Cấu trúc, các mối quan hệ pháp lý của các bên tham gia bảo lãnh

CẤU TRÚC, CÁC MỐI QUAN HỆ PHÁP LÝ...  
CỦA CÁC BÊN THAM GIA BẢO LÃNH  
NGUYỄN HẢI NGÂN*  
Trong quan hệ dân sự và thương mại, các chủ thể thường ưu tiên lựa chọn bảo lãnh  
làm biện pháp bảo đảm vì tính tiện dụng cho các bên liên quan. Bài viết nhằm nhận diện  
cấu trúc và đặc trưng pháp lý của mối quan hệ nghĩa vụ được tạo ra bởi bảo lãnh và hiệu  
lực giữa chúng với nhau, góp phần làm rõ cơ sở lý luận cho việc ứng dụng và thực thi pháp  
luật về bảo lãnh, đặc biệt là lĩnh vực bảo lãnh ngân hàng.  
Từ khóa: Bảo lãnh, mối quan hệ pháp lý của bảo lãnh, quan hệ nghĩa vụ bảo lãnh.  
Ngày nhận bài: 20/9/2020; Biên tập xong: 22/9/2020; Duyệt đăng: 22/9/2020  
In civil and commercial relations, parties oꢀen choose guarantee as a security measure  
due to its convenience. The article aims to identify the structures and legal characteristics of  
the obligation relationship created by the guarantee and its validity as well as contributes to  
clarifying the rationale for the application and enforcement of the guarantee law, especially  
in bank guarantees.  
Keywords: Guarantee, guarantee legal relationship, guarantee obligation relationship.  
1. Cấu trúc của bảo lãnh  
phạm hợp đồng cơ sở, B có quyền đưa ra  
yêu cầu để ngân hàng G thanh toán cùng  
với các tài liệu liên quan tới bảo lãnh, yêu  
cầu và tài liệu phải được trình bày trước  
khi hết hạn hoặc hủy bỏ. Ngân hàng G sau  
đó phát sinh quyền yêu cầu bồi hoàn từ  
P, trong trường hợp vi phạm hợp đồng cơ  
bản thì ngân hàng G và P cũng có quyền  
yêu cầu bồi thường thiệt hại với nhau1.  
Bảo lãnh gián tiếp là loại hình bốn bên,  
bên được bảo lãnh sẽ yêu cầu bên bảo lãnh  
của mình (thường là ngân hàng) sắp xếp  
vấn đề bảo lãnh với ngân hàng của bên  
nhận bảo lãnh. Theo đó, ngân hàng của  
người được bảo lãnh đề nghị với ngân  
hàng của người nhận bảo lãnh đưa ra bảo  
lãnh chống lại bảo lãnh đối ứng. Trong tình  
huống này, chính ngân hàng của bên nhận  
Bảo lãnh trực tiếp gồm tối thiểu ba bên:  
bên bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh và bên  
được bảo lãnh. Trong đó, người bảo lãnh  
có thể là cá nhân, pháp nhân hoặc ngân  
hàng. Bảo lãnh lúc này được thiết lập trực  
tiếp bởi chính bên bảo lãnh mà không qua  
khâu trung gian nào. Bảo lãnh ba bên được  
giải thích như sau: P – nhà thầu đàm phán  
và xác lập giao dịch với B để xây dựng nhà  
ở thương mại, trong đó P và B thỏa thuận  
ngân hàng G là bên bảo lãnh cho P. Nếu  
P không thực hiện hoặc thực hiện không  
đúng nghĩa vụ thì ngân hàng G sẽ thay P  
thực hiện nghĩa vụ với B. Theo đó, ngân  
hàng G phát hành bảo lãnh – trở thành  
người bảo lãnh. B là người thụ hưởng –  
bên được bảo lãnh. Trong hợp đồng bảo  
lãnh sẽ nêu rõ các nội dung: các bên, hợp  
đồng cơ bản, thời hạn bảo lãnh, số tiền  
hoặc số tiền tối đa mà bên nhận bảo lãnh  
được gọi bảo lãnh, các tài liệu kèm theo  
khi gọi bảo lãnh. Khi B cho rằng P đã vi  
* Thạcsĩ, TrườngĐạihọcKhoahọc-ĐạihọcTháiNguyên  
1
ꢀWarisa Charoensuk (2016), “Problems of bank  
guarantee under Thai law, Problems of Bank Guarantee  
under Thai Law”.  
