Một số kiến nghị sửa đổi những vấn đề kinh tế trong luật đất đai năm 2013

MỘT SỐ KIẾN NGHỊ SỬA ĐỔI NHỮNG VẤN ĐỀ KINH TẾ  
TRONG LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2013  
PGS.TS. Hoàng Văn Cường  
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân  
Thực hiện nhiệm vụ được giao, đề tài cấp Nhà nước BĐKH41/16-20“Nghiên cứu  
cơ sở khoa học và đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý kinh tế đất, khai thác nguồn  
thu từ đất theo cơ chế thị trường” đã tiến hành nghiên cứu cơ sở lý luận về kinh tế đất,  
các chính sách và công cụ quản lý nhà nước về kinh tế đất, đánh giá thực trạng các chính  
sách và các công cụ quản lý nhà nước về kinh tế đất đang được thực hiện ở nước ta hiện  
nay. Trên cơ sở phân tích đánh giá những tồn tại, hạn chế trong quản lý kinh tế đất ở nước  
ta, đề tài đã phát hiện, tìm ra những tồn tại trong cơ chế chính sách và luật pháp và đề xuất  
các giải pháp để tăng cường quản lý kinh tế đất theo cơ chế thị trường nhằm khai thác sử  
dụng hợp lý nguồn lực đất đai cho phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Dưới đây là một  
số khuyến nghị, đề xuất sửa đổi những vấn đề kinh tế trong Luật Đất đai 2013.  
1- Sửa đổi quy định về khung giá đất, bảng giá đất và đăng ký giá đất  
Bỏ quy định về khung giá đất; sử dụng thống nhất một loại giá đất cụ thể cho mọi  
chính sách kinh tế về đất đai. Trường hợp những thửa đất chưa đăng ký giá đất cụ thể thì  
căn cứ vào bảng giá đất được xây dựng và cập nhật hàng năm để xác định giá đất cụ thể  
cho mỗi thửa đất khi thực hiện các chính sách kinh tế đối với đất đai.  
Điều 112 của Luật Đất đai quy định: việc định giá đất phải phù hợp với giá đất phổ  
biến trên thị trường; Điều 113 quy định Chính phủ ban hành khung giá đất định kỳ 05  
năm 01 lần làm căn cứ xây dựng bảng giá đất; Điều 114 quy định Ủy ban nhân dân cấp  
tỉnh ban hành bảng giá đất định kỳ 05 năm 01 lần để sử dụng vào các mục đích tính tiền  
sử dụng đất trong hạn mức, tính thuế, phí, lệ phí, tiền xử phạt hoặc bồi thường khi người  
sử dụng đất vi phạm, tính tiền trả cho người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất. Điều 114  
cũng quy định giá đất cụ thể được định giá dựa vào các thông tn thị trường và dùng để  
tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất, cho thuê đất, tính giá trị quyền sử dụng đất  
khi cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.  
Việc quy định như Luật hiện hành, trên thực tế có những mâu thuẫn như sau:  
- Giá đất trong bảng giá đất không tuân thủ quy định về nguyên tắc là phải phù hợp  
với giá thị trường vì bảng giá đất bị phụ thuộc vào khung giá đất, trong khi khu khung giá  
đất đã xác định không phù hợp với giá trị thị trường của đất đai và phải ổn định 5 năm.  
Do vậy, cần bỏ Điều 113 về Khung giá đất, đồng thời bỏ quy định bảng bảng giá đất được  
xây dựng 5 năm 1 lần mà phải được xây dựng, cập nhật hàng năm để phù hợp với sự thay  
đổi giá trị thị trường của đất đai.  
3
- Không bình đẳng giữa những người sử dụng đất khi cùng thực hiện quyền và  
nghĩa vụ về tài chính đối với đất đai: khi Nhà nước xác định nghĩa vụ của người sử dụng  
đất phải thực hiện các chính sách kinh tế đất đai (như thu thuế, thu tiền sử dụng đất) căn  
cứ vào bảng giá đất là mức giá lạc hậu, thấp hơn so với giá trị thực làm thất thoát nguồn  
thu của nhà nước. Ngược lại giá đất cụ thể khi đền bù thường đã được xác định giá cao  
hơn so với giá trong bảng giá đất khi thực hiện các nghĩa vụ tài chính nhưng vẫn không  
được người dân thoả mãn vì giá thực tế trên thị trường biến động thường xuyên và không  
có cở sở xác định mức giá nào là phù hợp. Do vậy, cần xác định một loại giá đất thống  
nhất khi thực hiện các chính sách đất đai (bao gồm cả việc thực hiện các nghĩa vụ của  
người sử dụng đất cũng như quyền lợi của người sử dụng đất khi thực hiện đền bù giải  
phóng mặt bằng). Giá này phải phản ánh được các yếu tố yếu tố cấu thành giá trị thị  
trường đất đai, phù hợp với giá cả giao dịch phổ biến trên thị trường, được mọi người khi  
tham gia vào các quan hệ kinh tế đất đai công nhận. Đó chính là giá cụ thể được xác định  
và đăng ký để thực hiện các chính sách kinh tế cho từng thửa đất.  
- Đất đai có đặc điểm mang tính cá biệt: mỗi thửa đất có một vị trí và đặc điểm  
mang tính duy nhất, riêng biệt không thể so sánh tương đương với thửa đất khác như các  
hàng hóa thông thường. Do đó, giá cả đất đai trên thị trường cũng mang có tính cá biệt  
rất cao và phụ thuộc vào yếu tố chủ quan như tâm lý của người giao dịch, không có được  
mức giá chung phổ biến chung cho tất cả các thửa đất như mức giá chung cho các loại  
hàng hoá thông thường. Bởi vậy, việc quy định về nguyên tắc định giá đất phải phù hợp  
với giá đất phổ biến trên thị trường là bất khả thi mà chỉ có thể phù hợp với giá trị thị  
trường của loại đất đó.  
Từ những lý do trên, cần bổ sung sửa đổi những quy định về giá đất như sau:  
(1) Bổ sung phân biệt khái niệm về giá cả thị trường và giá trị thị trường của đất đai  
Giá cả thị trường của đất đai là giá mua bán, trao đổi giữa người mua và người  
bán thoả thuận với nhau khi mua bán, trao đổi quyền sử dụng đất trên thị trường. Giá cả  
thị trường của đất đai phụ thuộc vào giá trị thị trường của loại đất đó và yếu tố cá nhân  
riêng của người mua và người bán khi thực hiện giao dịch về đất đai.  
