Công chứng điện tử tại Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0

THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
CÔNG CHỨNG ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM  
TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0  
Phan Thị Bình Thuận  
ThS.-Đại-biểu-Quốc-hội-Khóa-XIV,-Đoàn-đại-biểu-Quốc-hội-Tp.-Hồ-Chí-Minh  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Từ khóa: Công chứng điện tử,  
công chứng viên, cách mạng công  
nghiệp 4.0.  
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang bùng nổ và tác động đến hầu hết  
các quốc gia trên thế giới. Theo đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin  
vào các lĩnh vực của đời sống xã hội đang trở thành một xu thế tất yếu  
và mang tính toàn cầu với mục tiêu tiện lợi, nhanh chóng, giảm thời gian,  
chi phí, nhân lực, việc đi lại và giảm giao dịch trực tiếp… Hoạt động  
công chứng cũng không nằm ngoài xu thế này. Công chứng đã và đang  
từng bước ứng dụng công nghệ thông tin ngày càng mạnh mẽ trong hoạt  
động của mình, trong đó phải kể đến công chứng điện tử.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 27/9/2020  
: 12/10/2020  
: 18/10/2020  
Article Infomation:  
Key words:  
notarization, notary, industrial  
revolution 4.0.  
Abstract:  
Electronic  
The developments and effects of the Industrial revolution 4.0 are  
spreading to most countries in the world. Accordingly, the application  
of information technology in all fields of social life is becoming an  
inevitable and global trendline with the aim of convenience, promptness,  
savings of time, costs, manpower, traveling, and direct transaction.  
Notarization services are not out of this trendline. The information  
technology has been gradually applying notarization services, including  
electronic notarization.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 27 Sep. 2020  
: 12 Oct. 2020  
: 18 Oct. 2020  
Approved  
1. Công chứng điện tử và thực hiện công  
chứng điện tử tại một số nước trên thế giới  
Công chứng điện tử (CCĐT) là việc  
công chứng viên chứng nhận tài liệu bằng  
phương thức điện tử. Một trong những  
phương thức thực hiện CCĐT là sử dụng  
chữ ký số và con dấu số để chứng nhận và  
xác nhận tính hợp lệ bằng việc chứng nhận  
số. CCĐT là một quy trình trong đó công  
chứng viên (CCV) gắn chữ ký điện tử và con  
dấu công chứng có sử dụng khóa bảo đảm  
vào tài liệu điện tử (tập tin PDF hoặc Word).  
CCĐT đã được thực hiện tại nhiều nơi  
trên thế giới. Ví dụ tại Trung Quốc, việc ứng  
dụng công nghệ thông tin trong hoạt động  
công chứng đã bắt đầu từ năm 2000 với  
nhiều phần mềm phục vụ công chứng khác  
nhau do các tổ chức hành nghề công chứng  
tự xây dựng. Sau đó, Hội CCV Trung Quốc  
đã hợp nhất vào trong một hệ thống quản lý  
chung. Tính đến cuối tháng 8 năm 2018, đã  
có 2.961 tổ chức hành nghề công chứng và  
13.385 CCV sử dụng hệ thống này1. Việc  
1 Báo cáo “Xây dựng thông tin của công nghệ công chứng Trung Quốc” của Hiệp hội công chúng Trung Quốc  
tại Hội nghị toàn thể lần thứ 8 Ủy ban các vấn đề Châu án của Liên minh công chứng quốc tế tổ chức tại  
Tây An, Thiểm Tây, Trung Quốc, tháng 9 năm 2018 tr.19.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
41  
Số 20 (420) - T10/2020  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
xây dựng và sử dụng phần mềm công chứng  
đã hỗ trợ nhiều mặt cho hoạt động công  
chứng như: chuẩn hóa các dịch vụ công  
chứng, cải thiện khả năng cung ứng dịch vụ,  
tập hợp dữ liệu thực hiện công chứng, nộp  
hồ sơ qua mạng (khách hàng chỉ đến tổ chức  
hành nghề công chứng 01 lần), chia sẻ thông  
tin về giao dịch công chứng giữa các CCV  
để giảm việc xác minh, quản lý hành nghề  
công chứng, chia sẻ với CCV các thông tin  
có liên quan khác như di chúc, sở hữu trí tuệ.  
Trung Quốc sẽ khai thác và thực hiện dịch  
vụ công chứng trực tuyến, các hệ thống công  
chứng từ xa, lưu giữ chứng cứ điện tử trực  
tuyến trong thời gian tới, cùng với đó là  
nghiên cứu và xây dựng quy định về công  
chứng phù hợp với các quy định về giao dịch  
trực tuyến2.  
