Giáo trình Luật lao động Việt Nam (Phần 1)

ĐẠI HỌC HUẾ  
KHOA LUẬT  
TS. NGUYỄN DUY PHƯƠNG - THS. ĐÀO MỘNG ĐIỆP  
(ĐỒNG CHỦ BIÊN)  
GIÁO TRÌNH  
LUẬT LAO ĐỘNG  
VIỆT NAM  
( PHẦN 1 )  
(Tái bản lần thứ nhất; chỉnh sửa, bổ sung)  
Nhà xuất bản Đại học Huế  
Huế, 2013  
Biên mục trên xuất bản phẩm của Thư viện Quốc gia Việt Nam  
Nguyễn Duy Phương  
Giáo trình Luật lao động / Ch.b.: Nguyễn Duy Phương, Đào Mộng Điệp.  
- Tái bản lần thứ 1. - Huế : Đại học Huế. - 21cm  
Thư mục: tr. 128-129  
Ph.1. - 2013. - 129tr.  
1. Luật lao động 2. Việt Nam 3. Giáo trình  
344.59701 - dc14  
DUF0054p-CIP  
Mã số sách: GT/106 - 2013/T1  
ii  
LỜI NÓI ĐẦU  
Luật lao động là một môn học nghiên cứu về quan hệ lao động và  
các quan hệ liên quan đến quan hệ lao động giữa các chủ thể tham gia  
vào quá trình lao động. Để đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu, tìm hiểu  
của sinh viên ngành Luật cũng như các nhà nghiên cứu, quan tâm về lĩnh  
vực lao động, Khoa Luật - Đại học Huế tiến hành xuất bản cuốn  
Giáo trình Luật lao động Việt Nam.  
Giáo trình được chia thành 2 phần. Phần 1 trong cuốn sách này sẽ  
trình bày các nội dung: Khái quát về luật lao động, quan hệ pháp luật lao  
động, địa vị pháp lý của công đoàn, thỏa ước lao động tập thể, việc làm  
và học nghề, hợp đồng lao động, thời gian làm việc thời gian nghỉ ngơi.  
Hy vọng cuốn sách này sẽ là nguồn tư liệu bổ ích đối với những  
sinh viên Luật được đào tạo dưới các hình thức khác nhau, các cán bộ  
làm công tác pháp lý cũng như những nhà nghiên cứu, những người quan  
tâm đến lĩnh vực khoa học này.  
Trong quá trình biên soạn tài liệu, các tác giả đã tham khảo một số  
giáo trình, tập bài giảng, sách chuyên khảo và các tài liệu tham khảo khác  
trên cơ sở đó có bổ sung và cập nhật thêm nhiều vấn đề theo từng nội  
dung cụ thể của môn học để phục vụ cho người đọc.  
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, trong quá trình biên soạn nhưng chắc  
chắn không tránh khỏi những sai sót, khiếm khuyết. Chúng tôi mong  
muốn nhận được những ý kiến đóng góp, phê bình từ phía người đọc để  
lần tái bản sau sẽ hoàn thiện hơn.  
Thay mặt các tác giả  
TS. Nguyễn Duy Phương  
iii  
MỤC LỤC  
LỜI NÓI ĐẦU  
Trang  
11  
11  
11  
14  
15  
15  
16  
18  
18  
19  
25  
25  
26  
26  
27  
27  
29  
30  
30  
30  
32  
34  
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ LUẬT LAO ĐỘNG  
1. Đối tượng điều chỉnh của luật lao động  
1.1. Quan hệ lao động  
1.2. Các quan hệ liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động  
2. Phương pháp điều chỉnh của luật lao động  
2.1. Khái niệm phương pháp điều chỉnh  
2.2. Các phương pháp điều chỉnh của luật lao động  
3. Các nguyên tắc cơ bản của luật lao động  
3.1. Khái niệm  
3.2. Các nguyên tắc cơ bản của luật lao động  
4. Hệ thống luật lao động Việt Nam  
4.1. Phần chung  
4.2. Phần riêng  
5. Nguồn của luật lao động  
5.1. Văn bản luật  
5.2. Văn bản có giá trị pháp lý thấp hơn văn bản luật  
5.3. Các quy định nội bộ  
Chương 2: QUAN HỆ PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG  
1. Quan hệ pháp luật lao động  
1.1. Khái niệm và đặc điểm của quan hệ pháp luật lao động  
1.2. Chủ thể của quan hệ pháp luật lao động  
1.3. Khách thể của quan hệ pháp luật lao động  
v
1.4. Nội dung của quan hệ pháp luật lao động  
35  
37  
1.5. Những căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan  
hệ pháp luật lao động  
2. Quan hệ pháp luật về việc làm  
39  
39  
40  
2.1. Quan hệ đảm bảo việc làm giữa Nhà nước và người lao động  
2.2. Quan hệ về đảm bảo việc làm giữa người sử dụng lao  
động và người lao động  
2.3. Quan hệ giữa người lao động và các tổ chức dịch vụ  
việc làm  
40  
3. Quan hệ pháp luật về học nghề  
41  
41  
41  
41  
42  
42  
43  
3.1. Khái niệm quan hệ pháp luật về học nghề  
3.2. Quy định của pháp luật đối với người học nghề  
3.3. Quy định của pháp luật đối với cơ sở dạy nghề  
4. Quan hệ pháp luật giữa công đoàn với người sử dụng lao động  
4.1. Khái niệm  
4.2. Nội dung quan hệ pháp luật giữa người sử dụng lao  
động với tổ chức công đoàn  
5. Quan hệ pháp luật về bảo hiểm xã hội  
5.1. Quan hệ pháp luật về tạo lập quỹ bảo hiểm xã hội  
