Chính sách và thực tiễn triển khai pháp luật hôn nhân và gia đình đối với đồng bào dân tộc thiểu số vùng biên giới Việt Nam - Lào

Chính sách và thực tiễn triển khai pháp luật  
hôn nhân và gia đình đối với đồng bào dân tộc thiểu số  
vùng biên giới Việt Nam - Lào  
Hoàng Phương Mai(*)  
Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích một số vấn đề về chính sách và thực tiễn đặt ra trong  
triển khai pháp luật hôn nhân và gia đình đối với đồng bào dân tộc thiểu số vùng biên giới  
Việt Nam - Lào, trong đó nêu bật một số khía cạnh như thực trạng hôn nhân xuyên biên  
giới, kết hôn không giá thú và những khó khăn trong quá trình triển khai thủ tục đăng ký  
kết hôn có yếu tố nước ngoài của đồng bào dân tộc thiểu số nơi đây. Qua đó, bài viết đưa  
ra một số khuyến nghị góp phần xây dựng chính sách hôn nhân gia đình ở vùng biên giới  
ngày càng hoàn thiện hơn.  
Từ khóa: Chính sách hôn nhân gia đình, Dân tộc thiểu số vùng biên giới, Biên giới Việt  
Nam - Lào  
Abstract: The article analyzes several issues relating policy and practice raised in the  
process of implementing the Law on marriage and family for ethnic minorities in the  
Vietnam - Laos border area, in which highlighting such aspects as the current situation of  
cross-bordermarriage, unregisteredcohabitation, anddifficultiesinmarriageregistration  
procedures involving foreign elements. Thereby, it proposes several recommendations to  
improve the marriage and family policy in border areas.  
Keywords: Marriage and Family Policy, Ethnic Minorities in Border Areas, Vietnam -  
Laos Border  
1. Mở đầu 1(*)  
Houaphanh, Xieng Khouang, Bolikhamsai,  
Đường biên giới giữa Việt Nam và Khammoun, Savannakhet, Salavan, Xekong  
Lào dài khoảng 2.340 km, trải dài qua 10 và Attapu (Ủy ban Biên giới Quốc gia,  
tỉnh của Việt Nam, gồm: Điện Biên, Sơn 2012: 6). Đây là địa bàn đa dạng về thành  
La, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng phần tộc người. Các vấn đề về lịch sử tộc  
Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng người, lao động, di cư, giao thương, hôn  
Nam và Kon Tum; tiếp giáp với 10 tỉnh nhân xuyên biên giới… là những yếu tố cấu  
của Lào, gồm: Phongsaly, Luang Prabang, thành nên các mối quan hệ tộc người liên/  
xuyên biên giới giữa hai nước Việt Nam -  
Lào, nhân, gia đình các tộc người thiểu số  
nơi đây.  
(*) TS., Viện Dân tộc học, Viện Hàn lâm khoa học xã  
hội Việt Nam; Email: [email protected]  
Thông tin Khoa học xã hội, số 9.2020  
54  
Các dân tộc cư trú hai bên đường biên Đảng và Nhà nước trong bảo đảm và xây  
giới Việt - Lào có mối quan hệ đồng tộc dựng chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ,  
và hòa thuận từ lâu đời, do đó gia đình nơi phù hợp với đặc thù của khu vực đồng bào  
đây mang những yếu tố đặc trưng về loại DTTS cư trú ở vùng sâu, vùng xa, vùng  
hình (như: gia đình hỗn hợp dân tộc, gia biên giới, khuyến khích phát huy những  
đình đa quốc tịch…) và những đặc điểm về phong tục tập quán tốt đẹp về hôn nhân và  
hoàn cảnh (như: gia đình khuyết thiếu do gia đình của các dân tộc ít người (Điều 6).  
người cha hoặc mẹ lao động di cư tự do qua  
Trong bối cảnh một số DTTS vùng biên  
biên giới, quan hệ họ hàng đồng tộc ở cả giới vẫn có thói quen thực hành các hủ tục  
hai bên biên giới, hôn nhân xuyên biên giới lạc hậu, kết hôn không đăng ký với chính  
trong đó phần lớn là các cuộc hôn nhân bất quyền, chưa nhận thức đúng mức về ranh  
hợp pháp, nhiều thành viên trong gia đình giới, chủ quyền lãnh thổ quốc gia. Nghị  
không có đăng ký hộ khẩu, hộ tịch…).  