Tại Nhật Bản, công chứng trực tuyến  
được bắt đầu từ năm 2000 đối với các tài liệu  
cá nhân, đến năm 2002 phạm vi CCĐT được  
mở rộng đối với việc công chứng điều lệ của  
công ty. Tuy nhiên, pháp luật vẫn quy định  
người yêu cầu công chứng (hoặc đại diện)  
phải trực tiếp gặp CCV. Hiện nay, Hiệp hội  
công chứng quốc gia Nhật Bản có kế hoạch  
triển khai CCĐT qua các phương tiện điện  
tử (điện thoại thông minh, hội nghị trực  
tuyến...) nhằm đáp ứng yêu cầu “chứng nhận  
trước mặt CCV” trong môi trường số3.  
do Hàn Quốc không có quy định cho phép  
nhận yêu cầu công chứng thông qua hình  
ảnh nên ngay cả khi sử dụng hệ thống  
CCĐT, người yêu cầu công chứng vẫn phải  
đến tổ chức hành nghề công chứng ít nhất 01  
lần để gặp trực tiếp CCV. Từ ngày  
20/6/2018, luật pháp Hàn Quốc mới cho  
phép người yêu cầu công chứng gặp CCV  
thông qua hội nghị trực tuyến (video-  
conference) và nhận văn bản công chứng  
trực tuyến, thay vì phải trực tiếp đến tổ chức  
hành nghề công chứng. Tuy nhiên, không  
phải tất các CCV đang hành nghề đều có thể  
thực hiện quy trình này mà chỉ có một số  
CCV được cấp phép mới được thực hiện nên  
Bộ Tư pháp Hàn Quốc phải giải quyết một  
số vấn đề về kỹ thuật để có thể kiểm tra và  
xác nhận người dùng (CCV) và phải có sự  
phối hợp chặt chẽ với Bộ Nội vụ (cơ quan  
cấp thẻ hành nghề công chứng)4.  
Tại Pháp, CCĐT bắt đầu triển khai từ  
năm 2008. Để thực hiện CCĐT, Pháp đã  
sửa đổi, bổ sung nhiều quy định có liên  
quan, trong đó có Bộ luật Dân sự (sửa năm  
2000) và ban hành quy định về chữ ký điện  
tử, CCĐT. Văn bản CCĐT có giá trị như  
văn bản công chứng giấy. Toàn bộ các văn  
bản CCĐT đều được lưu trữ tại Trung tâm  
MICEN đặt dưới sự giám sát của Hội đồng  
công chứng tối cao Pháp. CCĐT tại Pháp  
được đánh giá là một sự chuyển biến lớn  
về phương pháp và môi trường thực hiện  
công chứng, giúp việc công chứng nhanh,  
hiệu quả hơn, văn bản công chứng lưu trữ  
lâu dài hơn5.  
Hệ thống CCĐT được áp dụng tại Hàn  
Quốc từ năm 2010, cho phép xác nhận người  
dùng (CCV) thông qua máy tính hoặc điện  
thoại thông minh. Hệ thống này hữu ích khi  
người yêu cầu công chứng sinh sống ở nơi  
không có CCV hoặc ngoài Hàn Quốc và  
giúp giảm bớt chi phí. Tuy nhiên, trước đây  
Qua một số mô hình CCĐT tại một số  
quốc gia trên thế giới, có thể thấy cách tiếp  
2 Báo cáo “Xây dựng thông tin của công nghệ công chứng Trung Quốc”, tlđd.  
3 Báo cáo “Xây dựng thông tin cho hoạt động công chứng” của Hiệp hội công chứng quốc gia Nhật Bản tại  
Hội nghị toàn thể lần thứ 8, Ủy ban các vấn đề châu Á của Liên minh công chứng quốc tế tổ chức tại Tây  
An, Thiểm Tây, Trung Quốc, tháng 9 năm 2018, tr.30-34.  
4 Báo cáo “Giới thiệu về sự phát triển hoạt động công chứng” của Hiệp hội công chứng viên Hàn Quốc tại  
Hội nghị toàn thể lần thứ 8, Ủy ban các vấn đề châu á của Liên minh công chứng quốc tế tổ chức tại Tây  
An, Thiểm Tây, Trung Quốc, tháng 9 năm 2018, tr.60-64.  
5 Tài liệu Tọa đàm Kinh nghiệm số hóa công chứng Pháp- Thực trạng và triển vọng phát triển ở Việt Nam,  
tháng 7 năm 2018, Bộ Tư pháp Việt Nam- Hội đồng công chứng tối cao Cộng hòa Pháp, tr.7.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
42  
Số 20 (420) - T10/2020  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
cận CCĐT ở các quốc gia khá khác nhau. Có  
những nước sử dụng công cụ điện tử cho  
toàn bộ quy trình công chứng từ khâu tiếp  
nhận hồ sơ, xử lý hồ sơ đến việc CCV chứng  
nhận văn bản công chứng thông qua chữ ký  
số/chữ ký điện tử và đóng dấu số; có những  
nước chỉ sử dụng trong một công đoạn của  
quy trình công chứng. Mặc dù cách tiếp cận  
CCĐT ở các quốc gia có sự khác nhau,  
nhưng xu thế chung là dần dần các bước của  
quy trình công chứng sẽ được thực hiện trực  
tuyến thông qua công cụ điện tử.  
mềm trong hoạt động công chứng được sử  
dụng (như phần mềm quản lý hồ sơ công  
chứng, phần mềm Uchi...).  
