Cấu trúc, các mối quan hệ pháp lý của các bên tham gia bảo lãnh
CẤU TRÚC, CÁC MỐI QUAN HỆ PHÁP LÝ...
CỦA CÁC BÊN THAM GIA BẢO LÃNH
NGUYỄN HẢI NGÂN*
Trong quan hệ dân sự và thương mại, các chủ thể thường ưu tiên lựa chọn bảo lãnh
làm biện pháp bảo đảm vì tính tiện dụng cho các bên liên quan. Bài viết nhằm nhận diện
cấu trúc và đặc trưng pháp lý của mối quan hệ nghĩa vụ được tạo ra bởi bảo lãnh và hiệu
lực giữa chúng với nhau, góp phần làm rõ cơ sở lý luận cho việc ứng dụng và thực thi pháp
luật về bảo lãnh, đặc biệt là lĩnh vực bảo lãnh ngân hàng.
Từ khóa: Bảo lãnh, mối quan hệ pháp lý của bảo lãnh, quan hệ nghĩa vụ bảo lãnh.
Ngày nhận bài: 20/9/2020; Biên tập xong: 22/9/2020; Duyệt đăng: 22/9/2020
In civil and commercial relations, parties oꢀen choose guarantee as a security measure
due to its convenience. The article aims to identify the structures and legal characteristics of
the obligation relationship created by the guarantee and its validity as well as contributes to
clarifying the rationale for the application and enforcement of the guarantee law, especially
in bank guarantees.
Keywords: Guarantee, guarantee legal relationship, guarantee obligation relationship.
1. Cấu trúc của bảo lãnh
phạm hợp đồng cơ sở, B có quyền đưa ra
yêu cầu để ngân hàng G thanh toán cùng
với các tài liệu liên quan tới bảo lãnh, yêu
cầu và tài liệu phải được trình bày trước
khi hết hạn hoặc hủy bỏ. Ngân hàng G sau
đó phát sinh quyền yêu cầu bồi hoàn từ
P, trong trường hợp vi phạm hợp đồng cơ
bản thì ngân hàng G và P cũng có quyền
yêu cầu bồi thường thiệt hại với nhau1.
Bảo lãnh gián tiếp là loại hình bốn bên,
bên được bảo lãnh sẽ yêu cầu bên bảo lãnh
của mình (thường là ngân hàng) sắp xếp
vấn đề bảo lãnh với ngân hàng của bên
nhận bảo lãnh. Theo đó, ngân hàng của
người được bảo lãnh đề nghị với ngân
hàng của người nhận bảo lãnh đưa ra bảo
lãnh chống lại bảo lãnh đối ứng. Trong tình
huống này, chính ngân hàng của bên nhận
Bảo lãnh trực tiếp gồm tối thiểu ba bên:
bên bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh và bên
được bảo lãnh. Trong đó, người bảo lãnh
có thể là cá nhân, pháp nhân hoặc ngân
hàng. Bảo lãnh lúc này được thiết lập trực
tiếp bởi chính bên bảo lãnh mà không qua
khâu trung gian nào. Bảo lãnh ba bên được
giải thích như sau: P – nhà thầu đàm phán
và xác lập giao dịch với B để xây dựng nhà
ở thương mại, trong đó P và B thỏa thuận
ngân hàng G là bên bảo lãnh cho P. Nếu
P không thực hiện hoặc thực hiện không
đúng nghĩa vụ thì ngân hàng G sẽ thay P
thực hiện nghĩa vụ với B. Theo đó, ngân
hàng G phát hành bảo lãnh – trở thành
người bảo lãnh. B là người thụ hưởng –
bên được bảo lãnh. Trong hợp đồng bảo
lãnh sẽ nêu rõ các nội dung: các bên, hợp
đồng cơ bản, thời hạn bảo lãnh, số tiền
hoặc số tiền tối đa mà bên nhận bảo lãnh
được gọi bảo lãnh, các tài liệu kèm theo
khi gọi bảo lãnh. Khi B cho rằng P đã vi
* Thạcsĩ, TrườngĐạihọcKhoahọc-ĐạihọcTháiNguyên
1
ꢀWarisa Charoensuk (2016), “Problems of bank
guarantee under Thai law, Problems of Bank Guarantee
under Thai Law”.