92 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 03 - 2020  
NGUYỄN HẢI NGÂN  
bảo lãnh sẽ phát hành bảo lãnh và chính là hình thành theo sự thỏa thuận của bên bảo  
người bảo lãnh cho bảo lãnh theo yêu cầu. lãnh và bên nhận bảo lãnh. Thứ ba, nghĩa vụ  
Nói cách khác, bảo lãnh gián tiếp bên tham hoàn lại hình thành giữa bên được bảo lãnh  
gia thường là bảo lãnh trong lĩnh vực tín với bên bảo lãnh khi bên bảo lãnh đã thực  
dụng ngân hàng – bảo lãnh đối ứng.  
hiện xong nghĩa vụ bảo lãnh theo quy định  
của pháp luật. Nếu thiết lập bảo lãnh gián  
tiếp, sẽ có thêm một quan hệ nghĩa vụ hình  
thành, đó là quan hệ giữa bên bảo lãnh của  
người nhận bảo lãnh với bên bảo lãnh của  
bên có nghĩa vụ được bảo lãnh.  
Mỗi mối quan hệ trong số các quan  
hệ nghĩa vụ được thành lập bởi sự thỏa  
thuận ý chí của các chủ thể và được tách  
biệt với các cam kết khác. Cam kết của bên  
bảo lãnh dành cho người thụ hưởng phát  
sinh khi bên nhận bảo lãnh phát hành bảo  
lãnh vào thời điểm mà bên được bảo lãnh  
không thực hiện hoặc thực hiện không  
đúng, không đầy đủ nghĩa vụ với bên nhận  
bảo lãnh – người có quyền trong quan hệ  
nghĩa vụ chính. Nghĩa vụ của bên bảo lãnh  
có thể là trả tiền hoặc thực hiện một công  
việc tùy thuộc vào nghĩa vụ được bảo lãnh  
và sự thỏa thuận của các bên liên quan tới  
Trong bảo lãnh gián tiếp, tồn tại thêm  
một quan hệ nghĩa vụ là quan hệ giữa  
ngân hàng của bên nhận bảo lãnh với ngân  
hàng của bên được bảo lãnh – bên bảo lãnh  
của người được bảo lãnh. Mối quan hệ này  
hình thành trên cơ sở một hợp đồng bổ  
sung. Cấu trúc của bảo lãnh gián tiếp được  
mô tả như sau: Bên nhận bảo lãnh sắp xếp  
cho ngân hàng của mình (ngân hàng IP) để  
yêu cầu bảo lãnh. Ngân hàng G là bên bảo  
lãnh cho người nhận bảo lãnh có quyền  
phát hành bảo lãnh chống lại bảo lãnh đối  
ứng từ ngân hàng IP. Ngân hàng IP không  
bắt buộc phải tuân theo hướng dẫn của P,  
trừ khi có thỏa thuận. IP có quyền yêu cầu  
P phải bồi hoàn cho trách nhiệm pháp lý  
mà IP thực hiện theo bảo lãnh đối ứng.  
2. Mối quan hệ pháp lý được tạo ra bởi  
một bảo lãnh  
các điều khoản về việc thực hiện nghĩa vụ  
Việc xác định đúng bản chất pháp lý  
của bảo lãnh là cơ sở để xác định được cơ  
cấu chủ thể trong quan hệ pháp luật về bảo  
lãnh. Bảo lãnh là biện pháp bảo đảm có  
tính đối nhân được hình thành bởi sự thỏa  
thuận của các chủ thể - dấu hiệu cơ bản  
của hợp đồng. Sự thỏa thuận của các bên  
là điều kiện thiết lập quan hệ bảo lãnh. Xét  
ở biểu hiện bên ngoài, bảo lãnh có ba bên  
chủ thể: bên bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh  
và bên được bảo lãnh và có sự liên hệ nhất  
định giữa các chủ thể trong mối quan hệ  
đó. Các quan hệ nghĩa vụ được hình thành  
riêng biệt theo sự thỏa thuận của các bên.  
2
1
bảo lãnh và thời hạn bảo lãnh . Người bảo  
lãnh không phải là một bên của hợp đồng  
cơ bản và không quan tâm đến nội dung  
cũng như hiệu lực của hợp đồng cơ bản.  