Tuy nhiên, so sánh các phần mềm hiện  
đang sử dụng trong hoạt động công chứng tại  
Việt Nam với mô hình công chứng điện tử tại  
một số nước nêu trên cho thấy, việc ứng dụng  
công nghệ thông tin vào hoạt động công  
chứng ở Việt Nam vào thời điểm hiện nay  
chưa hoàn toàn là CCĐT, vì các lý do sau:  
Thứ nhất, tuy hầu hết phần mềm dùng  
trong hoạt động công chứng hiện nay đều  
cho phép tạo lập văn bản công chứng trực  
tiếp và lưu trữ trong cơ sở dữ liệu của phần  
mềm đó (không phải số hóa văn bản giấy).  
Tuy nhiên, CCV không sử dụng chữ ký điện  
tử, con dấu điện tử để ký văn bản.  
Thứ hai, việc công chứng hiện nay vẫn  
thực hiện theo cách truyền thống, cụ thể là  
CCV tiếp nhận và xử lý hồ sơ giấy, ký và  
đóng dấu trên văn bản công chứng giấy;  
chưa có giai đoạn nào của quy trình công  
chứng được chính thức thực hiện trực tuyến.  
Việc sử dụng phần mềm, nhập thông tin  
trong các phần mềm hiện nay được xem như  
một quy trình phụ, song song và hỗ trợ cho  
quy trình công chứng truyền thống, chủ yếu  
phục vụ cho việc tra cứu/chia sẻ thông tin,  
lưu trữ dữ liệu, soạn thảo văn bản và thống  
kê số liệu.  
Để cải cách thủ tục, một số tổ chức hành  
nghề công chứng có tiếp nhận một số yêu  
cầu liên quan đến hoạt động công chứng,  
chứng thực qua công cụ điện tử (ví dụ Phòng  
Công chứng số 4 Tp. Hồ Chí Minh tổ chức  
tiếp nhận yêu cầu cấp bản sao văn bản công  
chứng qua thư điện tử). Tuy nhiên, mức độ  
còn đơn giản, mang tính chất hỗ trợ cho hoạt  
động công chứng chứ chưa thay thế hoặc  
giảm bớt các bước của quy trình công chứng  
truyền thống.  
b. Một số trở ngại cho việc thực hiện  
công chứng điện tử tại Việt Nam hiện nay  
Thứ nhất, chưa có hành lang pháp lý cho  
việc thực hiện và công nhận công chứng  
điện tử.  
2. Công chứng điện tử tại Việt Nam  
a. Ứng dụng công nghệ thông tin  
trong hoạt động công chứng tại Việt Nam  
Trước năm 2004, Việt Nam chưa thực  
hiện thống nhất việc ứng dụng công nghệ  
thông tin vào hoạt động công chứng, một số  
Phòng công chứng tự xây dựng các phần  
mềm để quản lý hoạt động công chứng trong  
nội bộ đơn vị.  
Năm 2004, thực hiện thỏa thuận giữa  
Chính phủ nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa  
Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Pháp,  
và theo Dự án Tin học hoá công chứng của  
Bộ Tư pháp, Bộ Tư pháp triển khai sử dụng  
phần mềm Master trong hoạt động công  
chứng đến các Phòng công chứng. Tuy nhiên,  
việc triển khai cũng chưa thật sự đồng bộ giữa  
các địa phương. Năm 2007, thỏa thuận này  
chấm dứt. Từ đó, các địa phương và các tổ  
chức hành nghề công chứng chủ động trong  
việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt  
động của mình tùy theo nhu cầu và điều kiện.  
Một số địa phương có nhu cầu công chứng  
cao tự xây dựng các phần mềm dùng chung  
trong hoạt động công chứng tại địa phương  
mình (như Thành phố Hồ Chí Minh...).  
Luật Công chứng năm 2014 (Luật Công  
chứng) quy định việc xây dựng cơ sở dữ liệu  
công chứng tại các tỉnh, thành phố trực thuộc  
Trung ương. Đây được xem là đòn bẩy và cơ  
sở quan trọng cho việc đẩy mạnh ứng dụng  
công nghệ thông tin trong hoạt động công  
chứng. Các địa phương đều có kế hoạch xây  
dựng cơ sở dữ liệu công chứng, nhiều phần  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
43  
Số 20 (420) - T10/2020  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
Cho đến nay, pháp luật về công chứng  
của Việt Nam chưa quy định về CCĐT hay  
công nhận giá trị của văn bản CCĐT, thể  
hiện ở các điểm sau:  
của hợp đồng, giao dịch.  