5.2. Quan hệ pháp luật về thực hiện bảo hiểm xã hội  
6. Quan hệ pháp luật về bồi thường thiệt hại  
6.1. Khái niệm  
43  
43  
44  
45  
45  
45  
46  
46  
46  
6.2. Phân loại quan hệ bồi thường thiệt hại  
7. Quan hệ pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động  
7.1. Khái niệm  
7.2. Đặc điểm  
vi  
8. Quan hệ pháp luật về quản lý lao động  
8.1. Khái niệm  
48  
48  
48  
50  
50  
50  
50  
51  
53  
53  
53  
54  
55  
8.2. Nội dung quan hệ pháp luật về quản lý lao động  
Chương 3: ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CÔNG ĐOÀN  
1. Vị trí, vai trò và chức năng của công đoàn  
1.1. Vị trí và vai trò của Công đoàn  
1.2. Cơ cấu tổ chức Công đoàn  
1.3. Chức năng của Công đoàn  
2. Thẩm quyền của công đoàn  
2.1. Khái niệm  
2.2. Phân loại quyền của Công đoàn  
3. Quyền hạn của công đoàn cấp trên cơ sở  
3.1. Quyền của công đoàn trong việc tham gia quản lý Nhà  
nước về lao động, quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh...  
3.2. Công đoàn cơ sở trong việc đại diện và bảo vệ quyền  
lợi hợp pháp của người lao động  
58  
62  
62  
62  
65  
67  
68  
69  
69  
69  
Chương 4: THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ  
1. Khái niệm thỏa ước lao động tập thể  
1.1. Khái niệm thỏa ước lao động tập thể  
1.2. Ý nghĩa của thỏa ước lao động tập thể  
1.3. Đối tượng, phạm vi áp dụng thoả ước lao động tập thể  
2. Nội dung của thỏa ước lao động tập thể  
2.1. Việc làm và bảo đảm việc làm  
2.2. Thời giờ làm việc và nghỉ ngơi  
2.3. Tiền lương, tiền thưởng và phụ cấp  
vii  
2.4. Định mức lao động  
70  
70  
70  
2.5. An toàn lao động, vệ sinh lao động và bảo hiểm xã hội  
3. Trình tự, thủ tục thương lượng, ký kết thỏa ước lao động  
tập thể  
3.1. Đại diện thương lượng và ký kết thỏa ước lao động tập thể  
3.2. Trình tự ký kết thỏa ước lao động tập thể  
3.3. Đăng ký thỏa ước lao động tập thể  
4. Hiệu lực của thỏa ước lao động tập thể  
4.1. Hiệu lực của thỏa ước lao động tập thể  
4.2. Thực hiện thỏa ước  
71  
73  
76  
77  
77  
79  
79  
81  
81  
81  
83  
4.3. Thời hạn của thỏa ước  
Chương 5: VIỆC LÀM VÀ HỌC NGHỀ  
1. Những quy định chung về việc làm  
1.1. Khái niệm về việc làm  
1.2. Trách nhiệm của nhà nước trong hỗ trợ phát triển việc  
làm cho người lao động  
1.3. Trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc  
đảm bảo việc làm cho người lao động  
85  
1.4. Trách nhiệm của tổ chức dịch vụ việc làm  
2. Những quy định chung về học nghề  
88  
88  
88  
89  
91  
94  
2.1. Ý nghĩa của dạy và học nghề  
2.2. Những quy định của pháp luật đối với người học nghề  
2.3. Những quy định của pháp luật đối với cơ sở dạy nghề  
2.4. Hợp đồng đào tạo nghề  
viii  
99  
99  
Chương 6: HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG  
1. Khái niệm hợp đồng lao động  
1.1. Khái niệm  
99  
1.2. Đặc điểm của hợp đồng lao động  
1.3. Đối tượng và phạm vi áp dụng hợp đồng lao động  
1.4. Phân loại hợp đồng lao động  
101  
103  
104  
108  
109  
109  
111  
113  
114  
115  
116  
116  
116  
117  
118  
119  
120  
123  
2. Nội dung của hợp đồng lao động  
3. Giao kết hợp đồng lao động  
3.1. Nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động  
3.2. Điều kiện giao kết hợp đồng lao động  
3.3. Cách thức giao kết hợp đồng lao động  
3.4. Việc làm thử  
3.5. Hiệu lực của hợp đồng  
4. Thực hiện, thay đổi, tạm hoãn hợp đồng lao động  
4.1. Thực hiện hợp đồng lao động  
4.2. Thay đổi nội dung hợp đồng lao động  
4.3. Tạm hoãn hợp đồng lao động  
5. Chấm dứt hợp đồng lao động  
5.1. Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động  
5.2. Các trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động  
5.3. Quyền lợi và trách nhiệm của các bên khi chấm dứt hợp  
đồng lao động  
5.4. Nghĩa vụ của các bên khi đơn phương chấm dứt hợp đồng  
lao động trái pháp luật  
125  
128  
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO  
ix  
Chương 1  
KHÁI QUÁT VỀ LUẬT LAO ĐỘNG  
Luật lao động giữ một vị trí, vai trò quan trọng hệ thống pháp luật  
Việt Nam. Luật lao động quy định địa vị pháp lý của người lao động và  
người sử dụng lao động tạo ra hành lang pháp lý để các chủ thể thực hiện  
quyền và nghĩa vụ của mình.  
1. ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU CHỈNH CỦA LUẬT LAO ĐỘNG  
Đối tượng điều chỉnh của một ngành luật là tổng thể các quan hệ  
xã hội do các quy phạm pháp luật của ngành luật đó điều chỉnh. Thông  
qua Bộ luật lao động, các quan hệ xã hội do luật lao động điều chỉnh  
được quy định cụ thể. Bộ luật lao động quy định tiêu chuẩn lao động;  
quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao  
động, tổ chức đại diện tập thể lao động, tổ chức đại diện người sử dụng  
lao động trong quan hệ lao động và các quan hệ khác liên quan trực tiếp  
đến quan hệ lao động; quản lý nhà nước về lao động. (Điều 1 Bộ luật lao  
động 2012).  
1.1. Quan hệ lao động  
“Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của tòan bộ đời sống con  
người, đến một mức và trên một ý nghĩa nào đó chúng ta phải nói rằng:  
Lao động đã tạo ra chính bản thân con người”.1 Lao động là hoạt động  
quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh  
thần của xã hội. Quan hệ lao động là quan hệ giữa người với người trong  
quá trình lao động. Quan hệ lao động xuất hiện đồng thời với sự xuất  
hiện của con người. Quan hệ lao động phát sinh giữa hai chủ thể người  
lao động và người sử dụng lao động trên cơ sở ý chí của các bên và ý chí  
của Nhà nước. Bên cạnh đó, quan hệ lao động tồn tại phụ thuộc vào một  
hình thái kinh tế xã hội nhất định. Mỗi một hình thái kinh tế xã hội có  
một kiểu tổ chức lao động phù hợp, trong đó có một loại quan hệ lao  
1Giáo trình Luật lao động Việt Nam, Chu Thanh Hưởng (CB), NXB Công an nhân dân,  
Hà Nội 2005, Tr7  
11  
động tiêu biểu thích ứng với nó. Song bất kỳ hình thái kinh tế xã hội nào,  
quan hệ lao động đều có những yếu tố giống nhau như: khả năng thu hút  
con người tham gia lao động, quá trình phân công và hiệp tác lao động,  
quá trình đào tạo, nâng cao tay nghề lao động, các yếu tố quản lý lao  
động, đảm bảo điều kiện lao động, đảm bảo việc trả lương cũng như là cơ  
chế đại diện, bảo vệ quyền lợi cho các bên tham gia quan hệ.  
Bộ luật lao động 2012 quy định: “quan hệ lao động là quan hệ xã  
hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa  
người lao động và người sử dụng lao động.”  
Trong thị trường lao động hiện nay, tồn tại rất nhiều chủ thể tham  
gia vào quan hệ lao động như công chức, viên chức nhà nước, người giữ  
các chức vụ được bầu, cử hoặc bổ nhiệm, người thuộc lực lượng quân đội  
nhân dân, công an nhân dân, người thuộc các đoàn thể nhân dân, các tổ  
chức chính trị, xã hội khác và các xã viên Hợp tác xã. Đặc trưng của  
nhóm quan hệ này là quyền và nghĩa vụ của nhóm đối tượng này được  
pháp luật quy định một cách chặt chẽ, các bên không thể tự do thỏa  
thuận, thương lượng để làm thay đổi địa vị pháp lý mà pháp luật đã quy  
định. Nhóm đối tượng này thiết lập quan hệ trên cơ sở quyết định bổ  
nhiệm hoặc trên cơ sở kết quả bầu cử hoặc do được cử ra, do đó khi thay  
đổi quyền và nghĩa vụ của mình các chủ thể này cũng phải tuân thủ một  
quy trình, thủ tục đã được pháp luật quy định minh bạch. Tùy từng đối  
tượng khác nhau mà pháp luật quy định các văn bản pháp luật áp dụng  
cho các chủ thể này khác nhau. Mặc dù vậy, trong một số lĩnh vực cụ thể  
thì nhóm đối tượng này vẫn chịu sự điều chỉnh của Bộ luật lao động.  
Ngoài các nhóm đối tượng trên, luật lao động còn điều chỉnh mối  
quan hệ lao động phát sinh giữa người lao động làm công ăn lương với  
người sử dụng lao động trên cơ sở giao kết hợp đồng lao động. Quan hệ  
lao động phát sinh giữa hai chủ thể này là quan hệ lao động tiêu biểu tồn  
tại trong thị trường hiện nay và là đối tượng điều chỉnh chính của Luật  
lao động Việt Nam.  
Nhóm quan hệ này có những đặc trưng cơ bản sau:  
Thứ nhất, chủ thể tham gia quan hệ là người lao động làm công ăn  
lương với người sử dụng lao động. Tham gia vào quan hệ này, các chủ  
12  
thể phải tuân thủ những điều kiện về độ tuổi, về sức khỏe, về tuyển chọn  
và sử dụng sức lao động do pháp luật lao động đặt ra.  