định số 32/2002/NĐ-CP ngày 27/3/2002  
Với đặc trưng và đặc điểm nêu trên, bài được Chính phủ ban hành đã quy định việc  
viết tập trung vào một số nội dung nổi bật áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình đối với  
về chính sách và thực tiễn đặt ra trong quá các DTTS, hướng dẫn đồng bào các vấn đề  
trình triển khai pháp luật hôn nhân và gia như: áp dụng phong tục, tập quán hôn nhân  
đình đối với đồng bào DTTS vùng biên giới và gia đình, trách nhiệm của Nhà nước đối  
1
Việt Nam - Lào .  
với quan hệ hôn nhân và gia đình của người  
2. Chính sách, pháp luật hôn nhân và gia dân thuộc các DTTS, quan hệ vợ chồng và  
đình đối với đồng bào dân tộc thiểu số các thành viên khác trong gia đình, thủ tục  
Đảng và Nhà nước Việt Nam trong quá đăng ký kết hôn...  
trình hoàn thiện hệ thống pháp luật đã sớm  
Để khuyến khích xác lập các quan hệ  
quan tâm đến các chính sách về hôn nhân hôn nhân và gia đình theo pháp luật, Chính  
và gia đình. Từ năm 1959, Luật Hôn nhân phủ ban hành Nghị định số 68/2002/NĐ-  
và gia đình đã được xây dựng khá bài bản, CP ngày 10/7/2002 quy định thủ tục riêng  
sau đó được bổ sung chi tiết hơn vào năm để áp dụng việc đăng ký kết hôn, nhận  
1986, thời điểm này đã có những quy định cha, mẹ, con, nuôi con nuôi có yếu tố nước  
mang tính nguyên tắc về áp dụng luật hôn ngoài ở khu vực biên giới (sau đó, một số  
nhân và gia đình phù hợp với nhóm chủ thể điều của Nghị định này được bổ sung, sửa  
là đồng bào DTTS ở miền núi, biên giới, đổi tại Nghị định số 69/2006/NĐ-CP ngày  
vùng sâu, vùng xa (Điều 35, Luật Hôn nhân 21/7/2006 của Chính phủ). Những điều kiện  
và gia đình năm 1959 và Điều 55, Luật cụ thể hóa trong Nghị định giúp cho pháp  
Hôn nhân và gia đình năm 1986). Đến năm luật bám sát với thực tế đời sống và văn hóa  
2000, Luật Hôn nhân và gia đình được sửa của đồng bào vùng biên giới Việt Nam.  
đổi, khẳng định sâu sắc hơn chính sách của  
Nhận thức được tiến trình phát triển  
không ngừng của xã hội, tại kỳ họp thứ 7,  
Quốc hội khóa XIII, ngày 19/6/2014, Luật  
Hôn nhân và gia đình năm 2014 sửa đổi  
chính thức được thông qua và có hiệu lực từ  
ngày 01/01/2015. Trong đó, nội dung đáng  
chú ý tại Điều 7 của Luật đã thể hiện việc  
1
Một phần nội dung bài viết là kết quả của Đề tài  
khoa học “Tổng quan nghiên cứu về chính sách dân  
tộc ở vùng biên giới Việt Nam” do TS. Phạm Quang  
Linh, ThS. Trần Hồng Thu đồng chủ nhiệm, Viện  
Dân tộc học chủ trì, thực hiện năm 2020.  