- Khoản 1 Điều 5 Luật Công chứng quy  
định giá trị văn bản công chứng như sau: văn  
bản công chứng có hiệu lực kể từ ngày được  
công chứng viên ký và đóng dấu của tổ chức  
hành nghề công chứng.  
Các quy định trên cho thấy, hiện nay  
công chứng tại Việt nam là công chứng văn  
bản giấy chứ chưa phải là công chứng trên  
văn bản điện tử bằng công cụ điện tử.  
- Khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng định  
nghĩa, công chứng là việc CCV của một tổ  
chức hành nghề công chứng chứng nhận tính  
xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch  
dân sự khác bằng văn bản, tính chính xác,  
hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản  
dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng  
nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang  
tiếng Việt mà theo quy định của pháp luật  
phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự  
nguyện yêu cầu công chứng.  
- Luật Công chứng quy định hồ sơ yêu  
cầu công chứng gồm: Phiếu yêu cầu công  
chứng; Dự thảo hợp đồng, giao dịch; Bản  
sao giấy tờ tùy thân của người yêu cầu công  
chứng; Bản sao giấy chứng nhận quyền sở  
hữu, quyền sử dụng hoặc bản sao giấy tờ  
thay thế được pháp luật quy định đối với tài  
sản mà pháp luật quy định phải đăng ký  
quyền sở hữu, quyền sử dụng trong trường  
hợp hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài  
sản đó; Bản sao giấy tờ khác có liên quan  
đến hợp đồng, giao dịch mà pháp luật quy  
định phải có (bản sao được quy định là bản  
chụp, bản in hoặc bản đánh máy có nội dung  
đầy đủ, chính xác như bản chính và không  
phải chứng thực).  
Bên cạnh đó, hiện nay, theo quy định  
của Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015 về  
hình thức giao dịch dân sự, “giao dịch dân  
sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản  
hoặc bằng hành vi cụ thể; giao dịch dân sự  
thông qua phương tiện điện tử dưới hình  
thức thông điệp dữ liệu theo quy định của  
pháp luật về giao dịch điện tử được coi là  
giao dịch bằng văn bản”. Luật Giao dịch  
điện tử năm 2005 và các văn bản hướng dẫn  
thi hành quy định: trường hợp pháp luật yêu  
cầu thông tin phải được thể hiện bằng văn  
bản thì thông điệp dữ liệu được xem là đáp  
ứng yêu cầu này nếu thông tin chứa trong  
thông điệp dữ liệu đó có thể truy cập và sử  
dụng được để tham chiếu khi cần thiết6, và  
trong trường hợp pháp luật quy định văn bản  
cần có chữ ký thì yêu cầu đó đối với một  
thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng nếu  
chữ ký điện tử được sử dụng để ký thông  
điệp dữ liệu đó đáp ứng các điều kiện theo  
quy định, trong trường hợp pháp luật quy  
định văn bản cần được đóng dấu của cơ  
quan, tổ chức thì yêu cầu đó đối với một  
thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng nếu  
thông điệp dữ liệu đó được ký bởi chữ ký  
điện tử của cơ quan, tổ chức đáp ứng các  
điều kiện theo quy định và chữ ký điện tử đó  
có chứng thực7. Như vậy, với các quy định  
của Bộ luật Dân sự và pháp luật về giao dịch  
điện tử, có thể thực hiện việc ký và đóng dấu  
- Điều 40 Luật Công chứng quy định  
trình tự, thủ tục công chứng như sau: CCV  
kiểm tra giấy tờ trong hồ sơ yêu cầu công  
chứng; Người yêu cầu công chứng đồng ý  
toàn bộ nội dung trong dự thảo hợp đồng,  
giao dịch thì ký vào từng trang của hợp  
đồng, giao dịch. CCV yêu cầu người yêu cầu  
công chứng xuất trình bản chính của các  
giấy tờ quy định nêu trên này để đối chiếu  
trước khi ghi lời chứng, ký vào từng trang  
6 Điều 12 Luật Giao dịch điện tử năm 2005.  
7 Điều 24 Luật Giao dịch điện tử năm 2005, Điều 8 Nghị định số 130/2018/NĐ-CP, ngày 27 tháng 9 năm  
2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực  
chữ ký số.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
44  
Số 20 (420) - T10/2020  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
điện tử trên văn bản công chứng mà vẫn đáp  
ứng các quy định của Luật Công chứng.  
Tuy nhiên, ngay cả khi áp dụng các quy  
định của Bộ luật Dân sự và pháp luật về giao  
dịch điện tử thì hành lang pháp lý cho việc  
thực hiện công chứng điện tử vẫn còn là vấn  
đề nhiều tranh luận và cần làm rõ. Luật Giao  
dịch điện tử không áp dụng đối với việc cấp  
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền  
sở hữu nhà và các bất động sản khác, văn  
bản về thừa kế8, căn cước công dân vẫn được  
cấp dưới hình thức “thẻ” vật lý9... nên người  
yêu cầu công chứng vẫn phải nộp hồ sơ công  
chứng bản giấy, CCV vẫn phải thụ lý và xử  
lý yêu cầu công chứng theo hồ sơ giấy.  