Giá trị thị trường của đất đai là mức giá được xác định dựa trên các yếu tố thị  
trường cấu thành giá trị đất đai (như khả năng sinh lợi, vị trí, kích thước, mục đích sử  
dụng đất, quan hệ cung cầu và giá cả giao dịch phổ biến về loại đất đó trên thị trường  
trong điều kiện bình thường).  
(2) Sửa Điều 112 về Nguyên tắc định giá đất là: Giá đất được xác định phải phù  
hợp với giá trị thị trường của đất đai, được sử dụng khi thực hiện tất cả các chính sách tài  
chính về đất đai, không còn sự khác nhau giữa giá đất trong bảng giá với giá đất cụ thể  
khi thực hiện các chính sách tài chính về đất đai.  
(3) Bỏ Điều 113: bỏ quy định về khung giá đất.  
4
(4) Sửa Điều 114: Giá đất và bảng giá đất. Giá đất được xác định cho từng thửa  
đất dùng để tính thuế, phí và lệ phí, thu tiền sử dụng đất và bồi thường khi thu hồi đất.  
Giá đất được đăng ký bắt buộc là thông tin của từng thửa đất và được cập nhật dựa trên  
giá chuyển nhượng hoặc giá tính thuế đất, nhưng không thấp hơn mức giá quy định trong  
bảng giá đất của địa phương. Bảng giá đất được xây dựng và cập nhật hàng năm để làm  
cơ sở xác định giá đất cụ thể cho mỗi thửa đất khi thực hiện các chính sách kinh tế đối  
với đất đai.  
(5) Bổ sung quy định quyền ưu tiên mua của Nhà nước đối với đất đai chuyển  
nhượng để phục vụ mục tiêu tạo quĩ đất cho các hoạt động cộng đồng và khắc phục tình  
trạng người dân kê khai giá đất trong hợp đồng chuyển nhượng thấp để trốn thuế khi  
chuyển nhượng.  
(6) Bổ sung quy định về việc đăng ký và cập nhật giá đất hàng năm vào Điều 95  
để giá đất là một thông tin bắt buộc trong hệ thống thông tin đất đai và phục vụ cho việc  
thực hiện các chính sách điều tiết giá trị gia tăng khi Nhà nước đầu tư phát triển hạ tầng  
hoặc thay đổi quy hoạch.  
(7) Bổ sung thêm vào Điều 64 thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai: người  
sử dụng đất chuyển quyền sử dụng đất mà không đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm  
quyền sẽ bị thu hồi đất đã giao dịch chuyển nhượng.  
2- Sửa đổi quy định về định giá đất cụ thể và thẩm quyền của cơ quan định giá đất  
Bỏ quy định UBND cấp tỉnh quyết định giá đất cụ thể dự trên ý kiến xem xét của  
Hội đồng thẩm định giá đất. Giao trách nhiệm định giá đất cho một bộ phận chuyên trách  
của cơ quan quản lý đất đai chịu trách nhiệm định giá và quản lý thông tin giá đất đai  
trên phạm vi toàn quốc. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định chính sách giảm giá tính  
nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất để khuyến khích các hoạt động sử dụng đất  
được ưu tiên tại địa phương.  
Điều 114 Luật Đất đai hiện hành quy định cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh có  
trách nhiệm xác định giá đất (có thể thuê tổ chức tư vấn xác định giá đất) trình Hội đồng  
thẩm định giá đất xem xét trước khi trình UBND cấp tỉnh quyết định giá đất cụ thể. Việc  
thực hiện trên thực tế theo quy định này bộc lộ những hạn chế sau đây:  
- Định giá đất là một nghiệp vụ phức tạp, khó khăn đòi hỏi cần có các chuyên gia  
với các nghiệp vụ chuyên sâu. Phần lớn các thành viên tham gia Hội đồng là những người  
đại diện cho các cơ quan ban ngành có liên quan, không phải là người có chuyên môn  
nghiệp vụ và am hiểu sâu về định giá đất nên không thể có ý kiến xác đáng đủ để thực  
hiện đúng chức năng thẩm định.  
- Vì đã thông qua Hội đồng thẩm định giá đất xem xét cho ý kiến trước khi UBND  
tỉnh quyết định nên khi giá đất xác định không đúng cũng không quy trách nhiệm được  
cho cá nhân cụ thể vì Hội đồng đã thông qua. Hơn nữa, chủ tịch Hội đồng cũng chính là  
5
Chủ tịch UBND tỉnh, Hội đồng lại đóng vai trò thẩm định cho UBND tỉnh, nên cơ chế  
Hội đồng rất dễ bị lợi dụng để hợp pháp hoá cho các ý chí cá nhân, là nguyên nhân nảy  
sinh sinh tiêu cực, tham nhũng trong lĩnh vực đất đai.  
- Tổ chức tư vấn xác định giá đất là các tổ chức tư nhân, có thể ra đời và giải thể  
bất cứ lúc nào; ý kiến của tổ chức tư vấn cũng chỉ là một trong số các ý kiến của Hội đồng  
chứ không phải là ý kiến quyết định, nên quyền quyết định và trách nhiệm của tổ chức tư  
vấn cũng chỉ giới hạn một phần rất nhỏ đối với sự sai lệch của giá đất cụ thể.  
Vì vậy, cần sửa đổi, bổ sung quy định về định giá đất cụ thể và cơ quan chịu trách  
nhiệm trong việc định giá đất như sau:  
(1) Chuyển bộ phận chuyên môn về định giá và thông tin giá đất trong bộ máy quản  
lý nhà nước về đất đai hiện nay thành đơn vị sự nghiệp chuyên trách về định giá và cung  
cấp thông tin giá đất trên phạm vi toàn quốc. Cơ quan định giá đất có trách nhiệm xây  
dựng bảng giá đất cho các địa phương, định giá đất cụ thể cho từng thửa đất phục vụ cho  
các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện các chính sách kinh tế đất đai. Cơ quan định giá  
đất phải chịu toàn bộ trách nhiệm về tính chính xác, phù hợp về giá đất trong việc thực  
hiện các chính sách đền bù cho người có đất bị thu hồi nếu người dân khiếu nại hoặc chịu  
trách nhiệm nếu để thất thoát khi xác định giá thu tiền sử dụng đất của nhà nước. Cơ quan  
định giá đất có trách nhiệm vận dụng các phương pháp định giá để xây dựng bảng giá đất  
hàng năm cho các địa phương và cập nhật thông tin thường xuyên định hướng thị trường  
và phục vụ cung cấp giá đất cho các cơ quan nhà nước.  