Chính sách và thực tiễn…  
55  
tôn trọng bản sắc của mỗi tộc người thiểu yếu. Quan hệ dân tộc gần gũi tạo điều kiện  
số, phát huy phong tục, tập quán truyền thuận lợi cho thanh niên đến tuổi kết hôn dễ  
thống tốt đẹp, vận động nhân dân xóa bỏ dàng lựa chọn vợ/chồng là người đồng tộc  
tập quán lạc hậu, xây dựng quan hệ hôn ở bên kia biên giới (Đặng Thị Hoa, 2016).  
nhân và gia đình tiến bộ. Tiếp đó, Chính Ngoài ra, nhiều cửa khẩu thông thương với  
phủ đã ban hành Nghị định số 126/2014/ các nước láng giềng ngày càng được mở ra  
NĐ-CP ngày 31/12/2014 quy định chi tiết cũng khiến cho số lượng hôn nhân xuyên  
một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn biên giới ngày càng gia tăng.  
nhân và gia đình, đặc biệt tại Chương III,  
Theo số liệu thu thập từ chính quyền  
các điều từ 19 đến 26 đã làm rõ các thủ tục một số địa phương có đường biên giới giáp  
đăng ký kết hôn, hồ sơ, trình tự, thời hạn, Lào, tình trạng kết hôn xuyên biên giới  
thủ tục kết hôn có yếu tố nước ngoài. Có không đăng ký với chính quyền khá phổ  
thể nhận thấy đây là nỗ lực của Nhà nước biến, cụ thể như: có 7 cặp tại Bản Bua Hin,  
trong việc hoàn thiện Luật Hôn nhân và gia xã Mường Hung (huyện Sông Mã, tỉnh Sơn  
đình, trong đó đối tượng là đồng bào DTTS La); 13 cặp ở bản Kéo Hượn, xã Phù Nhi  
có quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, có (huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa); 8 cặp  
yếu tố nước ngoài được quan tâm đáng kể. bản ở bản Trường Sơn, xã Nậm Cắn (huyện  
3. Một số vấn đề thực tiễn đặt ra trong Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An); riêng xã Đoọc Mạy  
triển khai chính sách, pháp luật hôn nhân (huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An) có ít nhất  
và gia đình đối với đồng bào dân tộc thiểu 50 trường hợp lấy vợ là người Mông ở Lào  
số vùng biên giới Việt Nam - Lào  
và trên 100 người từ xã này đi lấy chồng là  
Sự phân bố dân cư các xã biên giới người Mông ở Lào (Lý Hành Sơn, 2015).  
Việt - Lào mang tính đặc thù của vùng núi Bên cạnh nguyên nhân về đặc điểm văn hóa  
cao, vùng sâu, vùng xa, địa hình phức tạp thì trình độ nhận thức (về quốc gia, quốc  
và hiểm trở. Nhìn chung, cư dân dọc tuyến giới, chủ quyền lãnh thổ,…) của một bộ  
thưa thớt, chủ yếu tập trung ở thị trấn, phận đồng bào còn hạn chế, ảnh hưởng đến  
thị xã và ven quốc lộ. Nơi đây vốn là địa việc thực thi chính sách pháp luật của đồng  
bàn cư trú của nhiều dân tộc có nền văn bào DTTS. Mặc dù Chính phủ Việt Nam và  
hóa lâu đời (như: dân tộc Thái, Khơ mú, chính quyền các địa phương có đường biên  
Mông… thuộc các tỉnh Điện Biên, Sơn La, giới đã nỗ lực trong việc đưa ra các khuôn  
Thanh Hóa, Nghệ An; dân tộc Chứt, Bru khổ pháp lý và chính sách nhằm quản lý,  
Vân Kiều, Giẻ Triêng, Cơ tu... ở các tỉnh hỗ trợ đời sống người dân vùng biên giới,  
Hà Tĩnh, Quảng Nam, Quảng Ngãi...), mối song thực tế sự phức tạp của vấn đề này  
quan hệ bền chặt trong sinh hoạt hằng ngày vẫn đặt ra nhiều thách thức trong quản lý  
giữa công dân hai nước láng giềng đã tạo xã hội vùng biên hiện nay. Nước bạn Lào  
nên những nét tương đồng trong phong tục, cũng cho rằng, đây là vấn đề cần phải giải  
tập quán giữa các tộc người. Bên cạnh đó, quyết cấp bách, tuy nhiên còn gặp rất nhiều  
không gian văn hóa rộng lớn vùng biên giới trở ngại trong quá trình thực hiện (Lý Hành  
là cơ sở cho quá trình giao thoa mạnh mẽ Sơn, 2015).  
