Giáo trình Pháp luật kinh tế - Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI
ThS. Nguyễn Văn Lin
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI
Chủ biên
ThS. Nguyễn Văn Lin
GIÁO TRÌNH
MÔN HỌC: PHÁP LUẬT KINH TẾ
NGÀNH: CÁC NGÀNH HỆ CAO ĐẲNG
TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG
(Lưu hành nội bộ)
Ban hành kèm theo Quyết định số: ……. /QĐ-CĐDLHN ngày … tháng …
năm ……… của Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội
Hà Nội, 2018
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI
Chủ biên
ThS. Nguyễn Văn Lin
GIÁO TRÌNH
MÔN HỌC: PHÁP LUẬT KINH TẾ
NGÀNH: CÁC NGÀNH HỆ CAO ĐẲNG
TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG
(Lưu hành nội bộ)
Ban hành kèm theo Quyết định số: ……. /QĐ-CĐDLHN ngày … tháng …
năm ……… của Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội
Hà Nội, 2018
2
LỜI GIỚI THIỆU
mới.
Nội dung Giáo trình nhằm trang bị cho người học những kiến thức và
hiểu biết cơ bản về những quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam liên quan
đến hoạt động kinh doanh, thương mại, đồng thời rèn luyện cho người học các
kỹ năng xử lý tình huống xảy ra trong thực tế.
tập môn Pháp luật kinh tế áp dụng cho hệ Cao đẳng. Giáo trình bao gồm có 8
chương:
Chương 1: Khái quát về Luật Kinh tế Việt Nam
Chương 2: Pháp luật về Doanh nghiệp tư nhân và Hộ kinh doanh cá thể
Chương 3: Pháp luật về công ty
Chương 4: Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại
Chương 5: Pháp luật về trung gian thương mại của thương nhân
Chương 6: Pháp luật về xúc tiến thương mại của thương nhân
Chương 7: Pháp luật về phá sản
Chương 8: Các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại
Nội dung của Giáo trình có sự kế thừa, phát triển các Tập bài giảng trước
của Khoa Giáo dục cơ bản, đồng thời cập nhật những vấn đề mới phát sinh
trong thực tiễn, những quy định mới của pháp luật. Trong quá trình biên soạn
Giáo trình khó có thể tránh khỏi những khiếm khuyết, tập thể tác giả mong nhận
được ý kiến đóng góp từ phía bạn đọc để cuốn sách được hoàn thiện hơn.
Hà Nội, ngày ... tháng ... năm 2018
Nhóm biên soạn
3
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT LUẬT KINH TẾ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm Luật Kinh tế..........................................
1.1.1. Định nghĩa .........................................................
1.1.2. Đối tượng điều chỉnh của Luật Kinh tế .............
1.2. Hành vi thương mại . .......................................... 14
1.2.1. Khái niệm hành vi thương mại ...................... 14
1.2.2. Đặc điểm của hành vi thương mại ................. 17
1.2.3. Phân loại hành vi thương mại ........................ 25
1.3. Thương nhân, chủ thể chủ yếu của Luật Thương mại...31
1.3.1. Khái niệm thương nhân.................................. 31
1.3.2. Đặc điểm của thương nhân............................. 34
1.3.3. Các loại thương nhân ..................................... 41
1.4. Nguồn của Luật Thương mại............................ 47
1.4.1. Các văn bản pháp luật quốc gia. .................... 47
1.4.2. Điều ước quốc tế ............................................ 50
1.4.3. Tập quán thương mại ..................................... 51
1.4.4. Điều lệ của thương nhân ................................ 54
11
13
13
CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN VÀ HỘ KINH
DOANH CÁ THỂ
2.1. Doanh nghiệp tư nhân......................................... 55
2.1.1. Khái niệm doanh nghiệp tư nhân ................... 55
2.1.2. Bản chất pháp lý của doanh nghiệp tư nhân .. 58
2.1.3. Quy chế pháp lývề hình thành và chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp
tư nhân...................................................................... 63
2.2. Hộ kinh doanh cá thể .......................................... 72
2.2.1 Bản chất pháp lý của hộ kinh doanh. .............. 72
2.2.2. Đăng ký kinh doanh đối với hộ kinh doanh cá thể
2.2.3. Thay đổi, tạm ngừng, chấm dứt kinh doanh .. 81
CHƯƠNG 3: PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY
78
3.1. Sự ra đời, phát triển của công ty
3.1.1. Khái niệm chung về công ty .......................... 83
3.1.2. Các loại hình công ty...................................... 85
4
3.2. Phân loại công ty . ............................................. 95
3.2.1. Công ty hợp danh ........................................... 95
3.2.2. Công ty Cổ phần........................................... 102
3.2.3. Công ty trách nhiệm hữu hạn....................... 113
3.3. Thành lập, tổ chức lại và giải thể cụng ty ....... 121
3.3.1. Thành lập và đăng ký kinh doanh................ 121
3.3.2. Tổ chức lại công ty....................................... 126
3.3.3. Giải thể công ty ........................................... 134
CHƯƠNG 4: PHÁP LUẬT VỀ HỢP TÁC XÃ
4.1. Bản chất pháp lý của hợp tác xã...................... 178
4.1.1. Khái niệm hợp tác xã ................................... 178
4.1.2. Đặc điểm của hợp tác xã ............................. 184
4.1.3. Quá trình hình thành và phát triển của hợp tác xã187
5.2. Nguyên tắc, tổ chức, hoạt động cuả hợp tác xã190
5.2.1. Nguyên tắc tự nguyện .................................. 191
5.2.2. Nguyên tắc dân chủ, bình đẳng và công khai193
5.2.3. Nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm
và cùng có lợi.....................................................196
5.2.4. Nguyên tắc hợp tác và phát triển cộng đồng 199
5.3. Thành lập, tổ chức lại và giải thể hợp tác xã.. 200
5.3.1. Thành lập và đăng kí kinh doanh hợp tác xã200
5.3.2. Tổ chức lại hợp tác xã ................................. 206
5.3.3. Giải thể hợp tác xã ....................................... 208
5.4. Quyền, nghĩa vụ cơ bản của hợp tác xã ......... 211
5.4.1. Quyền của hợp tác xã................................... 211
5.4.2. Nghĩa vụ của hợp tác xã............................... 215
5.5. Quy chế pháp lý về xã viên hợp tác xã ........... 221
5.5.1. Xác lập tư cách xã viên hợp tác xã .............. 221
5.5.2. Quyền và nghĩa vụ của xã viên của hợp tác xã224
5.5.3. Chấm dứt tư cách xã viên hợp tác xã........... 226
5.6. Quy chế pháp lý về tổ chức, quản lý hợp tác xã 228
5.6.1. Đại hội xã viên ............................................. 230
5.6.2. Ban quản trị.................................................. 234
5.6.3. Ban kiểm soát .............................................. 239
5
5.7. Chế độ pháp lý về tài sản và tài chính của hợp tác xã.....241
5.7.1. Quy chế pháp lí về tài sản của hợp tác xã.... 241
5.7.2. Quy chế pháp lí về tài chính của hợp tác xã 245