Mối quan hệ giữa bên nhận bảo lãnh với  
bên được bảo lãnh trong quan hệ nghĩa vụ  
được hình thành từ hợp đồng cơ bản tồn  
tại độc lập với quan hệ nghĩa vụ bảo lãnh.  
Mối quan hệ giữa người được bảo lãnh  
và người bảo lãnh được hình thành theo quy  
định của pháp luật. Người bảo lãnh phải  
đảm bảo thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh với bên  
nhận bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không  
thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa  
vụ. Nếu bên bảo lãnh không hoàn thành  
nghĩa vụ bảo lãnh thì mất quyền hoàn trả  
Thứ nhất, nghĩa vụ cơ bản được hình  
thành theo sự thỏa thuận của bên nhận bảo  
lãnh (bên có quyền) với bên được bảo lãnh  
(bên có nghĩa vụ). Thứ hai, nghĩa vụ bảo lãnh 2 Warisa Charoensuk (2016), tlđd.  
Số chuyên đề 03 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 93  
CẤU TRÚC, CÁC MỐI QUAN HỆ PHÁP LÝ...  
từ bên được bảo lãnh. Điều này không liên là quyền được bồi hoàn sau khi thực hiện  
quan tới người nhận bảo lãnh, quyền được nghĩa vụ bảo lãnh, quyền thế quyền đối  
hoàn trả phụ thuộc vào việc thực hiện nghĩa với quyền của bên nhận bảo lãnh và quyền  
vụ bảo lãnh đúng cam kết.  
Người được bảo lãnh cũng không quan  
tâm đến mối quan hệ giữa người bảo lãnh  
phân chia lợi nhuận có được từ bảo lãnh  
với đồng bảo lãnh.  
Quyền yêu cầu bồi hoàn đối với người được  
và người nhận bảo lãnh. Về cơ bản, mối bảo lãnh: Một người bảo lãnh có thể yêu  
quan hệ này tách biệt với người được bảo cầu con nợ chính phải bồi hoàn hoặc bồi  
lãnh. Người được bảo lãnh có thể không  
biết về hợp đồng bảo lãnh được thiết lập.  
Tương tự, người nhận bảo lãnh cũng không  
có lợi ích trong nghĩa vụ giữa người bảo  
lãnh với người được bảo lãnh. Do đó, nếu  
người được bảo lãnh không hoàn trả nghĩa  
vụ bảo lãnh cho bên bảo lãnh thì quyền của  
bên nhận bảo lãnh không bị ảnh hưởng.  
thường. Cơ sở của bồi hoàn được áp dụng  
bất cứ khi nào. Khi trả nợ gốc, người bảo  
lãnh có quyền theo luật định để thực hiện  
quyền yêu cầu bồi hoàn hoặc bồi thường  
của mình. Người bảo lãnh có quyền truy  
đòi con nợ về tiền gốc, tiền lãi hoặc tiền  
bồi thường mà người này phải gánh chịu  
vì lý do bảo lãnh. Khi đưa ra yêu cầu về  
sự bảo đảm, bên bảo lãnh sẽ thận trọng  
thỏa thuận với người được bảo lãnh về  
các vấn đề như: sự chắc chắn sẽ được bồi  
hoàn hoặc bồi thường, bên được bảo lãnh  
có biện pháp bảo vệ nào hay không. Bên  
bảo lãnh bị mất quyền yêu cầu nếu bên này  
thực hiện bảo lãnh khi không có yêu cầu từ  
bên nhận bảo lãnh, và nghĩa vụ của người  
được bảo lãnh không còn do giao dịch vô  
hiệu, bù trừ hoặc người được bảo lãnh đã  
thực hiện nghĩa vụ. Quyền yêu cầu không  
biến mất nếu giữa bên bảo lãnh nhận được  
yêu cầu từ bên nhận bảo lãnh.  