92 Khoa học Kiểm sát
Số chuyên đề 03 - 2020
NGUYỄN HẢI NGÂN
bảo lãnh sẽ phát hành bảo lãnh và chính là hình thành theo sự thỏa thuận của bên bảo
người bảo lãnh cho bảo lãnh theo yêu cầu. lãnh và bên nhận bảo lãnh. Thứ ba, nghĩa vụ
Nói cách khác, bảo lãnh gián tiếp bên tham hoàn lại hình thành giữa bên được bảo lãnh
gia thường là bảo lãnh trong lĩnh vực tín với bên bảo lãnh khi bên bảo lãnh đã thực
dụng ngân hàng – bảo lãnh đối ứng.
hiện xong nghĩa vụ bảo lãnh theo quy định
của pháp luật. Nếu thiết lập bảo lãnh gián
tiếp, sẽ có thêm một quan hệ nghĩa vụ hình
thành, đó là quan hệ giữa bên bảo lãnh của
người nhận bảo lãnh với bên bảo lãnh của
bên có nghĩa vụ được bảo lãnh.
Mỗi mối quan hệ trong số các quan
hệ nghĩa vụ được thành lập bởi sự thỏa
thuận ý chí của các chủ thể và được tách
biệt với các cam kết khác. Cam kết của bên
bảo lãnh dành cho người thụ hưởng phát
sinh khi bên nhận bảo lãnh phát hành bảo
lãnh vào thời điểm mà bên được bảo lãnh
không thực hiện hoặc thực hiện không
đúng, không đầy đủ nghĩa vụ với bên nhận
bảo lãnh – người có quyền trong quan hệ
nghĩa vụ chính. Nghĩa vụ của bên bảo lãnh
có thể là trả tiền hoặc thực hiện một công
việc tùy thuộc vào nghĩa vụ được bảo lãnh
và sự thỏa thuận của các bên liên quan tới
Trong bảo lãnh gián tiếp, tồn tại thêm
một quan hệ nghĩa vụ là quan hệ giữa
ngân hàng của bên nhận bảo lãnh với ngân
hàng của bên được bảo lãnh – bên bảo lãnh
của người được bảo lãnh. Mối quan hệ này
hình thành trên cơ sở một hợp đồng bổ
sung. Cấu trúc của bảo lãnh gián tiếp được
mô tả như sau: Bên nhận bảo lãnh sắp xếp
cho ngân hàng của mình (ngân hàng IP) để
yêu cầu bảo lãnh. Ngân hàng G là bên bảo
lãnh cho người nhận bảo lãnh có quyền
phát hành bảo lãnh chống lại bảo lãnh đối
ứng từ ngân hàng IP. Ngân hàng IP không
bắt buộc phải tuân theo hướng dẫn của P,
trừ khi có thỏa thuận. IP có quyền yêu cầu
P phải bồi hoàn cho trách nhiệm pháp lý
mà IP thực hiện theo bảo lãnh đối ứng.
2. Mối quan hệ pháp lý được tạo ra bởi
một bảo lãnh
các điều khoản về việc thực hiện nghĩa vụ
Việc xác định đúng bản chất pháp lý
của bảo lãnh là cơ sở để xác định được cơ
cấu chủ thể trong quan hệ pháp luật về bảo
lãnh. Bảo lãnh là biện pháp bảo đảm có
tính đối nhân được hình thành bởi sự thỏa
thuận của các chủ thể - dấu hiệu cơ bản
của hợp đồng. Sự thỏa thuận của các bên
là điều kiện thiết lập quan hệ bảo lãnh. Xét
ở biểu hiện bên ngoài, bảo lãnh có ba bên
chủ thể: bên bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh
và bên được bảo lãnh và có sự liên hệ nhất
định giữa các chủ thể trong mối quan hệ
đó. Các quan hệ nghĩa vụ được hình thành
riêng biệt theo sự thỏa thuận của các bên.
2
1
bảo lãnh và thời hạn bảo lãnh . Người bảo
lãnh không phải là một bên của hợp đồng
cơ bản và không quan tâm đến nội dung
cũng như hiệu lực của hợp đồng cơ bản.
