Hoàn thiện các quy định của bộ luật hình sự năm 2015 về những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự

THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015 VỀ  
NHỮNG TRƯỜNG HỢP LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ  
Nguyễn Văn Hương*  
*PGS.TS. Khoa Pháp luật hình sự, Trương Đại học Luật Hà Nội  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Từ khóa: Trường hợp loại trừ  
trách nhiệm hình sự, Bộ luật  
Hình sự năm 2015.  
Trong phạm vi bài viết này, tác giả trình bày, phân tích các quy định về  
những trường hợp được loại trừ trách nhiệm hình sự trong Bộ luật Hình  
sự năm 2015, chỉ ra những hạn chế của các quy định này và đưa ra kiến  
nghị hoàn thiện.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 01/6/2021  
: 13/7/2021  
: 16/7/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
Within the scope of this article, the author provides introduction and an  
analysis of the provisions on cases in which criminal liability is excluded  
in the Penal Code of 2015, and also points out the shortcomings of these  
provisions and proposes a number of recommendations for further  
improvements.  
Keywords: Cases of exclusion of  
criminal liability, Criminal Code  
2015  
Article History:  
Received  
Edited  
: 01 Jun 2021  
: 13 Jul. 2021  
: 16 Jul. 2021  
Approved  
1. Những trường hợp loại trừ trách  
nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật  
Hình sự năm 2015  
tuổi chịu TNHS) thỏa mãn dấu hiệu của cấu  
thành tội phạm cụ thể được quy định trong  
BLHS. Trường hợp hành vi của một người  
không thỏa mãn dấu hiệu của cấu thành tội  
phạm cụ thể trong BLHS thì không phải là  
tội phạm và tất nhiên, người thực hiện hành  
vi này không phải chịu TNHS. Bên cạnh  
trường hợp hành vi không thỏa mãn dấu  
hiệu cấu thành tội phạm và không phải chịu  
TNHS, BLHS còn quy định trường hợp  
hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm được  
quy định trong BLHS nhưng vì các nguyên  
nhân khác nhau (có thể do chính sách hình  
sự của Nhà nước) mà người thực hiện các  
hành vi này không phải chịu TNHS như  
Điều 2 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm  
1985, BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015  
đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS  
năm 2015) đều quy định: “Chỉ người nào  
phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy  
định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”.  
Như vậy, cơ sở của trách nhiệm hình sự  
(TNHS) theo luật hình sự Việt Nam chính  
là hành vi thực hiện tội phạm được quy  
định trong BLHS. Nói cách khác, cơ sở của  
TNHS chính là hành vi nguy hiểm cho xã hội  
của một người (có năng lực TNHS, đạt độ  
Số 17(441) - T9/2021  
43  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
trường hợp được miễn TNHS tại Điều 16,  
Điều 29, khoản 4 Điều 110 BLHS1...  
Những trường hợp loại trừ TNHS như:  
Phòng vệ chính đáng (Điều 22), Tình thế  
cấp thiết (Điều 23), Gây thiệt hại trong khi  
bắt giữ người phạm tội (Điều 24), Rủi ro  
trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến  
bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ (Điều 25),  
sau khi mô tả dấu hiệu, BLHS năm 2015  
còn quy định, các trường hợp này “không  
phải là tội phạm”. Tức là, các hành vi này  
được coi là hành vi hợp pháp, người thực  
hiện hành vi trong các trường hợp này  
không phải chịu TNHS.  
Đối với các trường hợp khác như: Sự  
kiện bất ngờ (Điều 20), Tình trạng không  
có năng lực trách nhiệm hình sự (Điều 21)  
và Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy  
hoặc của cấp trên (Điều 26), BLHS quy  
định, các trường hợp này “không phải chịu  
trách nhiệm hình sự”.  
gây thiệt hại trong trường hợp này không  
có lỗi đối với hành vi và hậu quả mà họ đã  
gây ra nên họ “không phải chịu trách nhiệm  
hình sự”.  