CHƯƠNG 6: PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤ TRUNG GIAN THƯƠNG MẠI
6.1. Khái quát về dịch vụ trung gian thương mại và pháp luật về dịch vụ
trung gian thương mại ..............................249
6.1.1. Khái quát pháp luật về dịch vụ trung gian thương mại
6.1.2. Vai trò của trung gian thương mại ............... 249
6.1.3. Bản chất pháp lý của trung gian thương mại254
6.2. Đại diện cho thương nhân ................................ 261
6.2.1. Bản chất pháp lý........................................... 261
249
6.2.2. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ đại diện cho thương nhân
................................................................................ 262
6.2.3. Chấm dứt hợp đồng đại diện cho thương nhân271
6.3. Mụi giới thương mại ......................................... 272
6.3.1. Bản chất pháp lý........................................... 272
6.3.2. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ
môi giới thương mại ............................................. 276
6.4. Ủy thác mua bán hàng hóa .............................. 279
6.4.1. Bản chất pháp lý........................................... 279
6.4.2. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ uỷ thác mua bán hàng282
6.4.3. Chấm dứt hợp đồng uỷ thác mua bán hàng hoá286
6.5. Đại lý thương mại............................................ 287
6.5.1. Khái niệm và đặc điểm................................. 287
6.5.2. Các hình thức đại lí ..................................... 290
6.5.3. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ đại lý... 291
CHƯƠNG 7: PHÁP LUẬT VỀ MUA BÁN HÀNG HÓA TRONG
THƯƠNG MẠI
7.1. Khái quát về mua bán hàng hóa...................... 353
7.2. Hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại304
7.2.1. Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng mua bán
hàng hóa................................................................. 304
7.2.2. Nội dung của hợp đồng mua bán hàng húa.. 312
7.2.3. Giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa.......... 314
6
7.2.4. Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán
hàng hóa ................................................................ 319
7.2.5. Thực hiện hợp đồng mua hàng hóa.............. 321
7.2.6. Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán
hàng hóa ................................................................. 338
CHƯƠNG 8: PHÁP LUẬT VỀ XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI CỦA
THƯƠNG NHÂN
8.1. Khái quát chung về xúc tiến thương mại và pháp luật về xúc tiến
thương mại ............................................................... 354
8.1.1. Khái niệm xúc tiến thương mại và dịch vụ xúc tiến thương mại.
354
8.1.2. Các hình thức xúc tiến thương mại của thương nhân... 362
8.1.3. Sự hình thành pháp luật về xúc tiến thương mại trong nền kinh tế thị
trường ..................................................................... 364
8.1.4. Vai trò của xúc tiến thương mại và pháp luật
về xúc tiến thương mại trong nền kinh tế thị trường368
8.2. Khuyến mại ....................................................... 370
8.2.1. Khái niệm, đặc điểm của khuyến mại.......... 370
8.2.2. Các hình thức khuyến mại............................ 371
8.2.3. Các hành vi bị cấm trong hoạt động khuyến mại 377
8.3. Quản cáo thương mại........................................ 379
8.3.1. Khái niệm, đặc điểm của Quảng cáo thương mại 379
8.3.2. Hàng hoá, dịch vụ quảng cáo thương mại.... 383
8.3.3. Sản phẩm và phương tiện quảng cáo thương mại 384
8.3.4. Sản phẩm và phương tiện quảng cáo thương mại
8.3.5. Các chủ thể hoạt động quảng cáo thương mại392
8.4. Trưng bày giới thiệu hàng hóa, dịch vụ.......... 396
8.4.1. Khái niệm, đặc điểm của hành vi trưng bày
378
giới thiệu hàng hóa, dịch vụ.................................. 396
8.4.2. Hợp đồng dịch vụ trưng bày giới thiệu hàng húa 397
8.4.3. Hàng hóa, dịch vụ trưng bày và các trường hợp cấm trưng bày, giới
thiệu hàng hoá ........................................................ 399
8.5. Hội chợ, triển lãm thương mại......................... 401
8.5.1. Khái niệm, đặc điểm .................................... 401
8.5.2. Hợp đồng dịch vụ hội chợ, triển lãm thương mại 405
8.5.3. Quy định về hàng hóa, dịch vụ tại hội chợ,
triển lãm thương mại .............................................. 406
7
CHƯƠNG 9: KHÁI QUÁT VỀ PHÁ SẢN
VÀ PHÁP LUẬT PHÁ SẢN
9.1. Khái quát phá sản ............................................. 409
9.1.1. Phá sản, hiện tượng tất yếu trong nền kinh tế
thị trường................................................................ 409
9.1.2. Khái niệm phá sản doanh nghiệp ................. 412
9.1.3. Phân loại phá sản.......................................... 425
9.1.4. Phân biệt phá sản với giải thể ..................... 427
9.2. Khái quát về pháp luật phá sản ....................... 429
9.2.1. Khái niệm pháp luật phá sản........................ 429
9.2.2. Nội dung của pháp luật phá sản. .................. 435
9.2.3. Vai trò của pháp luật phá sản....................... 441
CHƯƠNG 10: CÁC PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
THƯƠNG MẠI
10.1. Khái quát về tranh chấp thương mại và phương thức giải quyết tranh
chấp thương mại....................................................... 447
10.1.1. Tranh chấp thương mại .............................. 455
10.1.2. Phương thức giải quyết tranh chấp thương mại456
10.2. Thương lượng và hòa giải............................... 456
10.2.1. Thương lượng............................................. 462
10.2.2. Hòa giải ...................................................... 467
10.3. Trọng tài thương mại...................................... 467
10.3.1. Các hình thức trọng tài thương mại ........... 467
10.3.2. Thành lập Trung tâm Trọng tài.................. 475
10.3.4. Chấm dứt hoạt động của chi nhánh, văn phòng
đại diện và Trung tâm Trọng tài ............................ 484
10.4. Tòa án............................................................... 484
10.4.1. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại của Tòa án
...................................................................................... 488
10.4.2. Thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh,
thương mại tại Tòa án ............................................ 493
8
GIÁO TRÌNH MÔN HỌC
Tên môn học: Pháp luật Kinh tế
Mã môn học:
Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trò của môn học:
- Vị trí: Là môn học thuộc nhóm môn học cơ sở trong chương trình đào
tạo hệ cao đẳng Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội.