Do sản phẩm của công chứng điện tử là  
văn bản công chứng dưới dạng dữ liệu điện  
tử, trong khi chưa có quy định minh thị giá  
trị pháp lý của văn bản công chứng điện tử  
nên việc tiếp nhận và sử dụng văn bản  
CCĐT trong các thủ tục mà văn bản công  
chứng là “hồ sơ đầu vào”, như thủ tục đăng  
ký biến động đất đai, nhà ở, đóng thuế... là  
không thể thực hiện được. Ví dụ, tại Tp. Hồ  
Chí Minh, cho đến nay, các dịch vụ công  
trực tuyến liên quan đến đăng ký biến động  
đất đai, nhà ở đều chưa thực hiện việc nộp  
hồ sơ trực tuyến (mức độ 3, 4)10. Nếu chỉ  
triển khai CCĐT trong nội bộ ngành công  
chứng thì không phát huy được tác dụng, mà  
còn gây khó khăn cho người dân khi cần  
thực hiện các thủ tục tiếp theo.  
tài sản và các thông tin về biện pháp ngăn  
chặn được áp dụng đối với tài sản có liên  
quan đến hợp đồng, giao dịch đã được công  
chứng. Quy định trên hàm chứa nội dung  
điều chỉnh đối với “dữ liệu” (thông tin)  
nhiều hơn là quy trình.  
Do vậy, khi xây dựng cơ sở dữ liệu công  
chứng tại địa phương, Sở Tư pháp và Ủy ban  
nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc  
Trung ương cũng tập trung nhiều hơn vào  
việc tạo lập cơ chế lưu trữ và chia sẻ dữ liệu,  
ít quan tâm đến việc xây dựng quy trình điện  
tử thay thế cho quy trình công chứng truyền  
thống (ngoài ra còn do pháp luật không quy  
định về công chứng điện tử, như đã nêu ở  
phần trên). Định hướng này làm cho các  
phần mềm dùng trong hoạt động công chứng  
chủ yếu mang tính chất hỗ trợ cho hoạt động  
công chứng, vận hành bên cạnh quy trình  
công chứng truyền thống và quy trình công  
chứng truyền thống mới là chính và có hiệu  
lực thi hành.  
Bên cạnh đó, tuy Điều 62 Luật Công  
chứng quy định cơ sở dữ liệu công chứng  
bao gồm 3 nhóm thông tin chính, trong đó  
có thông tin về nguồn gốc tài sản, nhưng  
trong thực tế, để xây dựng một cơ sở dữ liệu  
công chứng với đầy đủ các thông tin như quy  
định của Luật Công chứng hiện đang gặp  
nhiều khó khăn.  
Thứ ba, mức độ ứng dụng công nghệ  
thông tin trong hoạt động công chứng tại các  
địa phương chưa đồng đều.  
Hai điều kiện quan trọng để thực hiện  
công chứng điện tử là độ phủ sóng của  
Internet và nền tảng (phần mềm), trong đó  
Internet là điều kiện tiên quyết.  
Thứ hai, việc xây dựng cơ sở dữ liệu  
công chứng hiện nay chưa thật sự phục vụ  
cho thực hiện công chứng điện tử.  
Điều 62 Luật Công chứng quy định cơ  
sở dữ liệu công chứng bao gồm các thông tin  
về nguồn gốc tài sản, tình trạng giao dịch của  
Theo một bản báo cáo xếp hạng mức độ  
8
Điều 1 Luật Giao dịch điện tử năm 2005.  
9 Luật Căn cước công dân năm 2014, Thông tư số 61/2015/TT-BCA, ngày 16 tháng 11 năm 2015 của Bộ  
Công an quy định về mẫu thẻ căn cước công dân và Thông tư số 33/2018/TT-BCA, ngày 10 tháng 10 năm  
2018 sửa đổi một số điều của Thông tư số 61/2015/TT-BCA.  