Thứ hai, đây là quá trình mua bán sức lao động giữa người lao  
động và người sử dụng lao động. Trong đó, sức lao động được xem là  
một loại hàng hóa mang tính đặc biệt vì những thuộc tính của nó. Trong  
quá trình sử dụng sức lao động của người lao động, người sử dụng lao  
động đã thu về một giá trị lớn hơn giá trị ban đầu bỏ ra. Người sử dụng  
lao động là người có vốn, có tài sản, được thực hiện quyền quản lý của  
mình và được quyền đưa ra những yêu cầu mệnh lệnh về phía người lao  
động. Và xét trên phương diện nhất định thì người lao động là người  
thường rơi vào vị trí thế yếu.  
Thứ ba, quan hệ lao động là quan hệ được thiết lập trên cơ sở  
thương lượng, thỏa thuận với nhau thông qua giao kết hợp đồng lao  
động. Hợp đồng lao động là căn cứ pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa  
vụ của các bên. Do đó, đây là một quan hệ có tính chất linh hoạt đáp ứng  
được những yêu cầu đặt ra của thị trường lao động phong phú, đa dạng  
hiện nay.  
Thứ tư, quan hệ lao động là quan hệ mang tính đặc biệt. Về tính  
chất, quan hệ lao động vừa là một quan hệ kinh tế vừa là một quan hệ xã  
hội. Về quy mô, quan hệ lao động vừa là một quan hệ cá nhân, vừa là  
một quan hệ có tính tập thể. Về lợi ích, quan hệ lao động vừa thống nhất,  
vừa mâu thuẫn. Về pháp lý, quan hệ lao động vừa bình đẳng, vừa phụ  
thuộc. Về nội dung, quan hệ lao động vừa cụ thể, vừa không xác định.2  
Quan hệ lao động do luật lao động điều chỉnh bao gồm những  
quan hệ sau:  
Quan hệ lao động phát sinh giữa người lao động làm công ăn lương  
với người sử dụng lao động trong các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân  
thuộc mọi thành phần kinh tế trong nước (kinh tế tư nhân, kinh tế tập thể,  
tổ chức chính trị và chính trị xã hội, doanh nghiệp nhà nước, hộ gia đình).  
Quan hệ lao động giữa người lao động làm công ăn lương với các  
cơ quan nhà nước, đơn vị hành chính sự nghiệp.  
2 Giáo trình Luật lao động, PTS Phạm Công Trứ (CB), NXB Đại học Quốc Gia, Hà Nội  
1999, tr12  
13  
Quan hệ lao động giữa người lao động làm công ăn lương (công  
dân Việt Nam, người nước ngoài) với các doanh nghiệp có vốn đầu tư  
nước ngoài, trong các cơ quan tổ chức nước ngoài.  
Quan hệ về xuất khẩu lao động.  
1.2. Các quan hệ liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động  
Quan hệ xã hội liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động là những  
quan hệ phái sinh của quan hệ lao động3, gắn liền với quá trình tuyển  
chọn và sử dụng sức lao động giữa người lao động và người sử dụng lao  
động bao gồm các quan hệ sau:  
Quan hệ về việc làm: Đây là một quan hệ rất cơ bản, quan trọng  
liên quan đến quan hệ lao động. Quan hệ này xác lập trách nhiệm của  
Nhà nước, người sử dụng lao động trong bảo đảm việc làm cho người lao  
động đồng thời xác lập mối quan hệ giữa các cơ sở đào tạo nghề trong  
tạo việc làm cho người lao động.  
Quan hệ về học nghề: Quan hệ này xác lập mối quan hệ giữa các cơ  
sở dạy nghề, quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động  
dạy nghề.  
Quan hệ giữa công đoàn với người sử dụng lao động: Đây là quan  
hệ xác lập giữa đại diện tập thể người lao động với người sử dụng lao  
động. Có thể nói, mối quan hệ giữa công đoàn với người sử dụng lao  
động là quan hệ riêng có của Luật lao động trong đó Công đoàn là tổ  
chức chính trị xã hội tham gia vào quan hệ lao động từ khi xác lập quan  
hệ lao động đến khi chấm dứt quan hệ lao động để bảo vệ quyền lợi cho  
người lao động. Công đoàn là cầu nối trung gian trong việc xác lập tính  
ổn định của quan hệ lao động, duy trì quan hệ bền vững, hạn chế tranh  
chấp lao động xảy ra.  
Quan hệ về bảo hiểm xã hội: Đây là quan hệ xác lập trên cơ sở sự  
đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm xã hội và quá trình thực hiện  
bảo hiểm xã hội. Quan hệ về bảo hiểm xã hội là quan hệ có đối tượng  
3 Giáo trình Luật lao động, PTS Phạm Công Trứ (CB), NXB Đại học Quốc Gia, Hà Nội  
1999, tr14  
14  
người lao động theo nghĩa rộng tham gia, là quan hệ có ý nghĩa rất quan  
trọng đối với người lao động. Quan hệ này vừa mang tính kinh tế vừa  
mang tính xã hội, vừa mang tính bình đẳng trên cơ sở đóng góp và thụ  
hưởng nhưng cũng là quan hệ nhằm chia sẻ mang tính cộng đồng. Quan  
hệ này hình thành giữa Nhà nước (cơ quan thực hiện bảo hiểm xã hội, cơ  
quan quản lý về bảo hiểm xã hội), người sử dụng lao động với người lao  
động theo cơ chế ba bên.  