mang tính “xuyên biên giới” một cách tự  
Tại vùng biên giới Việt - Lào, kết hôn  
nhiên, do đó các quan hệ hôn nhân giữa không giá thú đặc biệt nổi lên tại các huyện  
công dân hai nước xảy ra cũng là điều tất biên giới thuộc hai tỉnh Quảng Nam và  
Thông tin Khoa học xã hội, số 9.2020  
56  
Quảng Trị, gây khó khăn cho công tác quản thuận lợi cho số dân cư này được đăng ký  
lý hộ tịch, hộ khẩu và an ninh biên giới. kết hôn theo quy định của pháp luật mỗi  
Theo số liệu thống kê sơ bộ c ủa Sở Ngoại nước... (Bộ Ngoại giao, 2013). Mục tiêu  
vụ t ỉnh Quảng Nam (tháng 11/2012), có 33 của thỏa thuận này là bảo vệ quyền và lợi  
trường hợp người Việt Nam di cư tự do, 47 ích chính đáng của người di cư tự do, tạo  
người Việt kết hôn không giá thú với người điều kiện thuận lợi cho những công dân kết  
Lào tại Huyện Đắc Chưng, 11 người Việt hôn chưa đăng ký vẫn được ổn định cuộc  
Nam kết hôn không giá thú với người Lào sống tại nước cư trú hoặc nước gốc (đối  
tại huyện Kà Lừm của Lào. Huyện Nam với những người không được cư trú, phải  
Giang có 25 trường hợp người Lào kết hôn về nước); ngăn chặn tổ chức, cá nhân hoặc  
không giá thú với người Việt Nam, sinh nhóm người xấu gây ảnh hưởng tới an ninh  
sống tại địa bàn các xã Đắc Tôi, Đắc Pre, trật tự trong vùng biên giới hai nước.  
La Êê và thị trấn Thạnh Mỹ; 17 trường hợp  
Việc kết hôn với người đồng tộc bên  
người Lào di cư tự do sinh sống tại xã Đắc kia biên giới nằm trong phạm trù vấn đề  
Tôi. Huyện Tây Giang cũng có 26 trường về văn hóa phong tục. Song kết hôn do lao  
hợp người Lào kết hôn không giá thú với động di cư, tự do tìm hiểu, vì mục đích kinh  
người Việt Nam, thuộc địa bàn các xã biên tế hoặc các yếu tố khác lại là vấn đề nảy  
giới A Xan, Ch’Ơm và Ga Ry. Phần lớn sinh nhiều hơn trong xã hội hiện nay. Hơn  
các hộ dân di cư tự do và kết hôn không nữa, mối quan hệ này rất dễ bị lợi dụng để  
giá thú sinh sống ở các xã biên giới Việt xây dựng đường dây đưa người qua biên  
- Lào đều gặp khó khăn do không có hộ giới bất hợp pháp, vận chuyển, buôn bán  
khẩu, thiếu đất sản xuất, việc học tập của hàng cấm… Tính phức tạp của vấn đề lại  
con cái gặp trở ngại do thiếu các loại giấy càng cần nhiều hơn sự kiểm soát đúng mức  
tờ c ần thiết... Nhiều gia đình bày tỏ mong của các cơ quan chức năng. Trước đây, thủ  
muốn được nhập quốc tịch của nước sở t ại tục đăng ký kết hôn đối với các trường hợp  
mà mình đang sinh sống để ổn định cuộc có yếu tố nước ngoài hết sức phức tạp, Sở  
sống, cải thiện sinh kế... (Sở Ngoại vụ tỉnh Tư pháp tỉnh có trách nhiệm trong nghiên  
Quảng Nam, 2012).  
cứu thẩm tra hồ sơ, sau đó báo cáo kết quả  
Từ thực tế trên, nhằm giải quyết vấn lên ủy ban nhân dân tỉnh cấp quyết định.  
