
sử dụng đất theo quy hoạch.
- Mục tiêu của việc lập quy hoạch, kế hoạch: nhằm lựa chọn được
phương án sử dụng đất hiệu quả cao nhất về kinh tế - xã hội, môi trường -
sinh thái, an ninh - quốc phòng.
- Ý nghĩa quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất:
+ Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những công cụ
để quản lý đất đai được thống nhất;
+ Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đảm bảo cho đất đai được sử
dụng hợp lí, tiết kiệm.
+ Thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Nhà nước thể
hiện quyền định đoạt đối với đất đai.
- Nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất: là những
phương hướng chỉ đạo, cơ sở chủ yếu để dựa vào đó mà pháp luật điều
chỉnh những quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Để hạn chế
những bất cập trong công tác quy hoạch, Luật Đất đai năm 2003 đã quy
định rõ về các nguyên tắc trong hoạt động quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất tại Điều 21. Theo đó việc lập quy hoạch, kế hoạch phải đảm bảo 8
nguyên tắc sau:
(1). Phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh;
56
(2). Được lập từ tổng thể đến chi tiết; quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất của cấp dưới phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của
cấp trên; kế hoạch sử dụng đất phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất
đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, xét duyệt;
(3). Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp trên phải thể hiện
nhu cầu sử dụng đất của cấp dưới;
(4). Sử dụng đất tiết kiệm và có hiệu quả;
(5). Khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường;
(6). Bảo vệ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh;
(7). Dân chủ và công khai;
(8). Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của mỗi kỳ phải được quyết
định, xét duyệt trong năm cuối của kỳ trước đó.
- Căn cứ lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất: Quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất là cơ sở khoa học của cả quá trình quản lý và sử dụng
đất, vì vậy khi xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải thể hiện
được đầy đủ các căn cứ có tính định hướng cho việc thực hiện quy hoạch,
kế hoạch.
- Căn cứ để lập quy hoạch sử dụng đất (Theo Khoản 1, Điều 22,
Luật Đất đai năm 2003 sửa đổi bổ sung năm 2009, năm 2010) bao gồm:
(1) Chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quốc
phòng, an ninh của cả nước; quy hoạch phát triển của các ngành và các
địa phương;
(2) Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước;
(3) Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và nhu cầu của thị trường;
(4) Hiện trạng sử dụng đất và nhu cầu sử dụng đất;
(5) Định mức sử dụng đất;
(6) Tiến bộ khoa học và công nghệ có liên quan đến việc sử dụng đất;
(7) Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất của kì trước.
- Căn cứ để lập kế hoạch sử dụng đất bao gồm:
(1) Quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền quyết định, xét duyệt;
57
(2) Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm năm và hàng năm của
Nhà nước;
(3) Nhu cầu sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng
đồng dân cư;
(4) Kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất kỳ trước;
(5) Khả năng đầu tư thực hiện các dự án, công trình có sử dụng đất.
- Nội dung của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất: được quy định tại
Điều 23 Luật Đất đai năm 2003, và được hướng dẫn cụ thể tại Điều 12,
13, 14 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về
thi hành Luật Đất đai năm 2003.
- Nội dung quy hoạch sử dụng đất:
(1). Điều tra, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp điều kiện tự nhiên,
kinh tế, xã hội trên địa bàn thực hiện quy hoạch.
(2). Đánh giá hiện trạng và biến động sử dụng đất trong kỳ quy
hoạch trước theo các mục đích sử dụng gồm đất trồng lúa nước, đất trồng
cây hàng năm khác, đất trồng cây lâu năm; đất rừng sản xuất, đất rừng
phòng hộ, đất rừng đặc dụng; đất nuôi trồng thủy sản; đất làm muối; đất
nông nghiệp khác; đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị; đất xây dựng trụ
sở cơ quan và công trình sự nghiệp; đất sử dụng vào mục đích quốc
phòng, an ninh; đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp; đất sử dụng
vào mục đích công cộng; đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước
chuyên dùng; đất tôn giáo, tín ngưỡng; đất nghĩa trang, nghĩa địa; đất
bằng chưa sử dụng, đất đồi núi chưa sử dụng, núi đá không có rừng cây.
(3). Đánh giá tiềm năng đất đai và sự phù hợp của hiện trạng sử
dụng đất so với tiềm năng đất đai, so với xu hướng phát triển kinh tế - xã
hội, khoa học - công nghệ theo quy định sau:
a) Đối với đất đang sử dụng thì đánh giá sự phù hợp và không phù
hợp của hiện trạng sử dụng đất so với tiềm năng đất đai, so với chiến
lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, khả năng
áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ trong sử dụng đất;
b) Đối với đất chưa sử dụng thì đánh giá khả năng đưa vào sử dụng
cho các mục đích.
58
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Luật đất đai (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giao_trinh_luat_dat_dai_phan_2.pdf