Trong trường hợp sự kiện bất ngờ, chủ  
thể không đủ điều kiện thấy trước (không thể  
thấy trước) hậu quả thiệt hại mà hành vi của  
họ gây ra hoặc không có nghĩa vụ phải thấy  
trước (không buộc phải thấy trước) hậu quả  
đó. Chủ thể không thấy trước hậu quả thiệt  
hại mà hành vi của họ gây ra trong trường hợp  
sự kiện bất ngờ là do khách quan. Người gây  
thiệt hại không có lỗi đối với hành vi nguy  
hiểm và hậu quả thiệt hại đã xảy ra. Hành  
vi gây thiệt hại trong trường hợp sự kiện bất  
ngờ không đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm,  
không có TNHS. Người có hành vi gây thiệt  
hại trong trường hợp này đương nhiên không  
phải chịu TNHS chứ không phải là được loại  
trừ TNHS. Đây cũng là lý do chúng tôi cho  
rằng, sự kiện bất ngờ (Điều 20 BLHS năm  
2015) không thuộc trường hợp loại trừ TNHS.  
Trong các công trình nghiên cứu được công  
bố cũng có quan điểm tương tự2.  
- Tình trạng không có năng lực trách  
nhiệm hình sự (Điều 21 BLHS năm 2015)  
Điều 21 BLHS năm 2015 quy định:  
“Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã  
hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một  
bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc  
khả năng điều khiển hành vi của mình, thì  
không phải chịu trách nhiệm hình sự”.  
Năng lực TNHS là một dạng năng lực  
pháp lý của con người; là năng lực nhận thức  
và năng lực điều khiển hành vi của chủ thể  
theo đòi hỏi của xã hội. Một người phát triển  
bình thường (về tâm lý, sinh lý) sẽ có năng  
lực nhận thức và điều khiển hành vi theo đòi  
hỏi của xã hội khi đến độ tuổi nhất định. Tuy  
nhiên, năng lực này có thể sẽ không có hoặc  
bị mất do chủ thể mắc bệnh nhất định liên  
Vậy, các trường hợp “không phải là tội  
phạm” (người thực hiện hành vi không phải  
chịu TNHS) với các trường hợp “không phải  
chịu trách nhiệm hình sự” về bản chất có gì  
khác nhau khi các trường hợp này đều được  
quy định tại Chương IV - Những trường hợp  
loại trừ trách nhiệm hình sự ?  
- Sự kiện bất ngờ (Điều 20 BLHS  
năm 2015)  
Điều 20 BLHS năm 2015 quy định:  
“Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy  
hại cho xã hội trong trường hợp không thể  
thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước  
hậu quả của hành vi đó, thì không phải chịu  
trách nhiệm hình sự”.  
Theo quy định của BLHS năm 2015, sự  
kiện bất ngờ là trường hợp người có hành  
vi gây thiệt hại cho xã hội nhưng không thể  
thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước  
hậu quả của hành vi đó. Như vậy, người  
1 Xem: Điều 16, Điều 29, khoản 4 Điều 110, khoản 7 Điều 364, khoản 2 Điều 390 BLHS năm 2015.  
2 Xem: Nguyễn Ngọc Hòa, Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 -  
Phần chung, Nxb. Tư pháp, Hà Nội 2017, tr. 116, 117.  
44  
Số 17(441) - T9/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
quan đến hoạt động tâm thần. Người không  
có năng lực nhận thức hoặc năng lực điều  
khiển hành vi theo đòi hỏi của xã hội do mắc  
bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm rối loạn  
hoạt động tâm thần được coi là người trong  
tình trạng không có năng lực TNHS. Trường  
hợp này có thể được gọi là không có năng lực  
lỗi và do không có năng lực lỗi nên không có  
năng lực TNHS3.  
Theo quy định của Điều 21 BLHS năm  
2015, có hai dấu hiệu xác định tình trạng  
không có năng lực TNHS: “người… đang  
mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác” (dấu hiệu  
y học) và dấu hiệu “mất khả năng nhận thức  
hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình”  
(dấu hiệu tâm lý). Về dấu hiệu y học: Người  
được coi là ở trong tình trạng không có năng  
lực TNHS phải là người mắc bệnh tâm thần  
hoặc bệnh khác làm rối loạn hoạt động tâm  
thần. Về dấu hiệu tâm lý (còn gọi là dấu hiệu  
pháp lý): Người được coi là ở trong tình trạng  
không có năng lực TNHS là người bị mất khả  
năng nhận thức ý nghĩa xã hội của hành vi của  
mình, không biết hành vi của mình là đúng  
hay sai, từ đó cũng không thể kìm chế hành vi  
nguy hiểm để thực hiện hành vi phù hợp với  
yêu cầu của xã hội.  