Quan hệ về bồi thường thiệt hại: Quan hệ này xảy ra khi các bên thực  
hiện các quyền và nghĩa vụ lao động. Quan hệ này xác lập trách nhiệm của  
người sử dụng lao động, người lao động khi gây ra các thiệt hại về tài sản,  
tính mạng, sức khỏe trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.  
Quan hệ giải quyết tranh chấp lao động: Tranh chấp lao động là  
những tranh chấp về quyền và lợi ích của các bên tham gia quan hệ lao  
động. Tranh chấp lao động có thể là tranh chấp cá nhân giữa một bên là  
người lao động với một bên là người sử dụng lao động hoặc là tranh chấp  
tập thể về quyền hoặc về lợi ích giữa một bên là tập thể lao động với  
người sử dụng lao động. Khi các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải  
quyết các tranh chấp đó sẽ làm phát sinh quan hệ về giải quyết tranh chấp  
lao động.  
Quan hệ quản lý, thanh tra nhà nước về lao động và xử lý các vi  
phạm pháp luật lao động. Quan hệ này xác lập trên cơ sở các cơ quan  
được Nhà nước trao quyền thực hiện nhiệm vụ quản lý và thanh tra trong  
các quan hệ về tiền lương, thỏa ước lao động tập thể, hợp đồng lao động,  
xử lý kỷ luật lao động, bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội, giải quyết tranh  
chấp lao động… Đây là quan hệ nhằm ngăn ngừa các hành vi vi phạm  
pháp luật lao động, góp phần xây dựng một quan hệ lao động ổn định,  
nâng cao hiệu quả thực hiện quan hệ lao động trên thực tế.  
2. PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHỈNH CỦA LUẬT LAO ĐỘNG  
2.1. Khái niệm phương pháp điều chỉnh  
Để xác định tính độc lập của một ngành luật, ngoài đối tượng điều  
chỉnh thì phương pháp điều chỉnh là căn cứ thứ hai bổ trợ cho việc xác  
định đó. Phương pháp điều chỉnh của một ngành luật là những biện pháp,  
15  
cách thức mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các quan hệ xã hội thuộc  
đối tượng của ngành luật đó điều chỉnh. Phương pháp điều chỉnh của luật  
lao động là những biện pháp, cách thức mà Nhà nước sử dụng để tác  
động lên quan hệ lao động và các quan hệ liên quan trực tiếp đến quan hệ  
lao động.  
2.2. Các phương pháp điều chỉnh của luật lao động  
2.2.1. Phương pháp thỏa thuận  
Thỏa thuận được hiểu là sự tự do thể hiện ý chí của các chủ thể khi  
tham gia xác lập quan hệ lao động. Phương pháp này là một phương pháp  
quan trọng trong luật lao động được áp dụng chủ yếu trong quá trình xác  
lập quan hệ lao động, thương lượng, ký kết, thay đổi, chấm dứt hợp đồng  
lao động, thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể, thỏa thuận khi  
giải quyết tranh chấp lao động...  
Phương pháp thỏa thuận trong luật lao động được xác lập dựa trên  
bản chất của quan hệ lao động. Sự thỏa thuận trong luật lao động chủ yếu  
xác lập tại thời điểm thiết lập quan hệ lao động, khi quan hệ lao động  
được thực hiện thì sự thỏa thuận của các bên lại phụ thuộc vào địa vị  
pháp lý của các chủ thể đó. Trong quan hệ lao động, người lao động là  
người bán sức lao động và phụ thuộc vào quá trình quản lý điều hành của  
người sử dụng lao động do đó khi thỏa thuận, thay đổi các quyền và  
nghĩa vụ của mình, người lao động có sự lệ thuộc pháp lý nhất định. Điều  
này dẫn đến tính tương đối trong quá trình thỏa thuận. Tuy nhiên, pháp  
luật lao động cũng quy định những giới hạn tối thiểu hoặc những giới hạn  
tối đa để các chủ thể lựa chọn khi xác lập quan hệ dựa trên điều kiện thực  
tế của doanh nghiệp đó.  
Nếu như phương pháp thỏa thuận trong luật lao động mang tính  
tương đối thì phương pháp thỏa thuận trong luật dân sự mang tính tuyệt  
đối. Tính chất này dựa trên sự bình đẳng về địa vị pháp lý của các chủ thể  
đó. Khi tham gia quan hệ dân sự, các chủ thể được quyền tự do thể hiện ý  
chí, bày tỏ ý chí của mình mà không chịu sự ràng buộc của bên kia, chính  
vì vậy sự thỏa thuận này tồn tại từ khi xác lập, thay đổi hay chấm dứt  
quan hệ dân sự.  