- Tính chất: Là môn học lý thuyết, đánh giá kết quả bằng hình thức thi hết
môn.
- Ý nghĩa và vai trò của môn học/mô đun: Giáo trình nhằm trang bị cho
người học những kiến thức và hiểu biết cơ bản về những quy định pháp
luật hiện hành ở Việt Nam liên quan đến hoạt động kinh doanh, thương
mại, đồng thời rèn luyện cho người học các kỹ năng xử lý tình huống xảy
ra trong thực tế.
Mục tiêu của môn học:
- Về kiến thức: Trình bày được các kiến thức cơ bản về địa vị pháp lý các
loại hình doanh nghiệp và các hoạt động thương mại của thương nhân.
- Về kỹ năng: Trình bày được quy trình việc thành lập các loại hình doanh
nghiệp, cách tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp. Đồng thời nhận thức
được các trường hợp doanh nghiệp bị giải thể và cách thức giải quyết một
vụ án phá sản doanh nghiệp.
- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm: Áp dụng các kiến thức đã học vào
thực tế trong việc lựa chọn loại hình doanh nghiệp để hoạt động kinh
doanh sao cho hiệu quả nhất.
Nội dung của môn học:
CHƯƠNG 1:
KHÁI QUÁT LUẬT KINH TẾ VIỆT NAM
Giới thiệu:
- Khái niệm, đối tượng điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh Luật kinh tế
- Khái niệm, đặc điểm hành vi thương mại
- Khái niệm thương nhân, đặc điểm và các loại thương nhân
Mục tiêu:
- Nhận biết được những kiến thức cơ bản về hành vi thương mại.
- Trình bày được khái niệm và đặc điểm thương nhân.
Nội dung chính:
9
1.1. Khái niệm, đối tượng điều chỉnh Luật kinh tế
Trong bất cứ nền kinh tế hàng hóa nào cũng tồn tại một bộ phận quan hệ
kinh tế quan trọng và tương ứng với nó có một bộ phận quy phạm pháp luật điều
chỉnh. Tùy thuộc, những trường phái nghiên cứu khoa học khác nhau mà bộ
phận quy phạm pháp luật này được coi là một ngành luật độc lập hoặc một
ngành luật phát sinh từ luật dân sự hoặc thậm chí chỉ coi là một môn học với
những tên gọi khác nhau (Luật Kinh tế, Luật Thương mại hoặc Luật Kinh
doanh).
Ở Việt Nam, trong mỗi một chế độ xã hội, trong mỗi một thời kỳ lịch sử tên
gọi ngành luật điều chỉnh các quan hệ kinh tế (thương mại hoặc kinh doanh)
cũng không được thống nhất: Dưới thời Pháp thuộc và dưới chế độ Việt Nam
cộng hòa, ngành luật này có tên gọi là luật thương mại; trong nền kinh tế kế
hoạch hóa tập trung, ngành luật này lại có tên gọi là Luật Kinh tế và tên gọi này
được sử dụng trong những năm đầu của công cuộc xây dựng nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, để có sự phù hợp giữa tên gọi
của đối tượng điều chỉnh với tên gọi của ngành luật; để tránh sự nhầm lẫn không
cần thiết với pháp Luật Kinh tế1 và quan trọng hơn, để có sự tương thích về tên
gọi ngành luật hiện đang có tên là Luật Kinh tế với tên gọi của bộ phận pháp
luật tương tự ở hầu hết các nước có nền kinh tế thị trường, trong thời gian gần
đây khi xây dựng chương trình khung giảng dạy đại học, Luật Kinh tế đã được
giới khoa học đổi tên thành là luật thương mại. Như vậy, về thực chất luật
thương mại ở đây được nhìn nhận với tư cách là một môn học và là sự kế thừa,
phát triển môn học Luật Kinh tế trước đây ở các trường đại học luật của Việt
Nam. Với sự kế thừa như vậy, xét dưới giác độ học thuật, khái niệm Luật Kinh
tế được thể hiện trong khái niệm Luật Kinh tế trong tập bài giảng của trường cao
đẳng du lịch Hà Nội vẫn có ý nghĩa nhất định cần được tham khảo2.
Theo phương pháp nghiên cứu khoa học truyền thống, khi xác định khái niệm
Luật Kinh tế, giới nghiên cứu thường nghiên cứu dưới những bình diện khác
nhau: Luật Kinh tế có thể nghiên cứu với tư cách là một ngành luật độc lập, với
tư cách là một ngành khoa học và cũng có thể được xem xét với tư cách là một
môn học.