Theo luật hình sự Việt Nam, chủ thể của  
tội phạm phải là người có năng lực TNHS  
(năng lực lỗi). Người không có năng lực nhận  
thức hoặc năng lực điều khiển hành vi theo  
đòi hỏi của xã hội (do mắc bệnh tâm thần,…)  
được coi là người không có năng lực TNHS  
(không thỏa mãn dấu hiệu chủ thể của tội  
phạm). Hành vi gây thiệt hại được thực hiện  
trong tình trạng không có năng lực TNHS  
không cấu thành tội phạm, không có TNHS  
và người thực hiện hành vi này không phải  
chịu TNHS chứ không phải là được loại trừ  
TNHS. Đây cũng lý do chúng tôi cho rằng,  
tình trạng không có năng lực TNHS (Điều 21  
BLHS năm 2015) không thuộc trường hợp  
loại trừ TNHS4.  
- Phòng vệ chính đáng (Điều 22 BLHS  
năm 2015)  
Điều 22 BLHS năm 2015 quy định:  
“Phòng vệ chính đáng là hành vi của người  
vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của  
mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà  
nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại  
một cách cần thiết người đang có hành vi xâm  
phạm các lợi ích nói trên. Phòng vệ chính  
đáng không phải là tội phạm”.  
Hành vi chống trả của người phòng vệ về  
khách quan có sự gây thiệt hại nhưng về chủ  
quan hành vi này được coi là không có lỗi vì  
chủ thể đã lựa chọn thực hiện hành vi phù hợp  
với đòi hỏi của xã hội, được xã hội chấp nhận.  
Hành vi chống trả gây thiệt hại trong phòng  
vệ chính đáng do không có lỗi nên việc gây  
thiệt hại trong phòng vệ chính đáng “không  
bị coi là có tính nguy hiểm cho xã hội của tội  
phạm”5. Đó chính là căn cứ loại trừ TNHS  
của người thực hiện hành vi gây thiệt hại  
trong trường hợp phòng vệ chính đáng. Theo  
luật hình sự Việt Nam, hành vi chống trả gây  
thiệt hại cho người khác được coi là phòng vệ  
chính đáng và người thực hiện hành vi không  
phải chịu TNHS khi thỏa mãn các điều kiện:  
Thứ nhất, cơ sở làm phát sinh quyền  
phòng vệ chính đáng là hành vi tấn công bất  
hợp pháp của con người xâm phạm các lợi ích  
được pháp luật bảo vệ. Hành vi tấn công xâm  
phạm các lợi ích được pháp luật bảo vệ phải  
có tính nguy hiểm nhất định và phải đang xảy  
ra, tức là đã bắt đầu mà chưa kết thúc. Thiệt  
hại mà hành vi tấn công gây ra có thể là thiệt  
hại cho lợi ích của Nhà nước, tổ chức, người  
3 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb. CAND, Hà Nội, 2016,  
tr. 135.  
4 Xem: Nguyễn Ngọc Hòa, sđd, tr.116, 117.  
5 Trường Đại học Luật Hà Nội, sđd, tr. 223; (Xem thêm: Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa Luật, Giáo trình Luật  
hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội 2001, tr. 246, 247).  
Số 17(441) - T9/2021  
45  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
khác hoặc của chính bản thân người phòng  
vệ. Các thiệt hại mà hành vi tấn công gây ra  
có thể bao gồm các thiệt hại khác nhau như  
tính mạng, sức khỏe, tài sản…  
muốn tránh gây thiệt hại cho quyền, lợi ích  
hợp pháp của mình, của người khác hoặc lợi  
ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà  
không còn cách nào khác là phải gây một  
thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.  
Hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết  
không phải là tội phạm”.  
Hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp  
thiết về khách quan có sự gây thiệt hại cho  
quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ  
nhưng về chủ quan hành vi này được coi  
là không có lỗi vì chủ thể đã lựa chọn thực  
hiện hành vi có ích, phù hợp với đòi hỏi của  
xã hội. Vì vậy, người có hành vi gây thiệt  
trong trường hợp này được loại trừ TNHS.  