Mối quan hệ giữa bên nhận bảo lãnh với
bên được bảo lãnh trong quan hệ nghĩa vụ
được hình thành từ hợp đồng cơ bản tồn
tại độc lập với quan hệ nghĩa vụ bảo lãnh.
Mối quan hệ giữa người được bảo lãnh
và người bảo lãnh được hình thành theo quy
định của pháp luật. Người bảo lãnh phải
đảm bảo thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh với bên
nhận bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không
thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa
vụ. Nếu bên bảo lãnh không hoàn thành
nghĩa vụ bảo lãnh thì mất quyền hoàn trả
Thứ nhất, nghĩa vụ cơ bản được hình
thành theo sự thỏa thuận của bên nhận bảo
lãnh (bên có quyền) với bên được bảo lãnh
(bên có nghĩa vụ). Thứ hai, nghĩa vụ bảo lãnh 2 Warisa Charoensuk (2016), tlđd.
Số chuyên đề 03 - 2020
Khoa học Kiểm sát 93
CẤU TRÚC, CÁC MỐI QUAN HỆ PHÁP LÝ...
từ bên được bảo lãnh. Điều này không liên là quyền được bồi hoàn sau khi thực hiện
quan tới người nhận bảo lãnh, quyền được nghĩa vụ bảo lãnh, quyền thế quyền đối
hoàn trả phụ thuộc vào việc thực hiện nghĩa với quyền của bên nhận bảo lãnh và quyền
vụ bảo lãnh đúng cam kết.
Người được bảo lãnh cũng không quan
tâm đến mối quan hệ giữa người bảo lãnh
phân chia lợi nhuận có được từ bảo lãnh
với đồng bảo lãnh.
Quyền yêu cầu bồi hoàn đối với người được
và người nhận bảo lãnh. Về cơ bản, mối bảo lãnh: Một người bảo lãnh có thể yêu
quan hệ này tách biệt với người được bảo cầu con nợ chính phải bồi hoàn hoặc bồi
lãnh. Người được bảo lãnh có thể không
biết về hợp đồng bảo lãnh được thiết lập.
Tương tự, người nhận bảo lãnh cũng không
có lợi ích trong nghĩa vụ giữa người bảo
lãnh với người được bảo lãnh. Do đó, nếu
người được bảo lãnh không hoàn trả nghĩa
vụ bảo lãnh cho bên bảo lãnh thì quyền của
bên nhận bảo lãnh không bị ảnh hưởng.
thường. Cơ sở của bồi hoàn được áp dụng
bất cứ khi nào. Khi trả nợ gốc, người bảo
lãnh có quyền theo luật định để thực hiện
quyền yêu cầu bồi hoàn hoặc bồi thường
của mình. Người bảo lãnh có quyền truy
đòi con nợ về tiền gốc, tiền lãi hoặc tiền
bồi thường mà người này phải gánh chịu
vì lý do bảo lãnh. Khi đưa ra yêu cầu về
sự bảo đảm, bên bảo lãnh sẽ thận trọng
thỏa thuận với người được bảo lãnh về
các vấn đề như: sự chắc chắn sẽ được bồi
hoàn hoặc bồi thường, bên được bảo lãnh
có biện pháp bảo vệ nào hay không. Bên
bảo lãnh bị mất quyền yêu cầu nếu bên này
thực hiện bảo lãnh khi không có yêu cầu từ
bên nhận bảo lãnh, và nghĩa vụ của người
được bảo lãnh không còn do giao dịch vô
hiệu, bù trừ hoặc người được bảo lãnh đã
thực hiện nghĩa vụ. Quyền yêu cầu không
biến mất nếu giữa bên bảo lãnh nhận được
yêu cầu từ bên nhận bảo lãnh.