(2) Các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai khi thực hiện chính sách kinh tế về đất  
đai như thu thuế, phí, thu tiền sử dụng đất, xác định chính sách đền bù không tự xác định  
giá đất, phải sử dụng giá đất cụ thể đã đăng ký trong thông tin thửa đất hoặc mức giá  
trong bảng giá đất do cơ quan định giá đất cung cấp, kết hợp với tỷ lệ giảm trừ do cơ quan  
có thẩm quyền ở địa phương quyết định.  
(3) Quy định Hội đồng nhân dân (trong trường hợp giữa hai kỳ họp thì Hội đồng  
nhân dân uỷ quyền cho Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh) quyết định tỷ lệ giảm  
giá đất làm cơ sở tính nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất như thu thuế, thu tiền sử  
dụng đất phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội và các mục tiêu ưu tiên của địa phương.  
Lý do đề xuất cần có tỷ lệ giảm giá để thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với người  
sử dụng đất là do giá đất cụ thể đăng ký trong thông tin từng thửa đất hoặc giá trong bảng  
giá đất đã được xác định phù hợp với giá trị thị trường của đất đai nên cao ngang bằng  
với mức giá mua bán chuyển nhượng của người dân trên thị trường. Để giảm áp lực về  
mức thuế hoặc tiền sử dụng đất phải nộp đối với người sử dụng đất có điều kiện hoàn  
cảnh khác hoặc các đối tượng cần khuyến khích ưu tiên thì cần có chính sách giảm mức  
nghĩa vụ tài chính đối với người sử dụng đất thuộc đối tượng được ưu tiên.  
6
Tỷ lệ giảm giá khi tính thuế được xác định luỹ thoái theo quy mô sử dụng đất bình  
quân của mỗi người (người sử dụng đất trong hạn mức tối thiểu được áp dụng tỷ lệ giảm  
giá nhiều nhất, giá tính thuế thấp nhất, diện tích sử dụng vượt hạn mức càng nhiều thì tỷ  
lệ giảm giá càng thấp, giá tính thuế càng cao). Việc xác định tỷ lệ này một cách hợp lý  
khi tính thuế sử dụng đất sẽ đảm bảo đời sống sinh hoạt của người lao động có mức sống  
trung bình không bị ảnh hưởng do giá đất cụ thể được xác định ngang bằng giá trên thị  
trường, đồng thời sẽ có tác dụng tích cực điều tiết hành vi của những người sử dụng đất  
nhiều hơn mức trung bình, sẽ hạn chế được hành vi đầu cơ đất, góp phần bình ổn thị  
trường đất đai. Nhờ đó, khi xác định giá đất cụ thể và bảng giá đất ngang bằng giá cả giao  
dịch trên thị trường sẽ có tác dụng làm giảm cầu về đầu cơ đất đai làm tổng cầu đất đai  
giảm sẽ kỳ vọng giảm giá đất trên thị trường, chứ không làm tăng giá về tâm lý như nhiều  
người lo ngại.  
Tỷ lệ giảm giá khi thu tiền sử dụng đất cũng được xác định tuỳ theo đối tượng được ưu  
tiên trong sử dụng đất như xây dựng nhà ở xã hội, các lĩnh vực đầu tư được ưu tiên. Chính  
sách này không chỉ khắc phục tâm lý e ngại khi giá đất cụ thể hay bảng giá đất công bố cao  
tương đương giá giao dịch trên thị trường vì sẽ không làm cản trở những nhà đầu tư cần ưu  
tiên mời gọi, mà còn hạn chế chế được những hành vi đầu tư không khuyến khích hoặc mượn  
bóng dự án đầu tư để gom đất, găm đất với mức giá thấp chờ tăng giá kiếm lời.  
Tỷ lệ giám giá khi thực hiện các chính sách kinh tế đối với đất đai là một chính sách  
kinh tế cần được áp dụng công khai, minh bạch và có tác động đến chiến lược và chính  
sách phát triển phù hợp với điều kiện đặc thù của mỗi địa phương. Do vậy, chính sách  
này phải do Hội đồng nhân dân cấp Tỉnh là cơ quan có thẩm quyền quyết định các chính  
sách của địa phương quyết định.  
(4) Bổ sung Điều 107 Luật Đất đai quy định các khoản thu tài chính từ đất đai  
thuộc nguồn thu cân đối ngân sách địa phương, sửa Điều 35 và Điều 37 của Luật Ngân  
sách quy định về phân chia các nguồn thu từ đất đai về ngân sách Trung ương.  
Chính sách áp dụng Tỷ lệ giảm giá đất được Hội đồng nhân dân cấp Tỉnh quyết  
định sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu từ đất đai tại mỗi địa phương. Do vậy, để  
tránh tình trạng áp dụng chính sách ưu đãi tràn lan không phù hợp và cân đối với điều  
kiện phát triển kinh tế xã hội của địa phương, thì toàn bộ các nguồn thu từ đất đai phải  
được quy định tính vào nguồn cân đối ngân sách của địa phương. Kinh nghiệm của các  
nước trên thế giới nguồn thu từ đất luôn quy định là nguồn thu ngân sách địa phương để  
gắn vai trò và trách nhiệm quản lý của chính quyền địa phương về các nguồn lực tài chính  
đất đai. Việc thay đổi quy định này chỉ có tác động làm tăng tổng nguồn thu ngân sách  
một cách phù hợp, và điều chỉnh lại cách phân bổ và cân đối nguồn thu giữa ngân sách  
Trung ương và ngân sách địa phương chứ không làm giảm tổng nguồn thu ngân sách quốc  
gia. Do vậy, bên cạnh bổ sung quy định này vào Điều 107 Luật Đất đai quy định các  
7
khoản thu tài chính từ đất đai phải đưa vào cân đối ngân sách địa phương thì cần bổ quy  
định phân chia một số nguồn thu từ đất đai giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa  
phương tại Điều 35 và Điều 37 của Luật Ngân sách nhà nước.  
3- Sửa đổi, bổ sung quy định về điều tiết giá trị gia tăng từ đất  
Thực hiện chính sách thu thuế để điều tiết phần giá trị gia tăng từ đất không do đầu  
tư của người sử dụng đất mang lại; thu hồi đất vùng phụ cận các dự án đầu tư phát triển  
hạ tầng, chỉnh trang đô thị để khai thác tối đa lợi thế mang lại từ các công trình hạ tầng  
mang lại phục vụ lợi ích chung của cộng đồng và lợi ích chung của xã hội; thực hiện đấu  
thầu dự án sử dụng đất để lựa chọn nhà đầu tư sử dụng đất và phát triển dự án tối ưu  
nhất và cơ chế chia sẻ lợi ích sau khi dự án hoàn thành để điều tiết giá trị gia tăng từ đất.  