16  
2.2.2. Phương pháp mệnh lệnh  
Do yêu cầu của việc tổ chức và điều hành quá trình lao động mà  
yếu tố quyền uy được sử dụng. Phương pháp mệnh lệnh trong luật lao  
động thể hiện quyền quản lý của người sử dụng lao động đối với người  
lao động. Phương pháp mệnh lệnh trong luật lao động thể hiện ý chí,  
quyền uy của người sử dụng lao động trong việc đưa ra các mệnh lệnh  
mang tính chất bắt buộc, phục tùng của người lao động vào người sử  
dụng lao động.  
Tuy nhiên, tính chất bắt buộc phải chấp hành các mệnh lệnh của  
người sử dụng lao động trong một số trường hợp vẫn mang tính linh hoạt  
trên cơ sở có sự thỏa thuận từ phía người lao động hoặc quyền quản lý  
của người sử dụng lao động có những giới hạn nhất định như việc chuyển  
người lao động sang làm công việc khác với hợp đồng lao động, khi ban  
hành thỏa ước lao động tập thể, khi xử lý kỷ luật người lao động, khi tổ  
chức quản lý lao động, xác lập nghĩa vụ cho người lao động…  
Trong luật lao động, phương pháp mệnh lệnh được sử dụng hợp lý  
và có những điểm khác biệt so với phương pháp mệnh lệnh trong luật  
hành chính. Các chủ thể khi tham gia vào quan hệ hành chính có địa vị  
không bình đẳng với nhau, một bên mang quyền lực nhân danh Nhà nước  
có quyền ra mệnh lệnh bắt buộc với một bên có nghĩa vụ phục tùng các  
mệnh lệnh đó. Chính vì vậy, phương pháp mệnh lệnh trong luật hành  
chính mang tính cứng rắn và thể hiện quyền lực của Nhà nước trong lĩnh  
vực quản lý. Trong luật lao động, phương pháp mệnh lệnh không thể hiện  
quyền lực Nhà nước mà thể hiện quyền uy của chủ sử dụng lao động đối  
với người lao động.4  
2.2.3. Phương pháp tác động của tổ chức công đoàn  
Khi tham gia vào quan hệ lao động, người lao động thường rơi vào  
vị trí thế yếu do đó tổ chức Công đoàn được thành lập nhằm bảo vệ  
quyền lợi người lao động từ khi xác lập, thay đổi, chấm quan hệ lao  
động. Pháp luật lao động trao cho tổ chức công đoàn các quyền năng  
4 Giáo trình Luật lao động Việt Nam, Chu Thanh Hưởng (CB), NXB Công an nhân dân,  
Hà Nội 2005, tr16  
17  
pháp lý nhất định trong việc thực hiện chức năng đại diện như: tham gia  
thương lượng và ký kết thỏa ước lao động tập thể, tham gia xây dựng nội  
quy, tham gia xử lý kỷ luật người lao động, tham gia giải quyết tranh  
chấp lao động… Với ý nghĩa đó, có thể nói, phương pháp tác động của tổ  
chức công đoàn là phương pháp điều chỉnh đặc thù của luật lao động  
nhằm bảo vệ quyền lợi cho tập thể người lao động, thể hiện chức năng  
đại diện của tập thể lao động, góp phần xây dựng quan hệ lao động hài  
hòa, ổn định, tạo sự bình đẳng giữa các bên khi thiết lập quan hệ.  
Qua việc phân tích đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều  
chỉnh của luật lao động, có thể định nghĩa: “Luật lao động là một ngành  
luật độc lập bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan  
hệ lao động giữa người lao động làm công ăn lương với người sử dụng  
lao động, hình thành trên cơ sở giao kết hợp đồng lao động và các quan  
hệ xã hội liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động”.5  
3. CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA LUẬT LAO ĐỘNG  
3.1. Khái niệm  
Các nguyên tắc của luật lao động là những quan điểm, tư tưởng chỉ  
đạo xuyên suốt và chi phối tòan bộ hệ thống các quy phạm pháp luật lao  
động nhằm điều chỉnh quan hệ lao động và các quan hệ liên quan đến  
quan hệ lao động.  
Các nguyên tắc của luật lao động đều hướng đến việc bảo vệ quyền  
và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, quyền và lợi ích hợp  
pháp của người sử dụng lao động, xây dựng mối quan hệ lao động hài  
hòa, ổn định, phát huy được khả năng sáng tạo trong lao động của người  
lao động cũng như người sử dụng lao động để tăng năng suất lao động,  
tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp, nâng cao đời sống vật chất và đời sống  
tinh thần cho người lao động đồng thời đóng góp một phần thu nhập cho  
ngân sách Nhà nước.  
Trên cơ sở đó, luật lao động sử dụng các nguyên tắc mang tính  
định hướng như: nguyên tắc kinh tế, nguyên tắc chính trị, nguyên tắc dân  
5 Giáo trình Luật lao động, PTS Phạm Công Trứ (CB), NXB Đại học Quốc Gia, Hà Nội  
1999, tr23-24  
18  
chủ, nguyên tắc xã hội, nguyên tắc đạo đức, nguyên tắc pháp chế, nguyên  
tắc tư tưởng văn hóa. Ngoài ra luật lao động còn sử dụng các nguyên tắc  
đặc thù của luật lao động.  