Trong trường hợp người bảo lãnh
đã thực hiện nghĩa vụ, đồng thời người
được bảo lãnh cũng thực hiện nghĩa vụ
với bên nhận bảo lãnh, cả hai chủ thể đều
không có thông báo với nhau về việc đã
thực hiện nghĩa vụ thì cần được hiểu là
người bảo lãnh mất quyền yêu cầu. Đối
với người được bảo lãnh không được
thông báo thì nghĩa vụ trả nợ vẫn tồn tại
Có thể nhận thấy, quan hệ giữa bên nhận
bảo lãnh và bên được bảo lãnh là quan hệ
nghĩa vụ được bảo đảm bằng biện pháp bảo
lãnh, được hình thành từ sự thỏa thuận của
các chủ thể hoặc theo quy định của pháp
luật. Theo đó, nếu bên được bảo lãnh không
thực hiện, thực hiện không đúng nghĩa vụ
thì bên bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa thay cho
bên được bảo lãnh. Quan hệ giữa bên bảo
lãnh và bên nhận bảo lãnh – quan hệ phát
sinh khi bên bảo lãnh đã thực hiện xong
nghĩa vụ với bên nhận bảo lãnh – một nghĩa
vụ hoàn lại phát sinh: bên được bảo lãnh
phải thực hiện nghĩa vụ trước bên bảo lãnh.
Về mặt pháp lý, quan hệ bảo lãnh chỉ là mối
quan hệ giữa hai bên chủ thể: bên bảo lãnh
và bên nhận bảo lãnh, mặc dù việc thiết lập
hợp đồng bảo lãnh là để trợ giúp cho chính
người được bảo lãnh. Bên được bảo lãnh
được hiểu là bên thụ hưởng lợi ích từ hợp
đồng bảo lãnh mà không phải bên đóng vai
trò tạo lập hợp đồng bảo lãnh.
và khi đã thực hiện nghĩa vụ này, không
ai có thể đòi nợ nữa .
3. Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể
tham gia quan hệ bảo lãnh
3
1
3
Quyền và nghĩa vụ của người bảo lãnh:
ꢀNguyễn Ngọc Điện (2001), Bình luận khoa học về
Các quyền chính của một người bảo lãnh đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trong luật dân sự Việt
94 Khoa học Kiểm sát
Số chuyên đề 03 - 2020
NGUYỄN HẢI NGÂN
Như vậy, để có quyền yêu cầu với bên nhanh chóng khác. Mọi tài liệu đưa ra với
được bảo lãnh, người bảo lãnh phải có bên nhận bảo lãnh đều trở thành chứng cứ
nghĩa vụ thông báo về việc đã thực hiện
nghĩa vụ bảo lãnh trước thời điểm người
này thực hiện nghĩa vụ của mình. Người
được bảo lãnh không có nghĩa vụ ngược
lại với bên bảo lãnh, vì đó không phải trách
nhiệm của người này và họ cũng có thể
hoàn toàn không biết về việc nghĩa vụ đã
được bảo lãnh. Đồng thời, khi tự nguyện
ràng buộc cam kết bảo lãnh, người bảo lãnh
cần có ý thức tìm hiểu xem người được bảo
lãnh đã thực hiện nghĩa vụ hay chưa.
Quyền thay thế và các quyền khác chống lại
người nhận bảo lãnh: Một người bảo lãnh đã
thực hiện nghĩa vụ với người có quyền, có
quyền thay thế tất cả các quyền của người
nhận bảo lãnh đối với nghĩa vụ của bên
được bảo lãnh. Điều này có ý nghĩa quan
trọng nhất, bên bảo lãnh có quyền với tất
cả các nghĩa vụ mà người nhận có được
từ người được bảo lãnh hoặc từ một đồng
bảo lãnh. Một sự bảo lãnh không được yêu
cầu có thể có quyền thay thế. Ngoài các thế
quyền, một người bảo lãnh còn có một số
quyềnnhấtđịnhcóthểđượcthựchiệnngay
cả trước khi thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh
như từ chối bảo lãnh khi người có nghĩa
vụ khiếu kiện chống lại bên có quyền. Nếu
không từ chối, người bảo lãnh có thể mất
quyền yêu cầu bồi hoàn từ người được bảo
lãnh. Khi người nhận bảo lãnh gọi bảo lãnh
quá hạn, người bảo lãnh cũng có quyền từ
chối thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.
chứng minh cho việc thực hiện nghĩa vụ
bảo lãnh. Đồng thời, để có thể thế quyền,
bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ trong
phạm vi bảo lãnh đã cam kết, giao tài sản
được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
theo thỏa thuận để xử lý khi không thực
hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ
nghĩa vụ bảo lãnh.