Điều 19 Luật Đất đai hiện hành quy định Nhà nước điều tiết phần giá trị gia tăng  
từ đất không do đầu tư của người sử dụng đất mang lại. Tuy nhiên trên thực tế, việc điều  
tiết giá trị gia tăng từ đất chưa được thực hiện nên đã tạo nên những bất cập sau đây:  
- Các dự án đầu tư khi thu hồi đất nông nghiệp đền bù và nộp tiền sử dụng đất theo  
giá thấp nhưng khi thực hiện dự án chuyển đổi mục đích sang đất kinh doanh phi nông  
nghiệp nên giá đất tăng lên nhiều lần không phải do đầu tư mà do thay đổi mục đích sử  
dụng đất mang lại. Thêm vào đó, khi dự án triển khai thì nhiều công trình hạ tầng liền kề  
cũng được đầu tư phát triển, làm thay đổi lợi thế và gia tăng giá trị đất đai. Toàn bộ phần  
giá trị gia tăng này đang rơi vào tay của nhà đầu tư làm cho người dân có đất bị thu hồi  
bức xúc.  
- Các dự án đầu tư hạ tầng chỉnh trang đô thị tốn rất nhiều tiền từ ngân sách nhà  
nước, người dân trong diện giải toả phải di dời đi nơi khác sinh sống gặp nhiều khó khăn  
do thay đổi cuộc sống trong khi đó những người dân liền kề với dự án được hưởng toàn  
bộ giá trị gia tăng của đất đai, diện mạo đô thị không được chỉnh trang, nhà nước phải  
tiếp tục bỏ ngân sách nhiều hơn nếu muốn thực hiện các giai đoạn tiếp sau của dự án hoặc  
các dự án liền kề. Tình trạng này không chỉ tạo ra bất bình đẳng giữa những người dân  
phải di dời để triển khai dự án với người không phải di dời, thậm chí cả những người di  
dời muộn thuộc các giai đoạn sau của dự án. Nguồn lực tạo ra từ công trình đầu tư không  
được khai thác triệt để do các hộ dân liền kề sử dụng đất chia cắt, phân tán làm ảnh hưởng  
đến mỹ quan đô thị.  
- Tình trạng đầu cơ đất khi nắm trước được thông tin quy hoạch, thông tin triển khai  
các dự án đầu tư đã mua trước đất đai để đầu cơ chờ khi quy hoạch thay đổi hoặc các dự  
án được triển khai làm giá đất tăng để kiếm lợi đã làm sai lệch thị trường đất đai, đẩy giá  
đất tăng lên không phù hợp với giá trị thị trường của đất đai.  
Vì vậy, để điều tiết phần giá trị gia tăng từ đất trong các trường hợp trên đây, cần  
sửa đổi, bổ sung quy định về điều tiết giá trị giá trị gia tăng từ đất như sau:  
8
(1) Đánh thuế luỹ tiến trên phần chênh lệch tăng lên giữa giá mua và giá bán đất  
tuỳ theo độ dài khoảng thời gian giữa hai lần giao dịch: thời gian giữa hai lần giao dịch  
càng ngắn thì tỷ suất thuế điều tiết càng cao để điều tiết phần giá trị gia tăng tập trung cho  
ngân sách; thời gian giữa hai lần giao dịch càng cách xa nhau, tỷ lệ thuế điều tiết giá trị  
gia tăng giữa hai lần giao dịch càng thấp do người chiếm giữ đất đã phải nộp tiền thuế  
theo giá trị mảnh đất trong thời gian chiếm giữ đất. Với cơ chế thuế này, nhà nước sẽ điều  
tiết được phần giá trị gia tăng của đất do sự thay đổi về quy hoạch, sự phát triển của điều  
kiện kinh tế xã hội và phát triển hạ tầng mang lại, khi mảnh đất đó được đưa vào giao  
dịch, chuyển nhượng.  
(2) Thu thuế sử dụng đất tăng theo sự gia tăng giá trị mảnh đất người sử dụng đang  
chiếm giữ để điều tiết giá trị địa tô chênh lệch I mang lại do nhà nước đầu tư phát triển cơ sở  
hạ tầng làm giá trị của các mảnh đất liền kề tăng lên. Phần thuế tăng lên hàng năm người sử  
dụng đất chưa nộp được sẽ phải ghi nợ đến khi thực hiện mua bán giao dịch về đất sẽ phải thanh  
toán bằng tiền thu được từ chuyển nhượng đất. Khi số dư nợ tiền thuế vượt quá 50% giá trị thửa  
đất thì Nhà nước có quyền thu hồi đất theo quy định tại Điều 64 thu hồi đất do vi phạm pháp  
luật về đất đai. Việc quy định này không chỉ nhằm mục tiêu điều tiết dần từng năm qua thuế  
phần giá trị gia tăng của đất mà còn buộc những người chiếm giữ đất ở những vị trí có khả năng  
sinh lời cao phải đưa đất vào phục vụ kinh doanh hoặc phải chuyển nhượng cho những người  
có khả năng sử dụng đất vào các hoạt động kinh doanh có hiệu quả nhất. Quy định này cùng  
với những quy định về diện tích đất tối thiểu được cấp giấy chứng nhận và cho phép xây dựng  
sẽ khắc phục được tình trạng những nhà siêu mỏng, siêu hẹp đang án ngữ mặt tiền của những  
dãy phố mới được đầu tư cải tạo, chỉnh trang hạ tầng.  
Để đưa những quy định tại điểm (1) và (2) về thuế như trên vào Luật thì cần bổ  
sung thêm một Mục về Thuế đất trong chương Tài chính đất đai. Quản lý nhà nước về  
đất đai theo cơ chế thị trường tất yếu phải sử dụng các công cụ thị trường là Giá và Thuế.  
Luật Đất đai hiện hành mới chỉ quy định về giá đất mà chưa có quy định mang tính nguyên  
tắc về thuế đất là mới chỉ sử dụng một cách nửa vời các công cụ thị trường trong quản lý  
Nhà nước về kinh tế đất. Những quy định mang tính nguyên tắc về chính sách thuế trong  
Luật Đất đai không mẫu thuần, chồng chéo hay thay thế các quy định về Luật Thuế sử  
dụng đất mà những quy định mang tính nguyên tắc về thuế đất trong Luật Đất đai chính  
là nền tảng tiền đề pháp lý cho việc ban hành các chính sách cụ thể về thuế trong Luật  
Thuế sử dụng đất.  