1.1.1. Khái niệm
Trên cơ sở kế thừa những thành tựu nghiên cứu các vấn đề lý luận của Luật
Kinh tế trước đây và dựa vào sự phát triển của đời sống thương mại cũng như sự
phát triển của pháp luật thương mại hiện nay, Luật Kinh tế có thể được hiểu là
1
Xem, Trường Đại học Luật Hà Nội (2000), Giáo trình Luật Kinh tế,NXB Công An nhân dân, Hà Nội, Tr. 12-
13.
2
Xem thêm: Trường Đại học Luật Hà Nội (2003), "Khái niệm Luật Kinh tế", Giáo trình Luật Kinh tế, NXB
Công An nhân dân, Hà Nội, Tr. 12-21.
10
tổng thể các quy phạm do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các
quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức và thực hiện hoạt động thương
mại giữa các thương nhân với nhau và với các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền.
1.1.2. Đối tượng điều chỉnh
Từ khái niệm trên, có thể nhận thấy Luật Kinh tế có hai thuộc tính (đặc
điểm) quan trọng. Đó là:
Thứ nhất, phạm vi điều chỉnh của Luật Kinh tế chính là:
- Các hoạt động thương mại của thương nhân như: Đầu tư, mua bán hàng
hóa, cung ứng dịch vụ đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục
đích sinh lợi khác.
- Các hoạt động mang tính tổ chức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
nhưng liên quan trực tiếp đến hoạt động thương mại như: Đăng ký kinh doanh,
kiểm tra, giám sát hoạt động thương mại, giải thể và phá sản doanh nghiệp v.v..
Thứ hai, đối tượng áp dụng (chủ thể) của Luật Kinh tế chủ yếu của luật
thương mại là thương nhân còn trong một số trường hợp cụ thể, khi thực hiện
các hoạt động mang tính tổ chức như: Đăng ký kinh doanh, giải thể, phá sản
doanh nghiệp … Cơ quan có thẩm quyền cũng là chủ thể của Luật Kinh tế.
Trong tập bài giảng này, khái niệm Luật Kinh tế được nghiên cứu dưới giác
độ là một môn học chúng tôi tập trung nghiên cứu 2 vấn đề quan trọng: (1) Hoạt
động thương mại với tư cách là đối tượng điều chỉnh của Luật Kinh tế và (2)
thương nhân với tư cách chủ thể chủ yếu của Luật Kinh tế nhằm giới thiệu để
bạn đọc biết luật thương mại quy định những hoạt động thương mại nào những
quy định đó được áp dụng đối với những chủ thể nào.
1.2. Hành vi thương mại
1.2.1. Khái niệm hành vi thương mại
• Khái niệm
Thương mại là hoạt động ra đời sớm trong lịch sử xã hội loài người, trên cơ
sở sự phân công lao động xã hội, nó đã tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái
kinh tế xã hội khác nhau. Sự ra đời và phát triển của thương mại gắn liền với
nền sản xuất hàng hóa. Khi có sự phân công lao động lần thứ ba trong xã hội,
thương nghiệp ra đời, xuất hiện tầng lớp chuyên mua bán các sản phẩm để kiếm
lời - các thương nhân, lúc đó hành vi thương mại đã được hình thành.
Thương mại, Comerxium (theo tiếng Latinh), Commerce (theo tiếng Anh),
коммерциЯ (theo tiếng Nga) có nghĩa là buôn bán. Ở nước ta, theo cách hiểu
phổ thông, thương mại là hoạt động trao đổi hay giao lưu hàng hóa, dịch vụ trên
11
cơ sở thuận mua vừa bán.
Thuật ngữ "hành vi thương mại" được sử dụng khá phổ biến trong luật
thương mại của một số nước. Chẳng hạn như trong Bộ luật Thương mại Pháp,
tuy chưa xác định rõ khái niệm thế nào là hành vi thương mại nhưng đã liệt kê
một số hành vi được coi là hành vi thương mại (xem Điều 632, 633 Bộ luật
Thương mại Pháp).
Ở Việt Nam trước đây, trong Bộ luật Thương mại của Việt Nam cộng hòa
đã xác định một cách khái quát về hành vi thương mại, đó là những hành vi chế
tạo, lưu chuyển, trung gian có mục đích kiếm lời trực tiếp hay gián tiếp (xem
Điều 340 Bộ luật Thương mại Việt Nam cộng hòa năm 1972).
Như vậy, khái niệm thương mại được hiểu ở nghĩa rộng hơn quan niệm
thông thường về thương mại (là mua bán). Trong nội hàm của khái niệm hàm
chứa nhiều loại hành vi khác ngoài mua bán đó là "chế tạo", "trung gian".
Ở nước ta trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, thuật ngữ "thương mại"
với nghĩa là một hoạt động ít khi được sử dụng. Chỉ đến thời kỳ chuyển sang
nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, thuật ngữ thương mại mới được sử dụng
trở lại. Tuy nhiên, thuật ngữ này được hiểu ở nghĩa hẹp của nó, đó là mua bán.
Theo các tác giả Đặng Đình Đào và Hoàng Đức Thân thì "thực chất của thương
mại là quá trình trao đổi hàng hóa qua mua bán trên thị trường"3 hoặc theo
khoản 2, Điều 5 Luật Thương mại (1997): "Hoạt động thương mại là việc thực
hiện một hay nhiều hành vi thương mại của thương nhân, bao gồm việc mua bán
hàng hóa, cung ứng dịch vụ thương mại và các hành vi xúc tiến thương mại
nhằm mục đích lợi nhuận hoặc nhằm thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội".
Trong thời gian gần đây, khi Việt Nam trực tiếp ký Hiệp định thương mại
Việt Nam - Hoa Kì và xúc tiến tham gia quá trình hội nhập kinh tế khu vực và
thế giới, khái niệm thương mại dần được hiểu theo nghĩa rộng hơn.