đề di cư tự do và kết hôn không giá thú tại Quá trình thẩm định hồ sơ kéo dài do phải  
khu vực biên giới Việt - Lào, năm 2013, xin nhiều loại giấy tờ trong thời hạn cụ thể,  
chính phủ hai nước đã ký Thỏa thuận giữa trong khi đó đồng bào DTTS đôi khi lại có  
Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa những bất đồng về ngôn ngữ, dè dặt trong  
Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa dân giao tiếp nên gây hạn chế trong các cuộc  
chủ nhân dân Lào về việc giải quyết vấn phỏng vấn trực tiếp, vì vậy người dân có  
đề người di cư tự do, kết hôn không giá tâm lý ngại thực hiện các thủ tục liên quan.  
thú trong vùng biên giới hai nước. Thỏa Bên cạnh đó, lệ phí đăng ký kết hôn xuyên  
thuận nhấn mạnh: “Đối với những cặp vợ biên giới lên đến 2.000.000 đồng (Xem:  
chồng kết hôn không giá thú, trên nguyên Phạm Trọng Cường, 2003) là mức phí cao  
tắc nhân đạo, tôn trọng phong tục, tập quán so với điều kiện kinh tế khó khăn của phần  
của nhau và quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt lớn đồng bào DTTS, do vậy ý thức tự giác  
Nam - Lào, hai bên thống nhất tạo điều kiện đăng ký kết hôn của đồng bào thiểu số  
Chính sách và thực tiễn…  
57  
cũng không phổ biến. Theo tập tục văn hóa miễn lệ phí là người được cơ quan chức  
truyền thống, các tộc người thiểu số vùng năng Việt Nam cho phép cư trú, trong đó  
biên giới chủ yếu tuân theo các nghi thức người kết hôn không giá thú sau khi đăng  
từ lâu đời của cộng đồng nên dường như ký kết hôn theo quy định của pháp luật  
họ không dành sự quan tâm đến những quy mỗi nước có nguyện vọng xin phép cư trú  
định pháp lý hay các thủ tục cần thiết khi trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ  
kết hôn xuyên biên giới.  
nghĩa Việt Nam cũng thuộc đối tượng được  
Để giải quyết tình trạng trên, Chính miễn lệ phí (Bộ Tài chính, 2017). Tháng  
phủ đã ban hành Nghị định số 24/2013/ 12/2019, tỉnh Quảng Trị (Việt Nam) cùng  
NĐ-CP ngày 28/3/2013 về trình tự đăng ký 2 tỉnh Salavan và Savannakhet (Lào) đã  
kết hôn đối với trường hợp công dân Việt tích cực, chủ động hợp tác chặt chẽ hoàn  
Nam đã chung sống như vợ chồng với công thành việc giải quyết vấn đề người di cư  
dân nước láng giềng ở khu vực biên giới. tự do và kết hôn không giá thú trong vùng  
Theo đó, hồ sơ đăng ký kết hôn được quy biên giới. Tỉnh Quảng Trị đã phối hợp với  
định đơn giản hơn, cơ quan có thẩm quyền Bộ Tư pháp Việt Nam tiến hành rà soát và  
cấp chứng nhận kết hôn là ủy ban nhân dân lập hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam cho  
xã - nơi một trong hai người vợ hoặc chồng 756 người trong tổng số 855 người di cư  
có hộ khẩu thường trú. Điều này tạo thuận tự do (Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh  
lợi cho hai bên đăng ký kết hôn, đảm bảo Quảng Trị, 2019).  