Quyền đồng bảo lãnh và chống lại các đồng
bảo lãnh: Một người bảo lãnh nếu đã trả
nhiều hơn hoặc toàn bộ nghĩa vụ bảo lãnh
trong đồng bảo lãnh có quyền yêu cầu các
đồng bảo lãnh bồi hoàn phần nghĩa vụ mà
mình đã thực hiện. Có thể trước khi thực
hiện nghĩa vụ, người bảo lãnh có quyền và
nghĩa vụ liên quan chặt chẽ với các đồng
bảo lãnh của mình. Các đồng bảo lãnh chia
sẻ trách nhiệm của họ theo những điều
khoản thỏa thuận trong bảo lãnh. Nếu
không tuân thủ quy định, nguyên tắc là
nếu mỗi người là một người bảo lãnh cho
những phần nghĩa vụ bằng nhau, họ sẽ
thực hiện nghĩa vụ như nhau, trong khi
nếu họ chịu trách nhiệm về những phần
nghĩa vụ khác nhau, mỗi người sẽ thực
4
1
hiện với phần bảo lãnh tương ứng .
Như vậy, các đồng bảo lãnh nên thực
hiện sự thỏa thuận chắc chắn trước khi thực
hiện nghĩa cho bên nhận bảo lãnh. Trong
trường hợp này, người nhận bảo lãnh được
yêu cầu một trong số những người bảo
lãnh thực hiện nghĩa vụ với anh ta. Người
bảo lãnh cũng có quyền yêu cầu bồi hoàn
từ những người đồng bảo lãnh sau khi
thực hiện toàn bộ nghĩa vụ bảo lãnh, hoặc
vượt phạm vi bảo lãnh của mình có nghĩa
vụ bồi hoàn với mình. Quyền này phát
Như vậy, người bảo lãnh cần có thời
gian hợp lý để kiểm tra yêu cầu bảo lãnh và
quyết định thực hiện hay từ chối bảo lãnh.
Nếu từ chối bảo lãnh, người bảo lãnh có
nghĩa vụ lập tức thông báo cho người nhận
bảo lãnh bằng các phương tiện điện tử,
hoặc nếu không thể thì bằng các biện pháp
4ꢀ Michelle Kelly – Louw (2008), “Selective Legal
Aspects of bank”- Lựa chọn pháp lý của ngân hàng,
đảm bảo nhu cầu.
Nam, Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh.
Số chuyên đề 03 - 2020
Khoa học Kiểm sát 95
CẤU TRÚC, CÁC MỐI QUAN HỆ PHÁP LÝ...
sinh cả khi những người bảo lãnh không bảo lãnh. Khi người nhận bảo lãnh có lỗi
vi phạm hợp đồng đối với bên có nghĩa
vụ và đó là căn cứ dẫn đến chấm dứt hợp
đồng thì chắc chắn nghĩa vụ bảo lãnh cũng
không còn tồn tại.
cùng một hợp đồng. Người bảo lãnh này
không biết về sự tồn tại của người bảo lãnh
kia. Yêu cầu duy nhất là họ phải cùng bảo
lãnh cho một khoản nợ.
Người bảo lãnh cũng sẽ không phải
thực hiện nghĩa vụ nếu hợp đồng giữa
bên có quyền và nghĩa vụ có sự thay đổi.
Khi nghĩa vụ chính thay đổi, bản chất của
những rủi ro được bảo lãnh cũng có thể
thay đổi.
Trường hợp một đồng bảo lãnh phá sản
còn tồn tại quan điểm khác nhau. Quan
điểm thứ nhất, nếu có ba người đồng bảo
lãnh, một người đã thực hiện toàn bộ nghĩa
vụ bảo lãnh, một người khác phá sản thì
người còn lại sẽ được yêu cầu cùng đóng
góp một phần ba số nợ. Quan điểm khác
cho rằng, phần nghĩa vụ chưa thực hiện
của người bảo lãnh bị phá sản sẽ thuộc về
người được bảo lãnh.