secrd=zxaku0SS0y0SmxJwQcmtEw3JlhIFIdwPXEjuYt+uNiVyr0XYauqrx6U8qaZRYb+dxWSXGJpKK  
UrIlNA8i3ipDRBgvkvlrcadXPgXt+fXBWDMBzi1sFW1jABzQ6ua6/W7apXLh5EwrVQ=.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
45  
Số 20 (420) - T10/2020  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
phát triển Internet của 75 quốc gia trên thế  
giới được công bố trên tạp chí Economist  
năm 2017, Việt Nam đứng ở vị trí thứ 40/75  
về chất lượng của hạ tầng mạng lưới Internet  
và mức độ sử dụng Internet, và ở vị trí thứ  
42/75 về khả năng truy cập Internet, bao  
gồm: kỹ năng của người dân, văn hóa và các  
chính sách của cơ quan quản lý, do có hạn  
chế về sự hiểu biết về kỹ thuật số cũng như  
kỹ năng truy cập Internet11. Trong khi đó,  
theo dữ liệu nhận được từ M-Lab, một tổ  
chức nghiên cứu được thành lập dựa trên sự  
hợp tác giữa Google, đại học Princeton và  
Viện khoa học công nghệ mở thì tốc độ truy  
cập Internet của Việt Nam năm 2018 tụt một  
bậc so với năm 2017, bằng tốc độ trung bình  
của thế giới12. Theo số liệu thống kê của  
World Internet Users vào tháng 1 năm 2020  
thì chỉ có 70,4% dân số Việt Nam sử dụng  
Internet13.  
Các đánh giá trên phản ánh thực trạng  
của Việt Nam là, dù tỷ lệ người dân sử dụng  
Internet tại các khu vực thành thị của Việt  
Nam hiện khá cao, song vẫn còn một lượng  
lớn người dân ở các khu vực nông thôn,  
vùng sâu, vùng xa đang thiếu hạ tầng,  
phương tiện và kỹ năng sử dụng Internet.  
Như vậy, việc triển khai công chứng  
điện tử sẽ gặp khó khăn ở các khu vực không  
phải là đô thị, trong khi đó, Luật Công chứng  
quy định, CCV chỉ được công chứng hợp  
đồng, giao dịch về bất động sản trong phạm  
vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi  
tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở, tức  
là người yêu cầu công chứng không thể yêu  
cầu CCV hành nghề tại địa phương khác  
công chứng hợp đồng, giao dịch về bất động  
sản tại địa phương mình.  
chứng tại các địa phương đã có Internet cũng  
chưa đều khắp, nhiều nơi chưa có phần  
mềm. Chức năng các phần mềm cũng khác  
nhau, một số phần mềm cho phép xử lý hồ  
sơ trực tiếp, cùng lúc với việc công chứng  
hồ sơ giấy, một số phần mềm chỉ sử dụng để  
nhập thông tin sau khi đã công chứng xong...  
Thứ tư, tâm lý e ngại khi thực hiện  
chuyển đổi số trong hoạt động công chứng.  
Việc chuyển đổi từ công chứng truyền  
thống sang CCĐT không chỉ đơn thuần là  
việc gán chữ ký và con dấu điện tử vào một  
văn bản công chứng hay là vấn đề tiết kiệm  
văn phòng phẩm cho tổ chức hành nghề công  
chứng. Đây là một cuộc cách mạng làm thay  
đổi toàn bộ cách thức thực hiện việc công  
chứng cũng như hình thức của văn bản công  
chứng, kéo theo đó là sự thay đổi của các thủ  
tục, quy trình có liên quan khác (như đăng ký  
quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, đóng  
thuế...). Khi thực hiện công chứng điện tử,  
không chỉ thay đổi về quy định của pháp luật  
có liên quan và quy trình công chứng mà  
người thực hiện công chứng (tổ chức hành  
nghề công chứng, CCV, thư ký ...) và người  
yêu cầu công chứng cũng phải có những thay  
đổi lớn về cách tiếp cận, kỹ năng thực hiện  
công chứng cũng như tiếp nhận sản phẩm  
đầu ra của hoạt động công chứng. Kinh  
nghiệm từ những cải cách hoạt động công  
chứng như chuyển đổi sang bắt buộc sử dụng  
phần mềm... cho thấy, thay đổi này luôn gây  
ra tâm lý dè chừng, lưỡng lự, không sẵn sáng  
chấp nhận và sử dụng cái mới. Đây là một trở  
ngại lớn trong quá trình triển khai CCĐT, đặc  
biệt trong giai đoạn đầu, và cần sự quyết tâm  
các cơ quan, tổ chức có liên quan, đặc biệt là  
các cơ quan quản lý nhà nước như Bộ Tư  
pháp và Sở Tư pháp địa phương.  
Bên cạnh đó, độ phủ sóng các phần  
mềm dùng trong hoạt động hoạt động công  
Bên cạnh đó, tình trạng giấy tờ giả hiện  
559359/.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
46  
Số 20 (420) - T10/2020  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
nay trong hoạt động công chứng đang trở  
thành vấn nạn, đặc biệt là giả giấy tờ chứng  
nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản.  