phù hợp pháp luật và giảm thiểu tình trạng  
Thủ tục pháp lý dành cho các trường  
kết hôn không giá thú, lợi dụng hôn nhân hợp đặc thù như con của những người kết  
xuyên biên giới vào những hoạt động trái hôn xuyên biên giới trở về Việt Nam sinh  
pháp luật, từ đó bảo vệ tốt hơn nhân quyền sống được Nhà nước hướng dẫn cụ thể  
của công dân Việt Nam. Thực tiễn đã cho nhằm khuyến khích người chăm sóc trẻ  
thấy tính hiệu quả của chính sách này, bởi nhanh chóng khai báo, làm giấy khai sinh  
người dân tiếp cận được các thủ tục hành và các thủ tục hộ tịch, hộ khẩu cho trẻ em  
chính dễ dàng hơn, thuận tiện trong việc để trẻ được hưởng các chính sách hỗ trợ về  
đi lại giải quyết các giấy tờ cần thiết. Tuy giáo dục và y tế. Chính quyền địa phương  
nhiên, nhiều cán bộ tư pháp cấp xã lại chưa sẽ xác nhận những trường hợp con theo mẹ  
được đào tạo bài bản trong quản lý nhà về Việt Nam sinh sống, cấp giấy khai sinh  
nước về kết hôn, hộ tịch… nên vẫn gây ra theo thủ tục con ngoài giá thú. Có không  
những vướng mắc, khó khăn nhất định.  
ít phụ nữ kết hôn xuyên biên giới không  
Với mục đích tăng cường khuyến thành công mang theo con trở về nước, có  
khích người dân đăng ký quốc tịch, hộ tâm lý mặc cảm vì không có việc làm, trình  
tịch và kết hôn có thủ tục hợp pháp, năm độ học vấn thấp, không có giấy tờ tùy thân,  
2017, Việt Nam tiếp tục ban hành Thông điều kiện kinh tế khó khăn,… nên thường  
tư số 64/2017/TT-BTC ngày 27/6/2017 lảng tránh các cuộc giao tiếp trong cộng  
của Bộ Tài chính Hướng dẫn miễn lệ phí đồng, thậm chí lẩn trốn cơ quan chức năng.  
quốc tịch, lệ phí hộ tịch, đăng ký cư trú cho Những trở ngại đó khiến cán bộ hỗ trợ pháp  
người được phép cư trú theo quy định của lý khó tiếp cận và động viên họ đăng ký  
Thỏa thuận giữa Chính phủ Việt Nam và khai sinh, nhập tịch cho trẻ, do đó vẫn còn  
Chính phủ Lào. Theo đó, đối tượng được những trường hợp trẻ thiệt thòi do không  
Thông tin Khoa học xã hội, số 9.2020  
58  
được hưởng các chế độ an sinh xã hội cả Việt Nam - Lào vẫn còn gặp nhiều trở ngại,  
ở Việt Nam và Lào. đặc biệt là ở cấp cơ sở. Chính vì vậy, chúng  
Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh tôi đưa ra một số khuyến nghị như sau:  
Quảng Nam cũng đã phối hợp chặt chẽ với Một là, cần rà soát, xác minh chính  
lực lượng bảo vệ biên giới của Lào thực xác những đối tượng di cư tự do, kết hôn  
hiện nghiêm Hiệp định về Quy chế quản không giá thú để có biện pháp giúp đỡ họ  
lý biên giới giữa hai nước; làm tốt công tác nhập quốc tịch, đăng ký kết hôn đúng luật  
trao trả, tiếp nhận người di cư tự do tại cửa định. Đồng thời rà soát giúp cho những  
khẩu biên giới theo quy định. Đồng thời, người đã hoàn tất thủ tục đăng ký kết hôn,  
tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nhập quốc tịch được cấp đất ở, đất sản xuất  
nhân dân trong khu vực biên giới tuân thủ cũng như đào tạo nghề. Cần tăng cường  
các chủ trương, đường lối của Đảng, chính các biện pháp giảm nghèo hiệu quả, có  
sách, pháp luật của Nhà nước về giải quyết chính sách phát triển kinh tế - xã hội phù  
dân di cư tự do liên quan đến vấn đề kết hôn hợp với đặc điểm cư dân là DTTS vùng  
xuyên biên giới (Sở Ngoại vụ tỉnh Quảng biên giới Việt - Lào.  