Khái niệm hành vi thương mại theo nghĩa rộng đã được pháp luật Việt Nam
ghi nhận trong Pháp lệnh trọng tài thương mại (2003). Theo khoản 3 Điều 2
Pháp lệnh trọng tài thương mại, hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay
nhiều hành vi thương mại của các cá nhân, tổ chức kinh doanh bao gồm mua
bán hàng hóa; cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý thương mại; thuê,
cho thuê, thuê mua; xây dưng; tư vấn; kỹ thuật; li - xăng; đầu tư; tài chính, ngân
hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác; vận chuyển hàng hóa, hành khách là các
hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật hoặc, theo khoản 1 Điều 3
Luật Thương mại (2005), hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích
3 Đặng Đình Đào và Hoàng Đức Thân (1993), Kinh tế thương mại, Trung tâm thông tin thương mại, Hà Nội, Tr.
15.
12
sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương
mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.
Như vậy, cũng như pháp luật quốc tế và pháp luật của nhiều nước trên thế
giới, hiện nay pháp luật Việt Nam đã ghi nhận khái niệm thương mại (trade hoặc
commerce) được hiểu theo nghĩa rộng. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam đã ghi
nhận về hành vi thương mại bằng một khái niệm có nghĩa khái quát hơn đó là
hoạt động thương mại (tổ hợp các hành vi thương mại). Dưới góc độ học thuật,
khái niệm hành vi thương mại được xem xét ở đây tương ứng với khái niệm hoạt
động thương mại cụ thể (mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư …).
1.2.2. Đặc điểm của hành vi thương mại
Đặc điểm của hành vi thương mại được tập bài giảng này xem xét trong mối
quan hệ với hành vi dân sự, có nghĩa là ở đây tập trung giải quyết tính chất
chung của hành vi thương mại và hành vi dân sự đồng thời làm sáng tỏ nét riêng
biệt của hành vi thương mại.
Theo GS, TSKH Đào Trí Úc thì "Hành vi thương mại là một biểu hiện của
hành vi pháp lý dân sự, phải là đối tượng điều chỉnh của Bộ luật Dân sự và Luật
Thương mại"4. Như vậy, mối quan hệ giữa hành vi dân sự và hành vi thương
mại được nhìn nhận là mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng,
trong đó, hành vi dân sự là cái chung hành vi thương mại là cái riêng.
Cái chung (tính chất chung) của hai loại hành vi này thể hiện ở chỗ hành vi
dân sự và hành vi thương mại đều là hành vi của con người, phát sinh và tồn tại
trong quá trình sản xuất, trao đổi sản phẩm, hàng hóa, đều là những nội dung của
quan hệ hàng hóa - tiền tệ và ở những mức độ nhất định đều chịu sự tác động
của các quy Luật Kinh tế khách quan.
Bên cạnh những điểm giống nhau tạo nên tính chất chung giữa hành vi dân
sự và hành vi thương mại, giữa chúng cũng có những điểm khác biệt và chính
những điểm khác biệt này tạo nên đặc điểm của hành vi thương mại. Hành vi
thương mại có một số đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, hành vi thương mại khác hành vi dân sự về thời điểm xuất hiện và
về tính ổn định.
Xét về mặt lịch sử, hành vi dân sự ra đời từ rất sớm trong lịch sử xã hội loài
người, từ khi con người tạo ra những sản phẩm dư thừa và có nhu cầu trao đổi
lấy những sản phẩm khác loại của người khác với mục đích thỏa mãn các nhu
cầu sinh hoạt hàng ngày của mình. Còn hành vi thương mại xuất hiện muộn hơn,
4
Đào Trí úc (1997), "Vai trò của Luật Dân sự ở nước ta hiện nay", Đề tài cấp bộ: Những vấn đề lý luận về Bộ
luật Dân sự ở Việt Nam, Hà Nội, Tr. 20.
13
mãi đến khi sự phân công lao động trong xã hội đạt đến trình độ nhất định, trong
xã hội xuất hiện tầng lớp chuyên mua đi bán lại các sản phẩm, hàng hóa với mục
đích kiếm lời thì thương mại mới ra đời.
Cũng dưới góc độ lịch sử, có thể nói, các quan hệ dân sự mang tính ổn định
và bền vững cao hơn các quan hệ thương mại. Đặc biệt, các quan hệ này ít chịu
tác động hơn của các biến động bên ngoài về chính trị xã hội so với các quan hệ
thương mại. Chính vì vậy, có thể nói, hành vi thương mại hay thay đổi, ít bền
vững hơn hành vi dân sự. Lịch sử đã cho thấy, nhiều cách thức xử sự, nhiều
nguyên tắc chung của các chế định về sở hữu, thừa kế, hôn nhân, khế ước v.v..
đã xuất hiện từ thời khởi thủy của Luật Dân sự, đến nay vẫn còn được chấp
nhận. Trong khi đó, quan hệ thương mại chịu sự ảnh hưởng của thực tế đời sống
kinh tế, chính trị, xã hội nhiều hơn, do đó, cách thức xử sự của các chủ thể
thương mại thường phải thay đổi cho phù hợp với những thay đổi của đời sống
kinh tế xã hội. Có thể lấy những sự thay đổi trong việc ký kết và thực hiện các
hợp đồng kinh tế ở nước ta trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung và trong thời kì
đổi mới cơ chế quản lý kinh tế ở nước ta làm ví dụ minh chứng cho điều đó.
Tóm lại, qua nghiên cứu lịch sử ra đời và phát triển của quá trình trao đổi
hàng hóa, có thể khẳng định hành vi dân sự ra đời sớm hơn và ổn định hơn hành
vi thương mại.
Thứ hai, hành vi thương mại được thực hiện trên thị trường và nhằm mục
đích sinh lợi.
Theo khoản 1, Điều 3 Luật Thương mại (2005): "Hoạt động thương mại là
hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch
vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác".