Trong trường hợp người bảo lãnh  
đã thực hiện nghĩa vụ, đồng thời người  
được bảo lãnh cũng thực hiện nghĩa vụ  
với bên nhận bảo lãnh, cả hai chủ thể đều  
không có thông báo với nhau về việc đã  
thực hiện nghĩa vụ thì cần được hiểu là  
người bảo lãnh mất quyền yêu cầu. Đối  
với người được bảo lãnh không được  
thông báo thì nghĩa vụ trả nợ vẫn tồn tại  
Có thể nhận thấy, quan hệ giữa bên nhận  
bảo lãnh và bên được bảo lãnh là quan hệ  
nghĩa vụ được bảo đảm bằng biện pháp bảo  
lãnh, được hình thành từ sự thỏa thuận của  
các chủ thể hoặc theo quy định của pháp  
luật. Theo đó, nếu bên được bảo lãnh không  
thực hiện, thực hiện không đúng nghĩa vụ  
thì bên bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa thay cho  
bên được bảo lãnh. Quan hệ giữa bên bảo  
lãnh và bên nhận bảo lãnh – quan hệ phát  
sinh khi bên bảo lãnh đã thực hiện xong  
nghĩa vụ với bên nhận bảo lãnh – một nghĩa  
vụ hoàn lại phát sinh: bên được bảo lãnh  
phải thực hiện nghĩa vụ trước bên bảo lãnh.  
Về mặt pháp lý, quan hệ bảo lãnh chỉ là mối  
quan hệ giữa hai bên chủ thể: bên bảo lãnh  
và bên nhận bảo lãnh, mặc dù việc thiết lập  
hợp đồng bảo lãnh là để trợ giúp cho chính  
người được bảo lãnh. Bên được bảo lãnh  
được hiểu là bên thụ hưởng lợi ích từ hợp  
đồng bảo lãnh mà không phải bên đóng vai  
trò tạo lập hợp đồng bảo lãnh.  
và khi đã thực hiện nghĩa vụ này, không  
ai có thể đòi nợ nữa .  
3. Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể  
tham gia quan hệ bảo lãnh  
3
1
3
Quyền và nghĩa vụ của người bảo lãnh:  
ꢀNguyễn Ngọc Điện (2001), Bình luận khoa học về  
Các quyền chính của một người bảo lãnh đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trong luật dân sự Việt  
94 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 03 - 2020  
NGUYỄN HẢI NGÂN  
Như vậy, để có quyền yêu cầu với bên nhanh chóng khác. Mọi tài liệu đưa ra với  
được bảo lãnh, người bảo lãnh phải có bên nhận bảo lãnh đều trở thành chứng cứ  
nghĩa vụ thông báo về việc đã thực hiện  
nghĩa vụ bảo lãnh trước thời điểm người  
này thực hiện nghĩa vụ của mình. Người  
được bảo lãnh không có nghĩa vụ ngược  
lại với bên bảo lãnh, vì đó không phải trách  
nhiệm của người này và họ cũng có thể  
hoàn toàn không biết về việc nghĩa vụ đã  
được bảo lãnh. Đồng thời, khi tự nguyện  
ràng buộc cam kết bảo lãnh, người bảo lãnh  
cần có ý thức tìm hiểu xem người được bảo  
lãnh đã thực hiện nghĩa vụ hay chưa.  
Quyền thay thế và các quyền khác chống lại  
người nhận bảo lãnh: Một người bảo lãnh đã  
thực hiện nghĩa vụ với người có quyền, có  
quyền thay thế tất cả các quyền của người  
nhận bảo lãnh đối với nghĩa vụ của bên  
được bảo lãnh. Điều này có ý nghĩa quan  
trọng nhất, bên bảo lãnh có quyền với tất  
cả các nghĩa vụ mà người nhận có được  
từ người được bảo lãnh hoặc từ một đồng  
bảo lãnh. Một sự bảo lãnh không được yêu  
cầu có thể có quyền thay thế. Ngoài các thế  
quyền, một người bảo lãnh còn có một số  
quyềnnhấtđịnhcóthểđượcthựchiệnngay  
cả trước khi thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh  
như từ chối bảo lãnh khi người có nghĩa  
vụ khiếu kiện chống lại bên có quyền. Nếu  
không từ chối, người bảo lãnh có thể mất  
quyền yêu cầu bồi hoàn từ người được bảo  
lãnh. Khi người nhận bảo lãnh gọi bảo lãnh  
quá hạn, người bảo lãnh cũng có quyền từ  
chối thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.  
chứng minh cho việc thực hiện nghĩa vụ  
bảo lãnh. Đồng thời, để có thể thế quyền,  
bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ trong  
phạm vi bảo lãnh đã cam kết, giao tài sản  
được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ  
theo thỏa thuận để xử lý khi không thực  
hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ  
nghĩa vụ bảo lãnh.  