Nam, 2012).  
Hai là, để giảm thiểu tình trạng kết hôn  
Có thể nói, các tộc người thiểu số là bộ không giá thú, cần đẩy mạnh hơn nữa công  
phận hết sức quan trọng trong kết cấu dân tác tuyên truyền trong đồng bào DTTS vùng  
cư của nước ta, tuy nhiên với việc sinh sống biên giới Việt - Lào, đặc biệt với đối tượng  
chủ yếu ở những địa bàn miền núi, vùng phụ nữ, trẻ em gái. Việc nâng cao nhận thức  
sâu, vùng xa, vùng biên giới có điều kiện cho cộng đồng DTTS nói chung về các vấn  
kinh tế còn nhiều khó khăn như vùng biên đề hôn nhân và gia đình là một chiến lược  
giới Việt - Lào thì việc thực thi có hiệu quả lâu dài nhằm đổi được hành vi tồn tại từ lâu  
các chính sách, pháp luật của Nhà nước về đời trở thành tập quán của họ.  
hôn nhân và gia đình còn nhiều bất cập. Vì  
Ba là, với đặc điểm vùng biên giới Việt  
vậy, vấn đề hỗ trợ pháp lý trong hôn nhân - Lào luôn tiềm ẩn những nguy cơ như vượt  
và gia đình ở khu vực này có ý nghĩa đặc biên trái phép, đi lại thăm thân tự do, lợi  
biệt quan trọng. Yếu tố tình cảm, quan hệ dụng quan hệ đồng tộc, quan hệ hôn nhân  
tộc người, quan hệ xã hội và quan hệ liên/ xuyên biên giới để buôn bán hàng cấm, bắt  
xuyên biên giới khiến cho đối tượng của cóc phụ nữ, trẻ em..., Nhà nước cần phải có  
vấn đề trở nên nhạy cảm và khó quản lý những biện pháp mạnh mẽ hơn trong quản  
trong khuôn khổ pháp luật, bởi phong tục, lý để ổn định tình hình an ninh và chính  
tập quán và tình hình thực tế luôn đa dạng. trị tại các địa phương có chung đường biên  
Do đó, Nhà nước cần phải nắm bắt được giới với nước bạn Lào.  
thực trạng, ban hành luật, các văn bản dưới  
Bốn là, nguồn nhân lực thực thi pháp  
luật, các nghị định, thông tư hướng dẫn các luật của Nhà nước ở vùng biên giới Việt -  
quy định liên quan kịp thời và phù hợp với Lào còn tương đối mỏng, đội ngũ cán bộ  
thực tiễn.  
4. Kết luận và khuyến nghị  
tuyên truyền chưa đủ mạnh. Do vậy, để thu  
hút cán bộ có trình độ cao và sẵn sàng công  
Qua thực trạng đề cập ở trên, có thể thấy tác lâu dài tại địa phương, cần có chế độ đãi  
thực tế triển khai chính sách hôn nhân và ngộ phù hợp, qua đó khuyến khích cán bộ  
gia đình đối với các DTTS vùng biên giới yên tâm hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ.  