Theo PGS. TS. Đỗ Đình Toàn thì "Thương mại phải gắn với thị trường, thị
trường và thương mại đi liền với nhau như hình với bóng"5. Sở dĩ thương mại
phải được diễn ra trên thị trường là vì mua bán là khâu quan trọng nhất, là thành
tố của hành vi thương mại. Nói đến thương mại không thể không nói đến thành
tố này. Còn các yếu tố khác (sản xuất và dịch vụ) phải kết hợp với khâu mua bán
mới có thể coi là thực hiện xong một hành vi thương mại.
Đương nhiên, thị trường - nơi diễn ra hành vi thương mại phải là thị trường
hiện tại (thị trường hợp pháp), bởi hành vi thương mại đang được đề cập là hành
vi thương mại hợp pháp, hành vi thương mại được Nhà nước bảo hộ. Mọi hành
vi sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ sẽ không được coi là hành vi thương mại
nếu chúng không diễn ra trên thị trường hoặc diễn ra ở thị trường ngầm.
5 Đỗ Đình Toàn (1994), "Lý thuyết quản trị kinh doanh", NXB Thống kê, Hà Nội, Tr. 16.
14
Là hành vi diễn ra trên thị trường, hành vi thương mại phải tuân theo các
quy luật của thị trường, trong đó phải kể đến các quy luật như: Quy luật cạnh
tranh, quy luật tăng lợi nhuận, quy luật kých thích sức mua giả tạo, quy luật
cung cầu... và các quy luật riêng trong thương mại như quy luật của người mua,
quy luật về ý chí tiến thủ của chủ doanh nghiệp. Dưới sự tác động của các quy
luật đó, các hành vi thương mại có những nét đặc thù so với các hành vi dân sự.
Chẳng hạn, dưới sự tác động của quy luật cạnh tranh, các chủ doanh nghiệp
thường phải vươn lên giành giật lấy toàn bộ hoặc một phần nào đấy của thị
trường để tồn tại, tăng trưởng và phát triển, để làm được điều đó, ngoài việc tiến
hành các hành vi thương mại, các chủ thể thương mại có thể thực hiện các mưu
kế trong thương mại nhằm buộc đối thủ cạnh tranh của mình nhất định phải
hành động theo đúng dự định của mình đặt ra. Điều này hầu như không được
biết đến khi thực hiện các hành vi dân sự. Hoặc dưới tác động của quy luật của
người mua, các chủ thể thương mại sẽ phải bán ra cái mà thị trường cần chứ
không phải bán ra cái mình đang có, phải có cả trách nhiệm với khách hàng cả
sau khi hàng đã bán và phải đảm bảo chữ "tín" trong thương mại để phát triển
lâu dài sự nghiệp thương mại của mình. Đây là điều ít thấy khi thực hiện hành vi
dân sự tương tự, nơi việc mua bán thường được thực hiện theo phương thức
"mua đứt, bán đoạn".
Theo quy định của pháp luật, hành vi thương mại không chỉ là hành vi diễn
ra trên thị trường mà còn là hành vi nhằm mục đích sinh lợi.
Đây là đặc điểm mà dựa vào đó để phân biệt hành vi thương mại với hành vi
dân sự. Nếu một hành vi được thực hiện nhằm mục đích tiêu dùng (thỏa mãn các
nhu cầu cá nhân) thì đó là hành vi dân sự; ngược lại, cũng hành vi đó nhưng
được thực hiện nhằm mục đích sinh lợi thì đó là hành vi thương mại. Tiêu chí
này được sử dụng khá phổ biến để phân biệt hành vi dân sự và hành vi thương
mại.
Không dừng lại ở đó, từ chỗ khác nhau về mục đích này, có thể phái sinh
những sự khác nhau khác giữa hành vi dân sự và hành vi thương mại về các yếu
tố cấu thành nên các hành vi đó, về khách thể mà các hành vi đó hướng tới, thậm
chí cả yếu tố tâm lý của các chủ thể thực hiện hành vi v.v.. Chẳng hạn, như đã
phân tích ở trên, xuất phát từ mục đích lợi nhuận, cho nên hành vi thương mại
bắt buộc phải có hai yếu tố cấu thành quan trọng nhất đó là mua và bán, có
nghĩa để được coi là hành vi thương mại hoàn chỉnh chủ thể thương mại trước
hết phải mua hàng hóa sau đó phải bán hàng hóa đó đi, có như vậy, mới nói đến
vấn đề lợi nhuận. Điều đó khác với hành vi dân sự, trong đó chỉ thuần túy mua
hoặc bán. Ví dụ khác, người nào đó có thể mua nhà để ở, thương nhân có thể
15
mua nhà để kinh doanh. Ở đây, khách thể của hai hành vi trên đều là ngôi nhà
nhưng sự quan tâm của hai chủ thể đó đối với ngôi nhà lại khác nhau. Đối với
người mua nhà để ở, sự quan tâm của nó chủ yếu tập trung vào thuộc tính thứ
nhất của ngôi nhà, đó là giá trị sử dụng. Còn đối với người mua để bán lại quan
tâm nhiều hơn đến thuộc tính thứ hai của ngôi nhà, đó là giá trị.
Tóm lại, thương mại - hành vi được thực hiện trên thị trường và nhằm mục
đích sinh lợi là đặc điểm quan trọng, mang tính khách quan của hành vi thương
mại trong mối quan hệ với hành vi dân sự nói chung.
Thứ ba, hành vi thương mại là hành vi mang tính chất nghề nghiệp, được
thương nhân (tổ chức, cá nhân kinh doanh) thực hiện.
Thương mại là hành vi mang tính nghề nghiệp có nghĩa là chủ thể của hành
vi khi tham gia thương trường thực hiện sự phân công lao động xã hội. Các hành
vi này được chủ thể tiến hành thường xuyên, liên tục, thể hiện tính chuyên
nghiệp cao và mang lại thu nhập chính cho chủ thể thực hiện hành vi. Dựa vào
nét đặc thù này, dễ dàng nhận thấy, mặc dù trên thương trường có thể diễn ra
những hành vi nhằm mục đích sinh lợi nhưng chúng không thể được coi là hành
vi thương mại, bởi lẽ đó không phải là hành vi thường xuyên của người thực
hiện hành vi, hơn nữa, hành vi đó không mang lại thu nhập chính cho người đó.