Quyền đồng bảo lãnh và chống lại các đồng  
bảo lãnh: Một người bảo lãnh nếu đã trả  
nhiều hơn hoặc toàn bộ nghĩa vụ bảo lãnh  
trong đồng bảo lãnh có quyền yêu cầu các  
đồng bảo lãnh bồi hoàn phần nghĩa vụ mà  
mình đã thực hiện. Có thể trước khi thực  
hiện nghĩa vụ, người bảo lãnh có quyền và  
nghĩa vụ liên quan chặt chẽ với các đồng  
bảo lãnh của mình. Các đồng bảo lãnh chia  
sẻ trách nhiệm của họ theo những điều  
khoản thỏa thuận trong bảo lãnh. Nếu  
không tuân thủ quy định, nguyên tắc là  
nếu mỗi người là một người bảo lãnh cho  
những phần nghĩa vụ bằng nhau, họ sẽ  
thực hiện nghĩa vụ như nhau, trong khi  
nếu họ chịu trách nhiệm về những phần  
nghĩa vụ khác nhau, mỗi người sẽ thực  
4
1
hiện với phần bảo lãnh tương ứng .  
Như vậy, các đồng bảo lãnh nên thực  
hiện sự thỏa thuận chắc chắn trước khi thực  
hiện nghĩa cho bên nhận bảo lãnh. Trong  
trường hợp này, người nhận bảo lãnh được  
yêu cầu một trong số những người bảo  
lãnh thực hiện nghĩa vụ với anh ta. Người  
bảo lãnh cũng có quyền yêu cầu bồi hoàn  
từ những người đồng bảo lãnh sau khi  
thực hiện toàn bộ nghĩa vụ bảo lãnh, hoặc  
vượt phạm vi bảo lãnh của mình có nghĩa  
vụ bồi hoàn với mình. Quyền này phát  
Như vậy, người bảo lãnh cần có thời  
gian hợp lý để kiểm tra yêu cầu bảo lãnh và  
quyết định thực hiện hay từ chối bảo lãnh.  
Nếu từ chối bảo lãnh, người bảo lãnh có  
nghĩa vụ lập tức thông báo cho người nhận  
bảo lãnh bằng các phương tiện điện tử,  
hoặc nếu không thể thì bằng các biện pháp  
4ꢀ Michelle Kelly – Louw (2008), “Selective Legal  
Aspects of bank”- Lựa chọn pháp lý của ngân hàng,  
đảm bảo nhu cầu.  
Nam, Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh.  
Số chuyên đề 03 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 95  
CẤU TRÚC, CÁC MỐI QUAN HỆ PHÁP LÝ...  
sinh cả khi những người bảo lãnh không bảo lãnh. Khi người nhận bảo lãnh có lỗi  
vi phạm hợp đồng đối với bên có nghĩa  
vụ và đó là căn cứ dẫn đến chấm dứt hợp  
đồng thì chắc chắn nghĩa vụ bảo lãnh cũng  
không còn tồn tại.  
cùng một hợp đồng. Người bảo lãnh này  
không biết về sự tồn tại của người bảo lãnh  
kia. Yêu cầu duy nhất là họ phải cùng bảo  
lãnh cho một khoản nợ.  
Người bảo lãnh cũng sẽ không phải  
thực hiện nghĩa vụ nếu hợp đồng giữa  
bên có quyền và nghĩa vụ có sự thay đổi.  
Khi nghĩa vụ chính thay đổi, bản chất của  
những rủi ro được bảo lãnh cũng có thể  
thay đổi.  
Trường hợp một đồng bảo lãnh phá sản  
còn tồn tại quan điểm khác nhau. Quan  
điểm thứ nhất, nếu có ba người đồng bảo  
lãnh, một người đã thực hiện toàn bộ nghĩa  
vụ bảo lãnh, một người khác phá sản thì  
người còn lại sẽ được yêu cầu cùng đóng  
góp một phần ba số nợ. Quan điểm khác  
cho rằng, phần nghĩa vụ chưa thực hiện  
của người bảo lãnh bị phá sản sẽ thuộc về  
người được bảo lãnh.  