CCV chủ yếu sử dụng kỹ năng và kiến thức  
để nhận diện giấy tờ giả khi thụ lý hồ sơ  
công chứng. Nói cách khác, CCV phải tiếp  
xúc trực tiếp với giấy tờ bản giấy, sử dụng  
các giác quan để tìm kiếm các dấu hiệu bảo  
mật hoặc dấu vết giả mạo. Nếu thực hiện  
CCĐT mà không có thông tin về chủ sở hữu  
thật, về nguồn gốc tài sản từ phía cơ quan  
quản lý đất đai thì nguy cơ bị giả mạo là rất  
cao, làm ảnh hưởng đến hoạt động nghề  
nghiệp của CCV cũng như tính an toàn của  
giao dịch. Tương tự, tình trạng giả mạo người  
yêu cầu công chứng cũng đang ngày càng  
tăng, trong khi cơ sở dữ liệu công chứng  
chưa thể kết nối với dữ liệu dân cư nên CCV  
vẫn phải dựa vào việc kiểm tra giấy tờ nhân  
thân bản giấy để xác định tính thật, giả của  
giấy tờ. Đây là một nguyên nhân rất lớn gây  
tâm lý dè dặt khi triển khai CCĐT.  
Ngoài ra, theo quy định của Luật Công  
chứng, Văn phòng công chứng là doanh  
nghiệp, nên luôn có sự cân đối về chi phí và  
lợi nhuận. Trong khi đó, chi phí cho việc  
triển khai CCĐT dự kiến sẽ cao. Ở các đô  
thị, nơi có nhiều giao dịch, doanh thu từ hoạt  
động công chứng có thể bù đắp cho chi phí  
đầu tư, Văn phòng công chứng có thể sẵn  
sàng đầu tư để nâng cao chất lượng hoạt  
động của mình. Tuy nhiên, tại các vùng có  
số lượng hợp đồng, giao dịch không cao, chi  
phí cho trang thiết bị, đường truyền... để  
thực hiện CCĐTsẽ là một trở ngại ảnh hưởng  
đến quyết tâm áp dụng công chứng điện tử  
của tổ chức hành nghề công chứng.  
công sức đi lại... Đối với cơ quan quản lý  
nhà nước về hoạt động công chứng và tổ  
chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng  
viên thì CCĐT là một công cụ hữu hiệu  
trong việc quản lý hoạt động công chứng,  
thông qua việc kiểm tra, kiểm soát các bước  
công chứng trong phần mềm. Để thực hiện  
công chứng điện tử tại Việt Nam, chúng tôi  
kiến nghị một số giải pháp sau:  
Một là, xây dựng hành lang pháp lý cho  
CCĐT:  
Hành lang pháp lý cho CCĐT không  
nên và không thể chỉ dừng lại ờ Luật Công  
chứng (chủ yếu quy định về hình thức và  
trình tự, thủ tục thực hiện công chứng), mà  
cần có sự thay đổi cơ bản về giá trị và cách  
sử dụng văn bản công chứng điện tử với các  
thủ tục khác mà văn bản công chứng là một  
thành phần “đầu vào” (như thủ tục đăng ký  
quyền sở hữu, sử dụng tài sản sau khi  
chuyển nhượng, thủ tục nộp thuế...). Để thực  
hiện được điều này, tất yếu là quy định về  
các thủ tục hành chính và thủ tục (không  
phải hành chính) của tổ chức có liên quan  
(tổ chức tín dụng..) cũng cần thay đổi, cho  
phép nhận và xử lý hồ sơ điện tử. Điều này  
dẫn đến một thay đổi lớn trong toàn bộ hệ  
thống pháp luật Việt Nam, đặc biệt là các  
quy định về đất đai, dân sự, nhà ở, thương  
mại, doanh nghiệp, thuế.  
Ngày 08/4/2020, Chính phủ đã ban hành  
Nghị định số 45/2020/NĐ-CP về về thực  
hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện  
tử, trong đó có quy định về yêu cầu chứng  
thực bản sao điện tử từ bản chính giấy tờ, tài  
liệu (chứng thực bản sao từ bàn chính là một  
trong các chức năng của CCV). Đây là một  
quy định mới, hết sức phù hợp của Chính  
phủ trong tiến trình xây dựng Chính phủ  
điện tử và cung cấp dịch vụ công trực tuyến.  
Tuy nhiên chứng thực từ bản chính chỉ là  
một thủ tục trong rất nhiều thủ tục thuộc  
thẩm quyền CCV. Một sự thay đổi lớn hơn  
trong hệ thống pháp luật là hết sức cần thiết  
để Việt Nam xây dựng được thể chế cho  
CCĐT.  
3. Kiến nghị  
Như đã phân tích trên đây, CCĐT là một  
xu thế chung trong hoạt động công chứng  
trên toàn thế giới và Việt Nam cũng không  
nằm ngoài xu thế đó. Hơn thế nữa, nhu cầu  
CCĐT tại Việt Nam là một nhu cầu có thật,  
đặc biệt với người yêu cầu công chứng ở  
nước ngoài, thường xuyên di chuyển hoặc  
muốn giảm chi phí về thời gian, chi phí và  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
47  
Số 20 (420) - T10/2020  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
Hai là, xây dựng nền tảng kỹ thuật cho  
CCĐT:  
thống nhất cho cả nước là rất khó khả thi.  