3.2. Các nguyên tắc cơ bản của luật lao động  
3.2.1. Nguyên tắc Nhà nước quản lý thống nhất các quan hệ lao động  
và quan hệ liên quan đến quan hệ lao động  
Nhà nước là chủ thể ban hành hệ thống các văn bản pháp luật điều  
chỉnh quan hệ lao động và quan hệ liên quan đến quan hệ lao động như:  
Bộ luật lao động, Luật công đoàn, Luật bảo hiểm xã hội, các Nghị định,  
các Thông tư hướng dẫn…  
Nhà nước thực hiện quyền giám sát các chủ thể tham gia thực hiện  
quan hệ lao động và quan hệ liên quan đến quan hệ lao động, phát hiện  
và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực lao  
động. Nhà nước ban hành các chế tài để áp dụng đối với các hành vi vi  
phạm pháp luật đó.  
Nhà nước quy định các tiêu chuẩn, khung pháp lý, địa vị pháp lý  
cho các chủ thể thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Nhà nước tạo môi  
trường pháp lý an tòan, bình đẳng, minh bạch cho các chủ thể tham gia  
vào quan hệ lao động và quan hệ liên quan đến quan hệ lao động.  
Nhà nước cũng xây dựng các cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp  
pháp, chính đáng của các chủ thể tham gia vào quan hệ này.  
Nhà nước thống nhất quản lý nguồn nhân lực và quản lý lao động  
bằng pháp luật và có chính sách để phát triển, phân bố nguồn nhân lực,  
phát triển đa dạng các hình thức sử dụng lao động và dịch vụ việc làm.  
Nhà nước hướng dẫn người lao động và người sử dụng lao động xây  
dựng mối quan hệ lao động hài hòa và ổn định, cùng nhau hợp tác vì sự  
phát triển của doanh nghiệp. Nhà nước khuyến khích việc quản lý lao  
động dân chủ, công bằng, văn minh trong doanh nghiệp. (Điều 4 Bộ luật  
lao động 2012).  
3.2.2. Nguyên tắc bảo vệ người lao động  
Khi tham gia quan hệ lao động người lao động là người chỉ có tài  
sản duy nhất là sức lao động chính vì vậy người lao động phụ thuộc chặt  
19  
chẽ vào người sử dụng lao động. Để đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của  
các bên trên cơ sở bình đẳng, hài hòa pháp luật lao động quy định nguyên  
tắc bảo vệ người lao động dựa trên những lĩnh vực sau:  
3.2.2.1. Đảm bảo quyền tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp không bị  
phân biệt đối xử của người lao động  
Điều 55 Hiến pháp 1992 qui định: “Lao động là quyền và nghĩa vụ  
của công dân. Nhà nước và xã hội có kế hoạch đào tạo ngày càng nhiều  
việc làm cho người lao động”. Với quy định này pháp luật đã tạo ra một  
hành lang pháp lý để cho công dân được quyền lựa chọn việc làm, ngành  
nghề, nơi làm việc phù hợp với nhu cầu của cá nhân và gia đình. Theo  
đó, khi tham gia vào quan hệ lao động, công dân được lựa chọn ngành  
nghề cụ thể theo yêu cầu của bản thân, gia đình, được tự do xác lập một  
hoặc nhiều hợp đồng lao động với một hoặc nhiều chủ sử dụng lao động,  
được tự do lựa chọn loại hợp đồng lao động để giao kết, được đơn  
phương chấm dứt hợp đồng lao động, được làm bất cứ công việc gì mà  
pháp luật không cấm, được làm việc ở bất cứ khu vực nào mà pháp luật  
cho phép. Pháp luật lao động cũng cho phép công dân được tham gia  
quan hệ lao động với tư cách là người lao động hoặc với tư cách là người  
sử dụng lao động. Với quy định này, đa số người lao động lựa chọn khu  
vực thành phố lớn để tham gia quan hệ lao động dẫn đến tình trạng “chợ  
người”, sự mất cân đối lực lượng lao động giữa khu vực thành thị với  
khu vực nông thôn, khu vực đồng bằng với khu vực miền núi.  
Chính vì vậy, Nhà nước phải có cơ chế quản lý lao động phù hợp  
với từng khu vực, điều tiết phân công lao động cân đối và hợp lý giữa các  
vùng, miền. Để đảm bảo lực lượng lao động phân bố phù hợp, Nhà nước  
cần có cơ chế thu hút lao động, có chính sách đãi ngộ lao động tương  
xứng với đặc thù tính chất công việc, địa điểm làm việc, đối tượng lao  
động bình thường và đối tượng lao động đặc thù trên cơ sở tôn trọng  
quyền tự do lựa chọn việc làm của các bên và nguyên tắc không bị phân  
biệt đối xử về giới tính, dân tộc, thành phần xã hội, tôn giáo. Trong đó  
đối với những lao động đặc thù (lao động nữ, lao động chưa thành niên,  
lao động tàn tật) Nhà nước phải có chế độ ưu đãi thích hợp để khuyến  
khích và bảo vệ quyền lợi cho những đối tượng lao động này.  