Theo luật hình sự Việt Nam, hành vi gây  
thiệt hại được coi là tình thế cấp thiết, người  
có hành vi gây thiệt hại không phải chịu  
TNHS khi thỏa mãn các điều kiện:  
Thứ nhất, có sự nguy hiểm đang đe dọa  
gây thiệt hại đến các lợi ích được pháp luật  
bảo vệ. Sự nguy hiểm trong tình thế cấp  
thiết có thể phát sinh từ nhiều nguồn khác  
nhau như thiên tai, hỏa hoạn, các sự cố kỹ  
thuật… Khi có sự đe dọa gây thiệt hại cho  
lợi ích của Nhà nước, xã hội hoặc của chính  
bản thân mình, mỗi công dân cần có biện  
pháp tích cực để ngăn chặn nguy hiểm và  
bảo vệ các lợi ích đó. Tuy nhiên, việc gây  
ra một thiệt hại để ngăn ngừa một thiệt hại  
khác chỉ được luật cho phép và coi là hợp  
pháp “khi không còn cách nào khác”.  
Thứ hai, hành vi chống trả của người phòng  
vệ phải nhằm vào chính người có hành vi tấn  
công. Hành vi chống trả của người phòng vệ  
có thể gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe…  
của người có hành vi tấn công để ngăn chặn,  
đẩy lùi, loại bỏ hành vi tấn công để bảo vệ  
lợi ích của Nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân.  
Phòng vệ chính đáng là hành vi tích cực, phù  
hợp với yêu cầu của xã hội nên người phòng  
vệ chính đáng được phép chống trả gây thiệt  
hại cho người có hành vi tấn công ngay cả  
khi có thể sử dụng biện pháp khác không gây  
thiệt hại6.  
Thứ ba, hành vi chống trả của người phòng  
vệ chính đáng phải là “chống trả cần thiết”.  
Biện pháp chống trả mà người phòng vệ sử  
dụng trong hoàn cảnh cụ thể phải là biện pháp  
cần thiết để ngăn chặn, đẩy lùi hoặc loại bỏ  
hành vi tấn công. Hành vi chống trả, gây thiệt  
hại cho người có hành vi tấn công phải phù  
hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của  
hành vi tấn công; không có sự chênh lệch quá  
đáng giữa hành vi tấn công và hành vi phòng  
vệ. Để đánh giá sự chống trả của người phòng  
vệ là cần thiết hay quá mức cần thiết, người  
áp dụng luật phải dựa vào nhiều căn cứ khác  
nhau. Việc đánh giá các căn cứ này trong thực  
tế rất phức tạp, cơ quan áp dụng pháp luật  
phải căn cứ vào rất nhiều yếu tố khác nhau7.  
- Tình thế cấp thiết (Điều 23 BLHS  
năm 2015)  
Thứ hai, thiệt hại gây ra phải nhỏ hơn  
thiệt hại cần ngăn ngừa. Pháp luật chỉ cho  
phép công dân gây một thiệt để ngăn ngừa  
thiệt hại khác và hành vi gây thiệt hại được  
coi là tình thế cấp thiết nếu thiệt hại gây ra  
Điều 23 BLHS năm 2015 quy định:  
“Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì  
6 Đối với hành vi tấn công của người không có năng lực TNHS, thực tiễn xét xử chỉ thừa nhận hành vi gây  
thiệt hại cho người này là phòng vệ chính đáng khi không còn biện pháp khác (Xem: Trường Đại học Luật  
Hà Nội, sđd, tr. 229).  
7 Xem: An Nam, Kẻ đột nhập bị chém chết vì định sát hại nữ chủ nhà, https://vnexpress.net/phap-luat/ke-dot-  
nhap-bi-chem-chet-vi-dinh-sat-hai-nu-chu-nha-3910301.html, truy cập ngày 20/7/2020; Hoàng Nam, Đình  
chỉ điều tra vụ án nữ chủ nhà chém chết người nghi ăn trộm, https://vnexpress.net/dinh-chi-dieu-tra-vu-an-nu-  
chu-nha-chem-chet-nguoi-nghi-an-trom-3951755.html, truy cập ngày 20/7/2020.  
46  
Số 17(441) - T9/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa. Chỉ có như  
vậy thì hành vi gây thiệt hại mới có ý nghĩa  
và người gây thiệt hại mới không phải chịu  
TNHS8. Trong thực tế, việc đánh giá thiệt  
hại gây ra với thiệt hại cần ngăn ngừa khá  
phức tạp, đòi hỏi người áp dụng luật phải  
căn cứ vào nhiều yếu tố khác nhau.  
hành vi phạm tội của người bị bắt giữa và  
quyền được bắt giữ người có hành vi phạm  
tội của mọi công dân9. Trong thực tế, không  
ít trường hợp người phạm tội không chấp  
hành việc bị bắt giữ, có hành vi chống đối  
quyết liệt khi bị bắt giữ. Vì vậy, khi không  
còn cách nào khác, người có hành vi bắt giữ  
người phạm tội buộc phải sử dụng vũ lực  
cần thiết gây thiệt hại cho người bị bắt giữ  
để bắt giữ người phạm tội. Như vậy, điều  
kiện đặt ra là chỉ được sử dụng vũ lực để  
bắt giữ người phạm tội khi không còn cách  
nào khác.  