Theo chúng tôi, nếu ba đồng bảo lãnh  
cũng thỏa thuận bảo đảm thực hiện nghĩa  
vụ, nếu một người bị phá sản thì hai người  
còn lại sẽ có trách nhiệm thực hiện toàn bộ  
bảo lãnh. Nếu họ chỉ thỏa thuận thực hiện  
nghĩa vụ theo phần thì trách nhiệm thuộc  
về người được bảo lãnh. Các đồng bảo lãnh  
có nghĩa vụ hoàn lại cho người bảo lãnh đã  
thực hiện toàn bộ nghĩa vụ hoặc vượt quá  
phần nghĩa vụ bảo lãnh của chính mình.  
Nguyên tắc là họ cũng phải bảo lãnh cho  
cùng một nghĩa vụ.  
Như vậy, các nguyên tắc của luật hợp  
đồng được áp dụng. Nếu có hành vi vi  
phạm hoặc sự thay đổi trong hợp đồng  
được bảo lãnh, nghĩa vụ của người bảo lãnh  
được giải phóng. Người bảo lãnh có quyền  
hoãn hoặc không thực hiện nghĩa vụ bảo  
lãnh. Người bảo lãnh sẽ có thời gian hợp lý  
để kiểm tra yêu cầu bảo lãnh và quyết định  
thực hiện hay từ chối yêu cầu. Nếu người  
bảo lãnh quyết định từ chối yêu cầu, anh  
ta có nghĩa vụ thông báo cho người nhận  
bảo lãnh bằng cách truyền tin điện tử hoặc  
văn bản, nếu không thì có thể áp dụng các  
biện pháp nhanh chóng khác. Các tài liệu  
về việc từ chối sẽ là căn cứ minh chứng cho  
người nhận bảo lãnh.  
Quyền và nghĩa vụ của người nhận bảo  
lãnh: Qua phân tích quy định của pháp  
luật dân sự, nhận thấy người nhận bảo  
lãnh có quyền rất quan trọng là quyền yêu  
cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.  
Tùy thuộc vào sự thỏa thuận, bên nhận bảo  
lãnh có thể yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện  
nghĩa vụ trước hoặc sau khi yêu cầu bên  
được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ.  
Nếu không có thỏa thuận, khi nghĩa vụ  
đến hạn mà người được bảo lãnh không  
thực hiện nghĩa vụ, người bảo lãnh có  
quyền gọi bảo lãnh. Nếu có thỏa thuận thì  
bên nhận bảo lãnh chỉ có thể gọi bảo lãnh  
khi chứng minh được người được bảo lãnh  
không có khả năng thực hiện nghĩa vụ mà  
Quyền được hoãn thực hiện hoặc được giải  
phóng khꢀi nghĩa vụ bảo lãnh: Người bảo lãnh  
có quyền tạm hoãn thực hiện nghĩa vụ bảo  
lãnh. Người bảo lãnh có quyền tạm hoãn  
thực hiện nghĩa vụ khi có tranh chấp bảo  
lãnh phát sinh giữa bên bảo lãnh và bên  
nhận bảo lãnh hoặc trong trường hợp bên  
nhận và bên được bảo lãnh bù trừ nghĩa  
vụ với nhau, kết quả dẫn đến sự đình chỉ  
5
1
nghĩa vụ bảo lãnh .  
Nếu người nhận bảo lãnh giải phóng  
bên được bảo lãnh khỏi nghĩa vụ ràng  
buộc, điều này cũng có hiệu lực với người  
5
ꢀKevin P.McGuinness (1996), “Luật về bảo đảm –  
Law of guarantee”, NXB Carswell, Canada.  
96 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 03 - 2020  
NGUYỄN HẢI NGÂN  
không chịu thực hiện. Như vậy, nghĩa vụ một bên chủ thể bắt buộc. Chủ thể này  
chứng minh người được bảo có khả năng không nhất thiết phải biết về việc bảo  
thực hiện chỉ đặt ra khi các bên có thỏa lãnh. Nếu người được bảo lãnh không  
biết về mối quan hệ bảo lãnh thì người  
được bảo lãnh không có quyền mà chỉ  
có nghĩa vụ hoàn trả cho người bảo lãnh  
sau khi người này thực hiện nghĩa vụ cho  
người nhận bảo lãnh. Nếu người được  
bảo lãnh yêu cầu người bảo lãnh đứng  
ra bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ cho mình,  
loại hình này thường hình thành trong  
lĩnh vực thương mại. Khi đó, người bảo  
lãnh có các quyền và nghĩa vụ như:  
Quyền đề nghị một cá nhân, tổ chức có  
đủ năng lực chủ thể, tài chính cam kết thực  
hiện nghĩa vụ thay; quyền yêu cầu người  
bảo lãnh thực hiện đúng cam kết và thỏa  
thuận trong hợp đồng bảo lãnh, thực hiện  
đầy đủ, đúng hạn; quyền khởi kiện bên bảo  
lãnh, chuyển nhượng quyền và nghĩa vụ;  
quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại; quyền  
từ chối bồi hoàn nếu đã thực hiện nghĩa vụ  
và bên bảo lãnh tự thực hiện nghĩa vụ mà  
không có thông báo kịp thời.  