(3)Sửa đổi Điều 39 về kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh và Điều 40 về quy hoạch, kế  
hoạch sử dụng đất cấp huyện theo hướng: quy hoạch, xác định vị trí, diện tích đất vùng  
phụ cận cần thu hồi để phục vụ tái định cư, phát triển các hoạt động sử dụng đất phù hợp  
để khai thác có hiệu quả và điều tiết những lợi ích mang lại từ các dự án đầu tư phát triển  
hạ tầng, xây dựng, chỉnh trang đô thị, các dự án phát triển kinh tế xã hội.  
9
Quy định này sẽ tạo điều kiện để những người dân phải di dời sẽ được tái định cư  
ngay khu vực liền kề để được hưởng lợi từ những thành quả của dự án mang lại, ít bị ảnh  
hưởng xáo trộn cuộc sống do thay đổi địa bàn cư trú, đảm bảo công bằng giữa những hộ  
dân nằm trong danh giới dự án và những hộ dân nằm trong vùng phụ cận liền kề của dự  
án. Những diện tích đất đai liền kề được thu hồi đưa vào đấu giá sẽ lựa chọn được những  
nhà đầu tư có khả năng sử dụng, khai thác tốt nhất những lợi thế mang lại từ các công  
trình, dự án đầu tư mang lại. Cơ chế này sẽ giúp điều tiết, tập trung vào ngân sách được  
phần giá trị gia tăng từ địa tô chênh lệch do nhà nước đầu tư phát triển hạ tầng đồng thời  
sẽ lựa chọn được các hoạt động sử dụng có hiệu quả những lợi thế của đất đai và thực  
hiện được mục tiêu chỉnh trang, thay đổi diện mạo đô thị cũng như tạo sự phát triển tổng  
thể đồng bộ cả vùng có dự án đầu tư.  
(4) Bổ sung quy định về xác định giá thu tiền sử dụng đất đối với các dự án đầu tư  
có sử dụng đất phát triển các dự án đầu tư phát triển đô thị và xây dựng nhà ở, các công  
trình thương mại dịch vụ có mục đích kinh doanh. Luật Đất đai hiện hành chỉ quy định  
về đấu giá quyền sử dụng đất đối với đất đã giải phóng mặt bằng, chỉ còn tài sản thuộc sở  
hữu nhà nước. Do vậy khi dự án chưa triển khai, chưa giải phóng mặt bằng, còn tài sản  
của người dân thì không thể đấu giá đất để xác định giá đất giao cho nhà đầu tư. Luật Nhà  
ở quy định việc chọn chủ đầu tư xây dựng nhà ở thương mại có thể thông qua đấu thầu  
dự án có sử dụng đất. Việc lấy giá đầu thầu dự án sử dụng đất để tính giá giao đất cho  
chủ đầu tư đang gặp phải 2 mẫu thuẫn: (1) Không đúng với quy định của Luật Đất đai là  
giá đất giao cho chủ đầu tư phải thông qua đấu giá đất; (2) Giá đất khi đấu thầu dự án là  
giá đất chưa chuyển đổi mục đích sử dụng đất, chưa đầu tư phát triển hạ tầng nên thường  
thấp hơn nhiều so với sau khi dự án được phê duyệt, được chuyển đổi mục đích sử dụng  
đất và được đầu tư phát triển hạ tầng cũng như sau khi đã phát triển các công trình, dự án  
liền kề.  
Để khắc phục những bất cập trên đây, cần sửa Mục 3 chương VIII là: Xác định giá  
đất thông qua đấu giá quyền sử dụng đất và đấu thầu dự án sử dụng đất. Bổ sung thêm  
một điều về xác định giá đất thông qua đấu thầu dự án sử dụng đất như sau:  
- Giá đất mà nhà đầu tư đề xuất khi đấu thầu dự án là mức giá cam kết thấp nhất  
nhà đầu tư sẽ nộp cho Nhà nước khi dự án hoàn thành nếu được lựa chọn là nhà đầu tư  
triển khai dự án. Mức giá này được xác định dựa trên đơn giá dự tính của các loại đất  
thương phẩm và diện tích đất thương phẩm sau khi dự án hoàn thành trừ đi toàn bộ chi  
phí phát triển dự án, bao gồm cả lợi nhuận dự tính của chủ đầu tư. Các thông số về các  
chỉ tiêu kỹ thuật của dự án, tổng mức đầu tư của dự án được lựa chọn sau đấu thầu là các  
thông số cố định làm căn cứ để Nhà nước giám sát quá trình đầu tư của dự án. Riêng  
thông số về giá đất thương phẩm sẽ biến động theo thị trường sau khi dự án hoàn thành.  
- Sau khi dự án triển hoàn thành bắt đầu đưa vào kinh doanh, Nhà nước phải định  
10  
giá lại mức giá của toàn bộ các loại đất thương phẩm của dự án theo giá trị thị trường tại  
thời điểm dự án bắt đầu đi vào kinh doanh. Phần chênh lệch giữa giá dự tính trước khi  
triển khai dự án với giá thực tế tại thời điểm dự án đưa vào kinh doanh là giá trị gia tăng  
của đất sau phát triển dự án. Giá trị gia tăng của đất sau khi dự án hoàn thành do hai nhân  
tố khách quan và chủ quan mang lại. Thứ nhất, về khách quan, giá tăng do thay đổi mục  
đích sử dụng đất giữa trước và sau khi triển khai dự án, do sự phát triển của hệ thống cơ  
sở hạ tầng và các dự án khác có liên quan nằm trong vùng dự án mang lại. Về nguyên tắc,  
toàn bộ phần giá trị gia tăng này là địa tô chênh lệch nên cần điều tiết tập trung vào nhà  
nước để đầu tư phát triển các công trình hạ tầng chung của xã hội. Nhân tố thứ hai mang  
tính chủ quan của nhà đầu tư đã tạo lập được sản phẩm dự án có giá trị cao hơn sản phẩm  
dự kiến và sản phẩm của các dự án liền kề. Phần giá trị gia tăng này có thể đo lường bằng  
mức chênh lệch về tốc độ gia tăng giá giữa các sản phẩm của dự án với các sản phẩm có  
cùng điều kiện bên ngoài dự án hoặc các dự án liền kề. Phần giá trị gia tăng này chính là  
thành quả của nhà đầu tư mang lại nên được để lại cho chủ dự án.  