Chính sách và thực tiễn…  
59  
Nhìn chung, sự di động dân cư, mạng 2. Bộ Tài chính (2017), Thông tư số  
lưới thân tộc hai bên biên giới Việt - Lào,  
quan hệ kinh tế biên mậu… khiến đặc điểm  
cấu trúc gia đình các tộc người nơi đây trở  
nên cơ động, mềm dẻo hơn; do đó, để chính  
sách hôn nhân và gia đình thực thi hiệu quả,  
cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, với  
sự phối hợp của các ban ngành chức năng  
và tư vấn chính sách từ các nhà nghiên cứu  
khoa học xã hội. Điều đó giúp gia đình mỗi  
tộc người phát triển ổn định, giữ gìn tập  
quán tốt đẹp và hưởng đầy đủ các chế độ  
chính sách, pháp luật của Nhà nước. Thực  
64/2017/TT-BTC Hướng dẫn miễn lệ  
phí quốc tịch, lệ phí hộ tịch, đăng ký  
cư trú cho người được phép cư trú, ban  
phapluat.com/thong-tu-64-2017-tt-btc-  
huong-dan-mien-le-phi-quoc-tich-le-  
phi-ho-tich-dang-ky-cu-tru-cho-nguoi-  
duoc-phep-cu-tru-theo-quy-dinh-cua-  
thoa-thuan-giua-viet-nam-lao-ve-giai-  
quyet-van-de-nguoi-di-cu-tu-do-ket-  
hon-khong-gia-thu-tron.html, truy cập  
ngày 12/4/2020.  
tế triển khai cho thấy chính sách hôn nhân 3. Phạm Trọng Cường (2003), Hỏi đáp  
và gia đình đối với đồng bào DTTS vùng  
biên giới Việt - Lào luôn cần có sự linh hoạt,  
chứa đựng tính đặc thù, tính pháp chế cao,  
song phải mềm dẻo trong công tác dân vận  
về Luật Hôn nhân và gia đình với đồng  
bào dân tộc thiểu số và quan hệ hôn  
nhân - gia đình có yếu tố nước ngoài,  
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.  
để triển khai chính sách, pháp luật được hiệu 4. Đặng Thị Hoa (2016), Hôn nhân xuyên  
quả, kịp thời. Bên cạnh việc cải thiện quyền  
và lợi ích hợp pháp của mỗi cá nhân, không  
biên giới với phát triển xã hội, Nxb.  
Khoa học xã hội, Hà Nội.  
thể phủ nhận những đóng góp quan trọng của 5. Lý Hành Sơn (2015), “Quan hệ dân tộc  
Luật Hôn nhân và gia đình trong việc bảo vệ  
an ninh, quốc phòng khu vực biên giới và  
việc nâng cao chất lượng dân số, cũng như  
nguồn nhân lực sau này của đất nước  
xuyên quốc gia của một số tộc người  
vùng miền núi phía Bắc”, Báo cáo kết  
quả đề tài cấp Bộ, Viện Dân tộc học.  
6. Sở Ngoại vụ tỉnh Quảng Nam (2012),  
Báo cáo tại Hội nghị sơ kết 1 năm thực  
hiện Nghị quyết số 02-NQ/TU về “Tăng  
cường nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền an  
ninh biên gisới trong tình hình mới”,  
Ban Thường vụ Tỉnh ủy.  
Tài liệu tham khảo  
1. Bộ Ngoại giao (2013), Thỏa thuận giữa  
Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ  
nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước  
Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào về 7. Ủy ban Biên giới Quốc gia (2012),  
việc giải quyết vấn đề người di cư tự  
do, kết hôn không giá thú trong vùng  
biên giới hai nước, https://thuvien  
“Tổng quan chung về Biên giới Việt  
Nam - Lào”, Tạp chí Tuyên giáo Trung  
ương, số 2, tr. 6.  
phapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh- 8. Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng  
chinh/2013-De-an-thoa-thuan-Viet-Nam  
-Lao-nguoi-di-cu-tu-do-ket-hon-khong-  
gia-thu-218153.aspx, truy cập ngày  
01/4/2020.  
Trị (2019), Báo cáo tình hình kinh tế - xã  
hội, quốc phòng - an ninh năm 2019 và  
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, năm  
2020, số 221/BC-UBND, ngày 22/12.  
pdf 7 trang Thùy Anh 10840 Free
Bạn đang xem tài liệu "Chính sách và thực tiễn triển khai pháp luật hôn nhân và gia đình đối với đồng bào dân tộc thiểu số vùng biên giới Việt Nam - Lào", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfchinh_sach_va_thuc_tien_trien_khai_phap_luat_hon_nhan_va_gia.pdf