thuận. Trường hợp người nhận bảo lãnh  
lãnh không chứng minh được mà người  
bảo lãnh chứng minh được người được  
bảo lãnh có khả năng thực hiện nghĩa vụ  
thì người này có quyền từ chối thực hiện  
bảo lãnh.  
Bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu  
bên bảo lãnh cung cấp giấy tờ chứng  
minh năng lực tài chính, uy tín và các  
giấy tờ cần thiết khác; bên nhận bảo lãnh  
cũng có quyền yêu cầu bên bảo lãnh đưa  
tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của mình  
hoặc của người thứ ba để bảo đảm thực  
hiện nghĩa vụ; quyền ưu tiên thanh toán  
và truy đòi với tài sản được dùng để đảm  
bảo thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh; quyền  
yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện các biện  
pháp vận động, thuyết phục bên được bảo  
lãnh thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận  
với bên nhận bảo lãnh.  
Bên nhận bảo lãnh có nghĩa vụ thực  
hiện đúng các cam kết bảo lãnh; thông báo  
kịp thời, chính xác các quyền và nghĩa vụ  
của bên được bảo lãnh với bên bảo lãnh;  
thông báo về khả năng tài chính, sức khỏe,  
thu nhập… của bên được bảo lãnh. Trường  
hợp có thỏa thuận về việc thông báo khả  
năng thực hiện nghĩa vụ của bên được bảo  
lãnh mà bên nhận bảo lãnh cố tình che giấu  
thì bên bảo lãnh có quyền từ chối thực hiện  
nghĩa vụ, gọi bảo lãnh trong thời hạn bảo  
lãnh. Nếu quá thời hạn mới gọi bảo lãnh  
thì bên bảo lãnh được từ chối bảo lãnh;  
nếu làm mất mát, hư hỏng giấy tờ, tài liệu  
chứng minh khả năng tài chính, năng lực,  
uy tín của bên bảo lãnh thì phải bồi thường  
thiệt hại.  
Đồng thời, bên được bảo lãnh có nghĩa  
vụ khác như: cung cấp đầy đủ tài liệu,  
thông tin cần thiết khi được bên bảo lãnh  
yêu cầu; thực hiện đúng, đầy đủ, đúng hạn  
nghĩa vụ đã cam kết; nghĩa vụ thanh toán  
đầy đủ và trả thù lao bảo lãnh đúng hạn.  
Quyền của bên được bảo lãnh thường  
phụ thuộc vào mối quan hệ với bên bảo  
lãnh. Khi muốn yêu cầu được bảo lãnh,  
bên được bảo lãnh thường phải thỏa mãn  
các điều kiện mà bên bảo lãnh đưa ra.  
Như vậy, việc hiểu rõ cấu trúc và mối  
quan hệ pháp lý giữa các bên trong quan hệ  
bảo lãnh sẽ xác định được quyền và nghĩa  
vụ của từng bên chủ thể. Việc xem xét tính  
chất của quan hệ này góp phần xây dựng  
Quyền và nghĩa vụ của người được bảo quy định pháp luật về vấn đề này, thúc đẩy  
lãnh: Trong quan hệ bảo lãnh, người sự phát triển của các giao dịch dân sự và  
được bảo lãnh không được xác định là thương mại./.  
Số chuyên đề 03 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 97  
pdf 6 trang Thùy Anh 6620 Free
Bạn đang xem tài liệu "Cấu trúc, các mối quan hệ pháp lý của các bên tham gia bảo lãnh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcau_truc_cac_moi_quan_he_phap_ly_cua_cac_ben_tham_gia_bao_la.pdf