Ví dụ, nhân chuyến công tác, một viên chức mua số lượng hàng hóa nhất định
nào đó ở nơi công tác về để bán.
Liên quan đến đặc điểm này của hành vi thương mại, đặc thù về chủ thể
thực hiện hành vi thương mại cũng có một ý nghĩa quan trọng trong việc phân
biệt hành vi dân sự với hành vi thương mại. Như trên đã phân tích, chủ thể
thương mại trước hết là chủ thể hành vi dân sự, các chủ thể này phải có đầy đủ
năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự nhưng điều đó không có nghĩa tất
cả các chủ thể của hành vi dân sự đều là chủ thể thực hiện hành vi thương mại.
Xuất phát từ tính chất của hành vi thương mại, chỉ có những chủ thể nào hội đủ
những điều kiện nhất định mới là thương nhân. Những điều kiện để trở thành
chủ thể thương nhân phải được pháp luật quy định cụ thể. Trong lúc pháp luật
chưa quy định cụ thể, những điều kiện đó có thể hiểu là phải có quyền sở hữu
hoặc quyền sử dụng nào đó về các yếu tố cần có của quá trình thực hiện hành vi
thương mại (vốn, tài sản, sức lao động v.v..); trong khuôn khổ của pháp luật,
phải được tự do và chủ động tiến hành các hành vi thương mại và phải tự chịu
trách nhiệm về kết quả cuối cùng của quá trình đó6. Chính những điều kiện riêng
này tạo nên đặc thù của thương nhân.
Trên thực tế, trong nhiều trường hợp, phải dựa vào đặc thù này để xác định
6 Đỗ Đình Toàn (1994), "Lý thuyết quản trị kinh doanh", NXB Thống kê,
Hà Nội, Tr. 17.
16
trở lại giao dịch nào là giao dịch dân sự, giao dịch nào là giao dịch thương mại.
Bởi vì, ở nhiều mối quan hệ trong lĩnh vực trao đổi hàng hóa và cung ứng dịch
vụ, một bên có mục đích lợi nhuận còn bên kia lại có mục đích tiêu dùng, một
bên sẽ có hành vi thương mại còn bên kia sẽ có hành vi dân sự. Trong những
trường hợp cụ thể như vậy, Nhà nước còn phải dựa vào đặc thù về chủ thể để
xác định tính chất của giao dịch. Chẳng hạn, khi xác định tính chất thương mại
của các giao dịch, Bộ luật Thương mại Cộng hòa Liên bang Đức, dựa trên dấu
hiệu chủ quan, đã quy định, giao dịch thương mại là giao dịch được các thương
gia thực hiện7.
Mặc dù là tiêu chí chủ quan nhưng nó cũng có ý nghĩa rất quan trọng đối với
việc phân biệt giữa luật thương mại và luật dân sự. Ở đây, trong các trường hợp
cụ thể đòi hỏi các nhà làm luật phải có những quy định rõ ràng để xác định
phạm vi điều chỉnh của pháp luật thương mại và pháp luật dân sự. Có như vậy
mới điều chỉnh bằng pháp luật một cách có hiệu quả các quan hệ xã hội.
Cuối cùng, cũng cần lưu ý rằng, xuất phát từ bản chất của nền kinh tế nước
ta là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, cũng như xuất phát từ vai trò của
hành vi thương mại trong nền kinh tế, so với các hành vi dân sự, Nhà nước tác
động ở mức độ cao hơn vào các hành vi thương mại. Nhà nước tác động vào
hành vi thương mại thông qua các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế ở tầm
vĩ mô cũng như hệ thống pháp luật của mình. Thông qua hệ thống quy hoạch, kế
hoạch phát triển kinh tế, Nhà Nước định hướng cho sự phát triển của các hành vi
thương mại còn thông qua hệ thống pháp luật Nhà nước sẽ xác định rõ tính chất
của hành vi thương mại, những hành vi thương mại bị cấm hoặc những hành vi
thương mại có điều kiện và thủ tục pháp lý để một hành vi thương mại được coi
là hợp pháp v.v.. Chẳng hạn, để thực hiện hành vi thương mại chủ thể phải tiến
hành đăng ký kinh doanh hoặc hành vi sản xuất, trao đổi hàng hóa nào đó trên
thị trường đăng ký nhằm mục đích sinh lợi, chỉ được coi là hành vi thương mại
nếu hành vi đó không bị pháp luật cấm.
Ngoài ra, sự tác động của Nhà nước vào hành vi thương mại còn được thể
hiện ở chỗ khi thực hiện các hành vi thương mại, Nhà nước buộc các chủ thể
phải thực hiện một số nghĩa vụ nhất định. Ví dụ, về nguyên tắc, bất cứ chủ thể
nào khi thực hiện hành vi thương mại cũng phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế,
nghĩa vụ bảo vệ môi trường, di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh v.v..
Chính sự tác động của Nhà nước vào hành vi thương mại đã tạo nên sự khác
biệt nhất định giữa hành vi dân sự và hành vi thương mại.
7 V.P. Mozolin (1980), Luật Dân sự và thương mại của các nước tư bản
chủ nghĩa, NXB Trường Đảng cao
cấp, Moskva, Tr. 32.
17
Nói tóm lại, giữa hành vi dân sự và hành vi thương mại có những sự tương
đồng và khác biệt. Chính trên cơ sở tương đồng, khác biệt đó có thể nhìn nhận
một cách khái quát mối quan hệ giữa hành vi dân sự và hành vi thương mại là
mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, trong đó hành vi dân sự là cái chung và
hành vi thương mại là cái riêng. Với tư cách cái chung và cái riêng, hành vi dân
sự và hành vi thương mại đều tồn tại khách quan và độc lập tương đối với nhau;
những thuộc tính vốn có của các hành vi dân sự được biểu hiện cụ thể trong các
hành vi vi thương mại đồng thời trong hành vi thương mại cũng có những nét
đặc thù riêng của nó.