20  
3.2.2.2. Trả lương theo thỏa thuận nhưng không thấp hơn tiền lương tối  
thiểu do Nhà nước quy định  
Tiền lương là số lượng tiền tệ mà người sử dụng lao động trả cho  
người lao động trên cơ sở người lao động hòan thành công việc theo hợp  
đồng lao động hoặc theo quy định của pháp luật. Điều 90 Bộ luật lao  
động 2012 quy định: “Tiền lương là khoản tiền mà người sử dụng lao  
động trả cho người lao động để thực hiện công việc theo thỏa thuận. Tiền  
lương bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương  
và các khoản bổ sung khác. Mức lương của người lao động không được  
thấp hơn mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định. Tiền lương trả cho  
người lao động căn cứ vào năng suất lao động và chất lượng công việc”.  
Tiền lương là giá cả sức lao động, phản ánh giá trị sức lao động, là cơ sở  
cho sự thỏa thuận của các bên.  
Khi trả lương cho người lao động, người sử dụng lao động trả  
lương theo nguyên tắc thỏa thuận trên cơ sở năng suất, chất lượng, hiệu  
quả công việc, khu vực làm việc, điều kiện làm việc, trình độ tay nghề,  
đối tượng người lao động. Việc pháp luật cho phép các chủ thể được  
quyền tự do thỏa thuận tiền lương trong hợp đồng lao động tạo ra sự linh  
hoạt trong việc trả lương, tạo cho người sử dụng lao động sự tự chủ trong  
khi thực hiện quyền quản lý của mình. Đồng thời, sự thỏa thuận trong trả  
lương cũng giúp cho người lao động có nhiều cơ hội trong việc lựa chọn  
cho mình một môi trường làm việc, một công việc phù hợp và một giá trị  
sức lao động tương ứng với những gì mình bỏ ra.  
Tuy nhiên, bên cạnh việc pháp luật lao động cho phép các chủ thể  
được tự do thỏa thuận tiền lương thì pháp luật lao động cũng đặt ra  
những giới hạn tối thiểu về tiền lương trong khu vực Nhà nước, trong các  
doanh nghiệp, hợp tác xã, trong các tổ chức cá nhân nước ngoài có sử  
dụng lao động Việt Nam để các bên làm căn cứ khi trả lương. Quy định  
này nhằm bảo vệ người lao động trước sức ép của nền kinh tế thị trường,  
tránh sự lạm dụng, bóc lột từ phía người lao động, tạo cơ sở trong quá  
trình quản lý tiền lương, vừa mở ra sự chủ động cho các chủ thể đồng  
thời cũng có cơ chế giám sát, điều tiết tiền lương của Nhà nước.  
21  
Ngoài ra, pháp luật lao động còn quy định việc trả lương trong  
những trường hợp đặc biệt như trả lương làm đêm, trả lương làm thêm  
giờ, trả lương trong thời gian ngừng việc, trả lương khi bị tạm giữ, tạm  
giam, trả lương khi người lao động nghỉ chế độ, trả lương khi người lao  
động đi nghĩa vụ quân sự…  
3.2.2.3. Thực hiện bảo hộ lao động đối với người lao động  
Pháp luật lao động quy định Nhà nước, cơ quan có thẩm quyền,  
người sử dụng lao động phải có trách nhiệm trong việc đảm bảo điều  
kiện an tòan, vệ sinh lao động cho người lao động. Chính phủ quyết định  
chương trình quốc gia về bảo hộ lao động, an tòan lao động, vệ sinh lao  
động, đưa vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách của Nhà  
nước; đầu tư nghiên cứu khoa học, hỗ trợ phát triển các cơ sở sản xuất  
dụng cụ, thiết bị an tòan lao động, vệ sinh lao động, phương tiện bảo vệ  
cá nhân; ban hành hệ thống tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm về an tòan  
lao động, vệ sinh lao động. Người sử dụng lao động có trách nhiệm trang  
bị đầy đủ phương tiện bảo hộ lao động, bảo đảm an tòan lao động, vệ  
sinh lao động và cải thiện điều kiện lao động cho người lao động. Người  
lao động phải tuân thủ các quy định về an tòan lao động, vệ sinh lao động  
và nội quy lao động của doanh nghiệp. Mọi tổ chức và cá nhân có liên  
quan đến lao động, sản xuất phải tuân theo pháp luật về an tòan lao động,  
vệ sinh lao động và về bảo vệ môi trường. Người lao động khi tham gia  
vào quan hệ lao động được người sử dụng lao động trang bị các phương  
tiện lao động cá nhân, được khám sức khỏe định kỳ, được bồi dưỡng  
bằng hiện vật, hưởng chế độ ưu đãi về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ  
ngơi theo quy định của pháp luật, được hưởng chế độ ưu đãi khi làm việc  
trong môi trường độc hại, nguy hiểm, được bồi thường và hưởng chế độ  
khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc bị chết.  
3.2.2.4. Đảm bảo quyền được nghỉ ngơi của người lao động  
Quyền nghỉ ngơi là một quyền cơ bản của người lao động để phục  
hồi sức khoẻ, tái sản xuất sức lao động và tăng năng suất lao động. Nhà  
nước quy định chế độ nghỉ ngơi cho người lao động dựa trên cơ sở khu  
vực làm việc, tính chất công việc, đối tượng lao động khác nhau mà quy  
định thời gian nghỉ ngơi khác nhau. Pháp luật lao động quy định thời  
22  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 59 trang Thùy Anh 12981 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Luật lao động Việt Nam (Phần 1)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_luat_lao_dong_viet_nam_phan_1.pdf