Thứ hai, khi có quyền bắt giữ người phạm  
tội và khi không còn cách nào khác để bắt  
người phạm tội (có hành vi chống lại việc bắt  
giữ) thì người có hành vi bắt giữ được phép  
dùng vũ lực cần thiết gây thiệt hại cho người  
bị bắt giữ để bắt giữ người phạm tội. Hành vi  
dùng vũ lực ở mức độ cần thiết để thực hiện  
việc bắt giữ người phạm tội hoặc ngăn chặn  
người này tiếp tục gây thiệt hại cho xã hội.  
Trường hợp có cách khác để bắt giữ người  
phạm tội mà không cần phải dùng vũ lực thì  
việc sử dụng vũ lực gây thiệt hại để bắt giữ  
người phạm tội là không cần thiết, người có  
hành vi sử dụng vũ lực gây thiệt hại trong  
trường hợp này sẽ phải chịu TNHS10. Việc  
đánh giá hành vi sử dụng vũ lực là cần thiết  
hay quá mức cần thiết trong thực tế rất phức  
tạp, đòi hỏi người áp dụng luật phải căn cứ  
vào nhiều yếu tố khác nhau.  
- Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người  
phạm tội (Điều 24 BLHS năm 2015)  
Điều 24 BLHS năm 2015 quy định:  
“Hành vi của người để bắt giữ người thực  
hiện hành vi phạm tội mà không còn cách  
nào khác là buộc phải sử dụng vũ lực cần  
thiết gây thiệt hại cho người bị bắt giữ thì  
không phải là tội phạm”.  
Trong trường hợp này, người có hành vi  
bắt giữ người phạm tội buộc phải sử dụng  
vũ lực cần thiết gây thiệt hại cho người bị  
bắt giữ để bắt giữ người phạm tội. Việc sử  
dụng vũ lực cần thiết để bắt giữ người phạm  
tội khi không còn cách nào khác là để thực  
thi pháp luật. Đó là quyền và cũng là trách  
nhiệm của chủ thể. Chủ thể lựa chọn hành  
vi sử dụng vũ lực để bắt giữ người phạm  
tội khi không còn cách nào khác và sự lựa  
chọn này phù hợp với yêu cầu của xã hội  
nên được coi là không có lỗi. Do không có  
lỗi nên hành vi gây thiệt hại trong trường  
hợp này không bị coi là có tính nguy hiểm  
cho xã hội của hành vi phạm tội. Đó chính  
là căn cứ loại trừ TNHS của người gây thiệt  
hại trong khi bắt giữ người phạm tội. Để  
được coi là gây thiệt hại trong khi bắt giữ  
người phạm tội, hành vi gây thiệt hại phải  
thỏa mãn các điều kiện:  
- Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm,  
áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công  
nghệ (Điều 25 BLHS năm 2015)  
Thứ nhất, cơ sở của việc gây thiệt hại  
trong khi bắt giữ người phạm tội chính là  
Điều 25 BLHS năm 2015 quy định:  
“Hành vi gây ra thiệt hại trong khi thực  
8 Khoản 2 Điều 23 BLHS năm 2015 quy định: “Trong trường hợp thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu  
của tình thế cấp thiết, thì người gây thiệt hại đó phải chịu trách nhiệm hình sự”  
9 Điều 111 Bộ luật TTHS năm 2015 (Bắt người phạm tội quả tang) quy định: “Đối với người đang thực hiện  
tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm mà bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt thì bất kỳ người nào cũng  
có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần  
nhất…”. Điều 112 Bộ luật TTHS (Bắt người đang bị truy nã) cũng có quy định tương tự.  