(5) Bổ sung quy định về cơ chế xác định giá đất thanh toán cho nhà đầu tư trong  
các dự án BT theo hai phương thức: Đấu giá quyền sử dụng đất để lấy tiền thanh toán cho  
nhà đầu tư nếu diện tích đất đối ứng đủ điều kiện để đấu giá hoặc cơ chế đấu thầu dự án  
sử dụng đất như quy định tại mục (4) trên đây.  
4- Sửa đổi, bổ sung quy định về thu hồi và bồi thường khi thu hồi đất  
Thực hiện thống nhất một chính sách bồi thường khi nhà nước thu hồi đất sử dụng  
vào mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công  
cộng và các chính sách bồi thường khi thu hồi đất sử dụng đất để thực hiện dự án sản  
xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Thực hiện nhất quán quan điểm bồi thường, tái định  
cư phải đảm bảo tái lập cuộc sống cho người dân có đất bị thu hồi có điều kiện sống bằng  
hoặc tốt hơn nơi ở cũ.  
Theo quy định của Luật Đất đai hiện hành quy định có hai phương thức thu hồi  
đất: Nhà nước thu hồi đất và bồi thường cho người bị thu hồi đất theo giá đất cụ thể do  
UBND cấp tỉnh quy định bao gồm thu hồi đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh;  
phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; Thu hồi đất để thực hiện dự án,  
công trình sản xuất, kinh doanh không thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất vào mục  
đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.  
Ngay đối với các dự án phát triển kinh tế cũng đang tồn tại 2 cơ chế thu hồi đất: (i)  
Thu hồi đất theo cơ chế hành chính: đối với việc thực hiện các dự án quan trọng do Thủ  
tướng Chính phủ chấp thuận, quyết định đầu tư; các dự án do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh  
chấp thuận mà phải thu hồi đất thì Nhà nước thực hiện việc thu hồi đất và Nhà nước phê  
duyệt phương án bồi thường tái định cư và giá đất sử dụng làm căn cứ bồi thường cho  
11  
người bị thu hồi đất. (ii) Thu hồi theo phương thức thoả thuận: đối với các dự án sản xuất,  
kinh doanh có quy mô nhỏ, chủ đầu tư tự thỏa thuận theo hình thức giao dịch về chuyển  
quyền sử dụng đất, sau đó nhà nước thực hiện các thủ tục công nhận quyền sử dụng đất  
của chủ đầu tư và chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho dự án đầu tư được chấp thuận.  
Giá đất bồi thường chính là giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo thỏa thuận với  
người sử dụng đất. Thực trạng này làm nảy sinh một số bất cập sau đây:  
Thứ nhất, tạo ra sự bất bình đẳng trong việc bồi thường cho người sử dụng cùng  
một loại đất nhưng phải thu hồi cho các dự án khác nhau. Người có đất phải thu hồi cho  
các dự án sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi  
ích quốc gia, công cộng thì nhận được chế độ bồi thường theo mức giá ấn định của Nhà  
nước theo mức giá thấp. Giá bồi thường đối với các dự án này thường thấp hơn giá đất  
chuyển nhượng quyền sử dụng đất phổ biến trên thị trường. Người sử dụng đất cũng  
không nhận được những khoản hỗ trợ khác của chủ dự án ngoài chính sách hỗ trợ quy  
định chung của Nhà nước. Trong khi đó người có đất thu hồi cho doanh nghiệp được chủ  
đầu tư thoả thuận bồi thường theo giá thị trường. Những chủ đầu tư các dự án có sức sinh  
lợi cao còn có nhiều chính sách hỗ trợ, ưu đãi cho người sử dụng đất để sớm bàn giao đất  
cho dự án. Điều này làm nảy sinh sự bất bình đẳng giữa những người có đất phải thu hồi  
giữa các dự án khác nhau, giữa các chủ đầu tư khác nhau dẫn đến việc khiếu kiện, tranh  
chấp kéo dài. Đây cũng là nguyên nhân khiến người sử dụng đất không đồng thuận với  
phương án bồi thường đối với các dự án của Nhà nước thu hồi cho các mục đích công  
cộng, làm cho các dự án chậm bàn giao mặt bằng.  
Thứ hai, một số trường hợp người sử dụng đất đưa ra yêu cầu về giá bồi thường quá  
cao so với khả năng sinh lợi thực tế của đất và giá đất phổ biến trên thị trường, nhà đầu  
tư không thể thoả thuận được để triển khai dự án. Trong trường hợp nhà đầu tư không  
chấp nhận đền bù với mức giá cao phi lý thì có thể chỉ vì một vài trường hợp cá biệt không  
đồng thuận, dự án đầu tư bị buộc phải hủy bỏ hoặc phải chấp nhận sự tồn tại bất hợp lý  
của các công trình cá nhân trong khu vục của dự án. Đây là những bất cập tưởng như đảm  
bảo quyền lợi chính đáng cho người sử dụng đất nhưng lại cản trở các nhà đầu tư và làm  
mất cơ hội của nhiều người sử dụng đất khác.  
Thứ ba, giá trị bồi thường thấp cùng với các khoản hỗ trợ chưa bảo đảm sinh kế lâu  
dài cho người có đất thu hồi. Phần lớn các dự án thu hồi đất nông nghiệp chưa quan tâm  
đúng mức đến việc giải quyết tạo việc làm hoặc chuyển đổi nghề cho người có đất thu  
hồi trong độ tuổi lao động. Người dân mất đất dẫn đến mất tư liệu sản xuất, mất việc làm,  
phần lớn lại không có cơ hội và không có đủ điều kiện để tìm được một việc làm mới.  
Các nhà đầu tư thu được địa tô chênh lệch lớn từ việc thực hiện các dự án phát triển kinh  
tế trên đất nông nghiệp trong khi đời sống, việc làm và thu nhập của người dân có đất bị  
thu hồi bấp bênh.  