Theo chúng tôi, nếu ba đồng bảo lãnh
cũng thỏa thuận bảo đảm thực hiện nghĩa
vụ, nếu một người bị phá sản thì hai người
còn lại sẽ có trách nhiệm thực hiện toàn bộ
bảo lãnh. Nếu họ chỉ thỏa thuận thực hiện
nghĩa vụ theo phần thì trách nhiệm thuộc
về người được bảo lãnh. Các đồng bảo lãnh
có nghĩa vụ hoàn lại cho người bảo lãnh đã
thực hiện toàn bộ nghĩa vụ hoặc vượt quá
phần nghĩa vụ bảo lãnh của chính mình.
Nguyên tắc là họ cũng phải bảo lãnh cho
cùng một nghĩa vụ.
Như vậy, các nguyên tắc của luật hợp
đồng được áp dụng. Nếu có hành vi vi
phạm hoặc sự thay đổi trong hợp đồng
được bảo lãnh, nghĩa vụ của người bảo lãnh
được giải phóng. Người bảo lãnh có quyền
hoãn hoặc không thực hiện nghĩa vụ bảo
lãnh. Người bảo lãnh sẽ có thời gian hợp lý
để kiểm tra yêu cầu bảo lãnh và quyết định
thực hiện hay từ chối yêu cầu. Nếu người
bảo lãnh quyết định từ chối yêu cầu, anh
ta có nghĩa vụ thông báo cho người nhận
bảo lãnh bằng cách truyền tin điện tử hoặc
văn bản, nếu không thì có thể áp dụng các
biện pháp nhanh chóng khác. Các tài liệu
về việc từ chối sẽ là căn cứ minh chứng cho
người nhận bảo lãnh.
Quyền và nghĩa vụ của người nhận bảo
lãnh: Qua phân tích quy định của pháp
luật dân sự, nhận thấy người nhận bảo
lãnh có quyền rất quan trọng là quyền yêu
cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.
Tùy thuộc vào sự thỏa thuận, bên nhận bảo
lãnh có thể yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện
nghĩa vụ trước hoặc sau khi yêu cầu bên
được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ.
Nếu không có thỏa thuận, khi nghĩa vụ
đến hạn mà người được bảo lãnh không
thực hiện nghĩa vụ, người bảo lãnh có
quyền gọi bảo lãnh. Nếu có thỏa thuận thì
bên nhận bảo lãnh chỉ có thể gọi bảo lãnh
khi chứng minh được người được bảo lãnh
không có khả năng thực hiện nghĩa vụ mà
Quyền được hoãn thực hiện hoặc được giải
phóng khꢀi nghĩa vụ bảo lãnh: Người bảo lãnh
có quyền tạm hoãn thực hiện nghĩa vụ bảo
lãnh. Người bảo lãnh có quyền tạm hoãn
thực hiện nghĩa vụ khi có tranh chấp bảo
lãnh phát sinh giữa bên bảo lãnh và bên
nhận bảo lãnh hoặc trong trường hợp bên
nhận và bên được bảo lãnh bù trừ nghĩa
vụ với nhau, kết quả dẫn đến sự đình chỉ
5
1
nghĩa vụ bảo lãnh .
Nếu người nhận bảo lãnh giải phóng
bên được bảo lãnh khỏi nghĩa vụ ràng
buộc, điều này cũng có hiệu lực với người
5
ꢀKevin P.McGuinness (1996), “Luật về bảo đảm –
Law of guarantee”, NXB Carswell, Canada.
96 Khoa học Kiểm sát
Số chuyên đề 03 - 2020
NGUYỄN HẢI NGÂN
không chịu thực hiện. Như vậy, nghĩa vụ một bên chủ thể bắt buộc. Chủ thể này
chứng minh người được bảo có khả năng không nhất thiết phải biết về việc bảo
thực hiện chỉ đặt ra khi các bên có thỏa lãnh. Nếu người được bảo lãnh không
biết về mối quan hệ bảo lãnh thì người
được bảo lãnh không có quyền mà chỉ
có nghĩa vụ hoàn trả cho người bảo lãnh
sau khi người này thực hiện nghĩa vụ cho
người nhận bảo lãnh. Nếu người được
bảo lãnh yêu cầu người bảo lãnh đứng
ra bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ cho mình,
loại hình này thường hình thành trong
lĩnh vực thương mại. Khi đó, người bảo
lãnh có các quyền và nghĩa vụ như:
Quyền đề nghị một cá nhân, tổ chức có
đủ năng lực chủ thể, tài chính cam kết thực
hiện nghĩa vụ thay; quyền yêu cầu người
bảo lãnh thực hiện đúng cam kết và thỏa
thuận trong hợp đồng bảo lãnh, thực hiện
đầy đủ, đúng hạn; quyền khởi kiện bên bảo
lãnh, chuyển nhượng quyền và nghĩa vụ;
quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại; quyền
từ chối bồi hoàn nếu đã thực hiện nghĩa vụ
và bên bảo lãnh tự thực hiện nghĩa vụ mà
không có thông báo kịp thời.