1.2.3. Phân loại hành vi thương mại
Dựa trên những căn cứ khác nhau hành vi thương mại có thể chia ra các loại
khác nhau.
• Dựa vào tính chất của hành vi và chủ thể thực hiện hành vi, hành vi thương
mại có thể chia ra: hành vi thương mại thuần túy và hoạt động thương mại phụ
thuộc.
- Hành vi thương mại thuần tuý là những hành vi có tính chất thương mại
vì bản chất của nó thuộc về công việc buôn bán hoặc vì hình thức của nó được
pháp luật coi là tiêu biểu cho hành vi thương mại8. Ví dụ, mua hàng hóa để bán
lại kiếm lời là hành vi thương mại thuần tuý vì bản chất của nó mang tính
thương mại hoặc ví dụ khác, ký hối phiếu cũng là hành vi thương mại thuần
tuý vì hối phiếu là hình thức của hành vi thương mại bất kể người ký hối phiếu
có là thương nhân hay không.
Tuy nhiên, khi xác định cụ thể các hành vi thương mại thuần tuý, pháp luật
của các nước khác nhau cũng định lượng rộng, hẹp không giống nhau9. Ngay
pháp luật thương mại Việt Nam hiện nay, việc quy định các hành vi thương mại
thuần tuý trong mỗi thời kỳ mỗi khác. Điều 45 Luật Thương mại (1997) của
Việt Nam liệt kê cụ thể 14 loại hành vi thương mại. Nhưng theo quy định của
Pháp lệnh Trọng tài thương mại (2003) thì hành vi thương mại thuần tuý có nội
dung rất rộng. Ngoài những hành vi như quy định tại điều 45 Luật Thương mại
(1997), khoản 3 Điều 2 Pháp lệnh Trọng tài thương mại còn quy định bổ sung
thêm nhiều loại khác.
- Hành vi thương mại phụ thuộc là những hành vi có bản chất dân sự nhưng
do thương nhân thực hiện theo nhu cầu nghề nghiệp hay nhân lúc hành nghề và
8 Xem thêm: Lê Tài Triển (1972), "Những hành vi thương mại thuần tuý",
quyển 1, Kim lai ấn quán, Sài Gòn, Tr. 37-52.
Luật Thương mại Việt Nam dẫn giải,
9 Xem điều 110-1 Bô luật Thương mại Cộng hòa Pháp (1807) và Điều 342 Bộ luật Thương mại Việt Nam cộng
hòa (1972).
18
do đó được coi là hành vi thương mại10. Ví dụ, thương nhân mua phương tiện,
trang thiết bị văn phòng để trang bị cho các phòng làm việc của mình là hành vi
thương mại phụ thuộc (do nhu cầu của nghề nghiệp).
Một hành vi có bản chất là dân sự chỉ có thể trở thành hành vi thương mại
khi hội đủ hai yếu tố: (1) Hành vi đó phải do thương nhân (thương gia) thực
hiện; (2) Hành vi đó được thương nhân thực hiện nhân dịp hành nghề hoặc do
nhu cầu nghề nghiệp.
Pháp luật Thương mại Việt Nam chỉ mới liệt kê các hành vi thương mại
thuần tuý còn các hành vi thương mại phụ thuộc không được ghi nhận. Bởi vậy,
khi xem xét phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể để xác định một hành vi có
được xem là một hành vi thương mại phụ thuộc hay không. Tuy nhiên, trên cơ
sở lý luận như đã trình bày, có thể suy đoán các hành vi của thương nhân trong
hoạt động kinh doanh của mình đều là hành vi thương mại, trừ khi họ chứng
minh được rằng hành vi đó không có mục đích thương mại.
- Hành vi hỗn hợp
Trên thực tế, tồn tại khá nhiều quan hệ thương mại mà những hành vi trong
nội dung của các quan hệ đó là hành vi thương mại đối với chủ thể này nhưng
lại là hành vi dân sự của chủ thể kia. Ví dụ, quan hệ mua bán giữa thương nhân
A với cá nhân B (không có tư cách thương nhân). Trong quan hệ này, hành vi
mua bán sẽ là hành vi thương mại đối với thương nhân A nhưng lại là hành vi
dân sự đối với cá nhân B. Hành vi của các bên trong mối quan hệ trên được giới
nghiên cứu phân loại hành vi hỗn hợp.
Như vậy, hành vi hỗn hợp có thể được hiểu là hành vi thương mại đối với
một bên (thương nhân) nhưng lại là hành vi dân sự đối với bên kia (cá nhân
không có tư cách thương nhân)11.
• Dựa vào lĩnh vực phát sinh cũng như đối tượng của hành vi thương mại,
các hành vi thương mại có thể chia ra các nhóm hành vi sau:
- Nhóm hành vi thương mại hàng hóa;
- Nhóm hành vi thương mại dịch vụ;
- Nhóm hành vi thương mại trong lĩnh vực đầu tư;
- Nhóm hành vi thương mại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ.
Khởi thuỷ, hành vi thương mại là hành vi của thương nhân trong lĩnh vực
10 Xem thêm: Lê Tài Triển (1972), "Những hành vi thương mại phụ thuộc", Luật Thương mại Việt Nam dẫn giải,
quyển 1, NXB Kim lai ấn quán, Sài Gòn, Tr. 53-70.
11 Xem thêm: Trường Đại học Luật Hà Nội (2004), "4. Các hành vi hỗn hợp", Giáo trình Luật Thương mại Việt
Nam, NXB Tư pháp, Tr. 50-52.
19
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Pháp luật kinh tế - Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giao_trinh_phap_luat_kinh_te_truong_cao_dang_du_lich_ha_noi.pdf