12  
Do vậy, cần sửa đổi, bổ sung chính sách thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt  
bằng trên một số điểm như sau:  
(1) Giá đất bồi thường cho mọi trường hợp thu hồi đất (không phân biệt dự án cho  
sản xuất kinh doanh, phát triển nhà ở khu đô thị hay đầu tư phát triển hạ tầng) đều thực  
hiện theo giá đất đã đăng ký khi nộp thuế đất trong hồ sơ thông tin đất hoặc mức giá đất  
theo bảng giá đất tương đương với giá thị trường. Trong trường hợp tại thời điểm thu hồi  
giá đất trên thị trường gia tăng đột biến cao hơn mức giá đăng ký khi nộp thuế đất hàng  
năm thì thực hiện đền bù cho người sử dụng đất theo mức giá thực tế, nhưng phần chênh  
lệch giữa giá bồi thường với giá đăng ký nộp thuế hàng năm sẽ phải chịu điều tiết qua  
thuế điều tiết phần giá trị tăng lên của đất.  
(2) Tất cả các dự án phải thu hồi đất đều do cơ quan nhà nước ra quyết định thu  
hồi, quyết định phương án bồi thường tái định cư và đứng ra thu hồi và thực hiện đền bù,  
giải phóng mặt bằng theo một cơ chế thống nhất.  
Đối với các dự án thu hồi đất vì mục đích an ninh, quốc phòng, phát triển hạ tầng  
và các dự án quan trọng quốc gia được Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư, các dự án  
được Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng nhân dân cấp Tỉnh phê duyệt thì việc thu hồi đất là  
bắt buộc. Khi ra quyết định thu hồi không phải thông qua thoả thuận với người dân, nhưng  
phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng và tái định cư phải được công khai lấy ý kiến  
và phải được đa số người dân có đất (từ 75% diện tích đất) phải thu hồi đồng thuận.  
Đối với dự án thu hồi đất cho các doanh nghiệp với mục đích phát triển phát triển  
kinh tế, xây dựng nhà ở thương mại, việc quyết định thu hồi đất và phương án bồi thường,  
hỗ trợ, tái định cư phải được đa số người dân có đất (chiếm 85% diện tích đất) phải thu  
hồi đồng thuận.  
Những người dân không đồng thuận vẫn phải chấp hành các quyết định về thu hồi  
đất (đối với dự án thu hồi đất cho doanh nghiệp nhằm mục đích kinh doanh) và những  
người không đồng thuận với phương án bồi thường tái định cư, di dời giải phóng mặt  
bằng thì vẫn phải chấp hành di dời theo quyết định của nhà nước và có quyền khởi kiện  
các quyết định trên ra toà.  
(3) Bên cạnh việc xác định giá bồi thường về đất ngang bằng với giá thị trường để  
đảm bảo quyền lợi chính đáng của người sử dụng đất thì việc đảm bảo tái định cư và tạo  
lập cuộc sống mới cho người có đất bị thu hồi phải được luật hoá. Phải có chỗ tái định cư  
dành cho người bị thu hồi đất phải di dời chỗ ở mới. Nếu giá trị tiền đền bù không đủ trả  
tiền tiền cho một xuất tái định cư thì Nhà nước phải hỗ trợ để người dân phải di dời có đủ  
điều kiện để nhận được chỗ ở tái định cư theo qui định. Do vậy, cần sửa đổi Điều 86 về  
việc hỗ trợ tiền để mua một suất tái định cư tối thiểu bằng tiền bồi thường, không tính các  
khoản tiền hỗ trợ khác như chuyển đổi nghệ nghiệp, hỗ trợ di dời tạm cư để mua nhà tái  
định cư tối thiểu.  
13  
(4) Trường hợp đất bị thu hồi là mặt bằng sảng xuất kinh doanh (kể cả là đất thuê  
để làm mặt bằng kinh doanh) khi thu hồi phải tạo mặt bằng mới cho người dân có mặt  
bằng để tiếp tục duy trì các hoạt động sản xuất kinh doanh, đảm bảo cuộc sống (theo  
phương thức thuê hoặc giao tùy điều kiện phù hợp của địa phương). Do vậy, cần bổ sung  
vào Điều 74 theo hướng quy định nguyên tắc thực hiện bồi thường về đất bằng việc giao  
đất khác mục đích đất thu hồi nhưng ngang bằng về giá trị bồi thường đất đối với các địa  
phương có điều kiện về quỹ đất và khi người thu hồi đất có nhu cầu nhằm tạo điều kiện  
thuận lợi cho người sử dụng đất được quyền tiếp cận loại đất khác nhằm khôi phục sinh  
kế trong trường hợp địa phương còn quỹ đất để thực hiện. Sửa đổi Điều 82 qui định Tổ  
chức kinh tế được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm không được bồi  
thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất nhưng được xem xét bố trí giao đất, thuê đất để  
làm mặt bằng sản xuất kinh doanh không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất.  
(5) Trường hợp thu hồi đất nông nghiệp không còn đủ diện tích để sinh sống bằng  
sản xuất nông nghiệp, chính sách đền bù phải đảm bảo cho người có đất sản xuất nông  
nghiệp tiếp tục có nguồn sinh kế mới thay thế cho đất nông nghiệp đã bị thu hồi thông  
qua việc tạo lập các mặt bằng, phương tiện phát triển kinh doanh mới, đóng góp cổ phần  
vào dự án sử dụng đất để có nguồn thu thường xuyên thay thế cho nguồn thu từ sản xuất  
nông nghiệp hoặc xác định mức giá đền bù có thể tạo ra nguồn thu nhập thường xuyên  
tương đương với nguồn thu nhập tạo ra từ đất sản xuất nông nghiệp. Do vậy, chính sách  
đền bù cho người nông dân khi thu hồi đất nông nghiệp không chỉ là giá chuyển nhượng  
đất nông nghiệp trên thị trường mà phải tính mức sinh lợi và tạo sinh kế cho người sử  
dụng đất. Chính sách đền bù khi thu hồi đất nông nghiệp phải thực hiện thống nhất giữa  
những người có đất bị thu hồi, không phân biệt mục đích sử dụng đất sau khi thu hồi là  
đưa vào xây dựng nhà ở, phát triển các cơ sở kinh doanh hay xây dựng hạ tầng vì mục  
đích công cộng.  
5- Một số khuyến nghị khác  
(1) Chuyển toàn bộ các trường hợp sử dụng đất vào mục đích sản xuất kinh doanh  
sang thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm vừa có ý nghĩa nuôi dưỡng nguồn thu ngân sách  
nhà nước vừa có tác dụng giảm áp lực về tiền vốn cho nhà đầu tư phải trả tiền thuê đất  
một lần khi bắt đầu bước vào đầu tư kinh doanh. Đồng thời khắc phục được tình trạng  
nhà đầu tư lợi dụng cơ chế trả tiền một lần với giá đất thấp để kiếm lợi thông qua việc  
cho thuê lại hoặc dùng đất thế chấp ngân hàng để huy động vốn nhiều hơn giá trị tiền thuê  
đất đã nộp khi giá đất thấp.  