Do đó, cần có cơ chế khuyến khích để trước  
mắt các địa phương có điều kiện tốt hơn  
(như Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh...) có thể  
triển khai CCĐT, ít nhất là đối với các giao  
dịch về bất động sản - là những giao dịch  
được công chứng theo thẩm quyền địa hạt-  
tại từng địa phương, từ đó rút kinh nghiệm  
và nhân rộng mô hình ra toàn quốc vào thời  
điểm thích hợp  
Như đã phân tích ở các phần trên, để có  
CCĐT, nền tảng kỹ thuật (Internet, phần  
mềm...) là rất quan trọng. Nền tảng kỹ thuật  
cho công chứng điện tử không chỉ dừng lại  
trong phạm vi các tổ chức hành nghề công  
chứng mà cần kết nối với các tổ chức khác  
như cơ quan đăng ký đất đai, cơ quan thuế,  
các tổ chức tín dụng... để trở thành một  
mạng lưới chia sẻ và liên kết thông tin. Bên  
cạnh đó, việc kết nối được dữ liệu về dân cư,  
bất động sản với cơ sở dữ liệu công chứng,  
cơ chế và hệ thống bảo mật thông tin công  
chứng cũng như bảo đảm an toàn cho chữ ký  
điện tử trên văn bản công chứng điện tử, là  
yếu tố then chốt để CCĐT có hiệu quả, đặc  
biệt trong tình hình vấn nạn giấy tờ giả, lừa  
đảo... như hiện nay.  
Ba là, nâng mức độ phủ sóng và sử dụng  
Internet trong phạm vi cả nước:  
Hoạt động công chứng không chỉ diễn  
ra ở các đô thị lớn, mà có ở tất cả các địa  
phương, do đó, tầm nhìn xây dựng CCĐT  
cần có lộ trình triển khai đến tất cả vùng,  
miền của Tổ quốc.  
Để thực hiện được điều đó, từng bước  
nâng cao chất lượng của hạ tầng mạng lưới  
Internet và mức độ sử dụng Internet cũng  
như khả năng truy cập Internet để tất cả  
người dân ở mọi khu vực khi có nhu cầu  
đều có thể sử dụng CCĐT cần phải được  
Với điều kiện của Việt Nam hiện nay,  
khi mà việc ứng dụng cũng như điều kiện  
để ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt  
động công chứng ở các địa phương khác  
nhau, thì việc xây dựng một nền tảng chung,  
thực hiện  
n
tiếp cận dịch vụ y tế ... (Tiếp theo trang 40)  
các cơ sở chăm sóc y tế cho người dân địa  
Thứ bảy, nâng cao hiệu quả tuyên  
truyền, phổ biến chính sách pháp luật về y tế  
trước hết là với các doanh nghiệp để doanh  
nghiệp chủ động thực hiện trách nhiệm của  
mình trước pháp luật, trước người lao động;  
với người lao động, nâng cao hiểu biết để tự  
bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của  
bản thân.  
Hiệu quả của chính sách y tế cần phải  
tính đến khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của  
người dân, của người lao động. Nhà nước,  
các doanh nghiệp, xã hội cần đẩy mạnh đầu  
tư vốn, nhân lực, khoa học kỹ thuật để phát  
triển dịch vụ y tế, nâng cao chất lượng phục  
vụ và đảm bảo giá thành hợp lý. Một chiến  
lược y tế hiệu quả sẽ góp phần vào xây dựng  
hệ thống an sinh xã hội hiệu quả, tạo động  
phương cũng như người lao động tại các khu  
công nghiệp bằng các cơ chế khuyến khích,  
hỗ trợ, ưu đãi cụ thể.  
Thứ năm, đẩy mạnh đầu tư nâng cao  
chuyên môn kỹ thuật y tế và tin học hóa;  
trong đó, đầu tư, nâng cấp trang thiết bị, cơ  
sở vật chất và nhân lực cho hệ thống kiểm  
chuẩn-tham chiếu đảm bảo chất lượng quan  
trắc môi trường lao động, giám sát sức khỏe,  
sàng lọc, phát hiện, chẩn đoán sớm bệnh  
nghề nghiệp;  
Thứ sáu, xây dựng cơ chế, biện pháp  
thanh tra hiệu quả hơn với các sai phạm về  
y tế như tổ chức thanh tra đột xuất, phối hợp  
với các cơ quan có liên quan cùng tổ chức  
thanh kiểm tra.  
lực cho sự ổn định và phát triển của xã hội  
n
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
48  
Số 20 (420) - T10/2020  
pdf 8 trang Thùy Anh 14580 Free
Bạn đang xem tài liệu "Công chứng điện tử tại Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcong_chung_dien_tu_tai_viet_nam_trong_boi_canh_cach_mang_con.pdf