thuận. Trường hợp người nhận bảo lãnh
lãnh không chứng minh được mà người
bảo lãnh chứng minh được người được
bảo lãnh có khả năng thực hiện nghĩa vụ
thì người này có quyền từ chối thực hiện
bảo lãnh.
Bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu
bên bảo lãnh cung cấp giấy tờ chứng
minh năng lực tài chính, uy tín và các
giấy tờ cần thiết khác; bên nhận bảo lãnh
cũng có quyền yêu cầu bên bảo lãnh đưa
tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của mình
hoặc của người thứ ba để bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ; quyền ưu tiên thanh toán
và truy đòi với tài sản được dùng để đảm
bảo thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh; quyền
yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện các biện
pháp vận động, thuyết phục bên được bảo
lãnh thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận
với bên nhận bảo lãnh.
Bên nhận bảo lãnh có nghĩa vụ thực
hiện đúng các cam kết bảo lãnh; thông báo
kịp thời, chính xác các quyền và nghĩa vụ
của bên được bảo lãnh với bên bảo lãnh;
thông báo về khả năng tài chính, sức khỏe,
thu nhập… của bên được bảo lãnh. Trường
hợp có thỏa thuận về việc thông báo khả
năng thực hiện nghĩa vụ của bên được bảo
lãnh mà bên nhận bảo lãnh cố tình che giấu
thì bên bảo lãnh có quyền từ chối thực hiện
nghĩa vụ, gọi bảo lãnh trong thời hạn bảo
lãnh. Nếu quá thời hạn mới gọi bảo lãnh
thì bên bảo lãnh được từ chối bảo lãnh;
nếu làm mất mát, hư hỏng giấy tờ, tài liệu
chứng minh khả năng tài chính, năng lực,
uy tín của bên bảo lãnh thì phải bồi thường
thiệt hại.
Đồng thời, bên được bảo lãnh có nghĩa
vụ khác như: cung cấp đầy đủ tài liệu,
thông tin cần thiết khi được bên bảo lãnh
yêu cầu; thực hiện đúng, đầy đủ, đúng hạn
nghĩa vụ đã cam kết; nghĩa vụ thanh toán
đầy đủ và trả thù lao bảo lãnh đúng hạn.
Quyền của bên được bảo lãnh thường
phụ thuộc vào mối quan hệ với bên bảo
lãnh. Khi muốn yêu cầu được bảo lãnh,
bên được bảo lãnh thường phải thỏa mãn
các điều kiện mà bên bảo lãnh đưa ra.
Như vậy, việc hiểu rõ cấu trúc và mối
quan hệ pháp lý giữa các bên trong quan hệ
bảo lãnh sẽ xác định được quyền và nghĩa
vụ của từng bên chủ thể. Việc xem xét tính
chất của quan hệ này góp phần xây dựng
Quyền và nghĩa vụ của người được bảo quy định pháp luật về vấn đề này, thúc đẩy
lãnh: Trong quan hệ bảo lãnh, người sự phát triển của các giao dịch dân sự và
được bảo lãnh không được xác định là thương mại./.
Số chuyên đề 03 - 2020
Khoa học Kiểm sát 97
Bạn đang xem tài liệu "Cấu trúc, các mối quan hệ pháp lý của các bên tham gia bảo lãnh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
cau_truc_cac_moi_quan_he_phap_ly_cua_cac_ben_tham_gia_bao_la.pdf