(2) Xây dựng hệ thống thông tin đất đai, đưa thông tin giá đất và thuế đất vào hệ  
thống CSDL đất đai, thực hiện cập nhật hàng năm cho từng thửa đất. Đẩy mạnh sử dụng  
tin học hoá trong cập nhật và lưu trữ và số hoá các dư liệu và thông tin đất đai. Tất cả các  
thửa đất (kể cả thửa đất đã đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các  
14  
thửa đất chưa đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận) đều phải thực hiện đăng ký thông tin về  
giá và thuế đất để phục vụ công tác quản lý Nhà nước về kinh tế đất. Qui định rõ trách  
nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc cập nhật và lưu trữ thông tin đất đai;  
quyền lợi của người dân chỉ được xem xét bảo hộ khi đã đăng ký thông tin đất và thực  
hiện các nghĩa vụ tài chính về đất đai.  
(3) Qui định lại điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho những  
người sử dụng đất không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc đất đai để khắc phục tình  
trạng bất hợp lý đang tồn tại hiện nay giữa những người sử dụng đất lấn chiếm thì được  
cấp giấy chứng nhận, không phải nộp tiền sử dụng đất trong khi người được cơ quan phân  
chia nhà đất lại phải qua nhiều thủ tục phức tạp để được cấp giấy CNQSD đất và phải nộp  
tiền sử dụng đất nhiều hơn người lấn chiếm đất lưu không.  
(4) Bổ sung qui định về điều chỉnh lại quyền sử dụng đất để sắp xếp lại đất đai  
trong một khu vực nhất định để thực hiện dự án đầu tư trên cơ sở sự đồng thuận của người  
sử dụng đất về việc điều chỉnh lại toàn bộ hoặc một phần diện tích đất thuộc quyền sử  
dụng của mình trong khu vực đó. Việc điều chỉnh lại quyền sử dụng đất được áp dụng  
trong dồn điền, đổi thửa đối với đất sản xuất nông nghiệp; chỉnh trang, phát triển đô thị,  
khu dân cư nông thôn, đầu tư phát triển hạ tầng chung cho khu vực cộng đồng dân cư  
hoặc khu vực sản xuất; tạo diện tích đất dôi dư sau khi đã điều chỉnh quyền sử dụng đất  
dùng để đấu giá quyền sử dụng đất tạo vốn cải tạo, xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng  
chung cho khu vực dự án điều chỉnh quyền sử dụng đất. Qui định xử lý phần diện tích đất  
được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất hoặc tiền sử dụng đất có nguồn từ  
ngân sách nhà nước, đất cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm trong phạm vi danh giới  
dự án điều chỉnh quyền sử dụng đất.  
(5) Sửa đổi, bổ sung qui định về nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất,  
nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất sản xuất nông nghiệp đối với các doanh nghiệp  
muốn đầu tư sản xuất, kinh doanh trong nông nghiệp nhằm tạo điều kiện cho các doanh  
nghiệp yên tâm đầu tư ổn định, lâu dài vào sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông  
nghiệp, đồng thời người dân yên tâm trao ruộng đất cho các doanh nghiệp sử dụng dưới  
các hình thức chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn bằng quyền sử dụng đất.  
(6) Bổ sung các qui định về tích tụ đất đai làm tăng diện tích đất của người sử dụng  
đất thông qua hình thức nhận chuyển quyền sử dụng đất để mở rộng sản xuất; qui định về  
tập trung đất đai làm tăng quy mô về diện tích đất đai nhưng không làm thay đổi quyền  
sử dụng đất của người sử dụng đất để phân biệt với các hành vi tập trung đất đai để đầu  
cơ đất đai.  
(7) Sửa đổi, bổ sung quy định về hạn mức nhận chuyển quyền đất nông nghiệp của  
hộ gia đình, cá nhân đối với các loại đất trồng cây hàng năm, cây lâu năm trên các vùng  
15  
đồng bằng, trung du, miền núi và đồng bằng sông cửu long; nhận chuyển quyền sử dụng  
đất nông nghiệp trên địa bàn nhiều tỉnh, thành phố; nhận chuyển quyền sử dụng đất nông  
nghiệp bao gồm nhiều loại đất (đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất rừng  
sản xuất là rừng trồng, đất nuôi trồng thuỷ sản và đất làm muối).  
(8) Sửa đổi bổ sung quy định về thời hạn giao đất sản xuất nông nghiệp sẽ được tự  
động kéo dài thêm chu kỳ bằng thời hạn giao mới nhằm khuyến khích tập trung đất đai  
và yên tâm đầu tư các máy móc thiết bị, hạ tầng kỹ thuật, các cơ cở chế biến, bảo quản  
phục vụ sản xuất nông nghiệp một cách ổn định lâu dài.  
(9) Sửa đổi, bổ sung quy định để phân biệt đất tôn giáo và đất kinh doanh du lịch  
tâm linh để tránh tình trạng lợi dụng chính sách đất dành cho tôn giáo được Nhà nước  
giao đất không thu tiền sử dụng đất để đầu tư kinh doanh.  
(10) Bổ sung làm rõ quy định về đất xây dựng cơ sở lưu trú du lịch là đất thương  
mại, dịch vụ, gồm đất để xây dựng khách sạn, biệt thự du lịch, căn hộ du lịch, nhà nghỉ  
du lịch và đất để xây dựng cơ sở lưu trú du lịch khác để tránh tình trạng lợi dụng chuyển  
đất du lịch dịch vụ thành đất ở để kinh doanh làm phá vỡ quy hoạch đất dành cho phát  
triển du lịch dịch vụ.  
Những khuyến nghị, đề xuất trên đây chỉ tập trung vào sửa đổi những vấn đề kinh  
tế trong Luật Đất đai 2013 nhằm tăng cường vai trò quản lý nhà nước về kinh tế đất theo  
cơ chế thị trường. Những chính sách và cơ chế kinh tế trên chỉ được vận hành có hiệu quả  
khi được đưa vào một cách đầy đủ, đồng bộ trong khi xem xét sửa Luật Đất đai.  
16  
pdf 14 trang Thùy Anh 8960 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số kiến nghị sửa đổi những vấn đề kinh tế trong luật đất đai năm 2013", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_kien_nghi_sua_doi_nhung_van_de_kinh_te_trong_luat_dat.pdf