10 Xem: Khoản 2 Điều 24 BLHS năm 2015.  
Số 17(441) - T9/2021  
47  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
hiện việc nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng  
tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ  
mới mặc dù đã tuân thủ đúng quy trình,  
quy phạm, áp dụng đầy đủ biện pháp phòng  
ngừa thì không phải là tội phạm”.  
vũ trang nhân dân để thực hiện nhiệm vụ  
quốc phòng, an ninh nếu đã thực hiện đầy  
đủ quy trình báo cáo người ra mệnh lệnh  
nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu  
chấp hành mệnh lệnh đó, thì không phải  
chịu trách nhiệm hình sự. Trong trường  
hợp này người ra mệnh lệnh phải chịu  
trách nhiệm hình sự”.  
Quy định trên đây cho phép công dân  
có quyền được thực hiện việc nghiên cứu,  
thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ  
thuật và công nghệ mới. Việc gây thiệt hại  
do nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến  
bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới  
khi đã tuân thủ đúng quy trình, quy phạm,  
áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa thì  
không phải chịu TNHS. Việc gây thiệt hại  
khi nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ  
khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới không  
bị coi là tội phạm nếu đáp ứng đầy đủ các  
điều kiện:  
Thứ nhất, các quy trình, quy phạm liên  
quan đến việc nghiên cứu, thử nghiệm, áp  
dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ  
mới đã được tuân thủ đầy đủ khi thực hiện;  
Thứ hai, các biện pháp phòng ngừa rủi  
ro được áp dụng đầy đủ khi nghiên cứu, thử  
nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và  
công nghệ mới.  
Các điều kiện nêu trên thể hiện trách  
nhiệm, sự thận trọng của chủ thể khi tiến  
hành nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến  
bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới  
cũng như việc dự liệu các rủi ro có thể phát  
sinh từ hoạt động này. Đó chính là cơ sở  
loại trừ TNHS của chủ thể đối với những rủi  
ro phát sinh từ các hoạt động nghiên cứu,  
thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ  
thuật và công nghệ mới.  
Theo luật hình sự Việt Nam, hành vi gây  
thiệt hại trong khi thi hành mệnh lệnh của  
người chỉ huy hoặc của cấp trên không phải  
chịu TNHS. Việc thi hành mệnh lệnh của  
người chỉ huy hoặc cấp trên là quyền đồng  
thời là trách nhiệm của người nhận mệnh  
lệnh. Đối với người nhận mệnh lệnh, việc  
chấp hành mệnh lệnh là hành vi hợp pháp.  
Họ không biết hoặc không buộc phải biết  
mệnh lệnh (họ phải thi hành) là hợp pháp  
hay không hợp pháp. Vì vậy, việc thi hành  
mệnh lệnh không hợp pháp, gây thiệt hại  
cho xã hội thì họ cũng không bị coi là có  
lỗi. Đó chính là cơ sở của việc loại trừ trách  
nhiệm hình sự đối với người thi hành mệnh  
lệnh. Hành vi thi hành mệnh lệnh của người  
chỉ huy hoặc của cấp trên gây thiệt hại cho  
xã hội nhưng người gây thiệt hại không phải  
chịu TNHS khi thỏa mãn các điều kiện:  
- Hành vi thi hành mệnh lệnh phải là  
thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy  
hoặc của cấp trên trong lực lượng vũ trang  
nhân dân;11  
- Nhiệm vụ được thi hành theo mệnh  
lệnh phải là nhiệm vụ quốc phòng hoặc  
an ninh;  
- Người ra lệnh phải là người chỉ huy  
hoặc cấp trên của người thi hành mệnh lệnh;  
- Người thi hành mệnh lệnh đã thực hiện  
đầy đủ quy trình báo cáo người ra mệnh  
lệnh nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu  
chấp hành mệnh lệnh.  
- Thi hành mệnh lệnh của người chỉ  
huy hoặc của cấp trên (Điều 26 BLHS  
năm 2015)  
Điều 26 BLHS năm 2015 quy định:  
“Người thực hiện hành vi gây thiệt hại  
trong khi thi hành mệnh lệnh của người  
chỉ huy hoặc của cấp trên trong lực lượng  
Hành vi thi hành mệnh lệnh, gây thiệt hại  
cho xã hội khi thỏa mãn các điều kiện nêu  
trên thì người có hành vi gây thiệt hại không  
11 Xem: Điều 12 Luật Quốc phòng năm 2005.  
48  
Số 17(441) - T9/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
phải chịu TNHS mà người ra mệnh lệnh  
phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên,  
do tính chất đặc biệt nghiêm trọng của các  
tội: Tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh  
xâm lược (Điều 421), Tội chống loài người  
(Điều 422), Tội phạm chiến tranh (Điều  
423) mà BLHS Việt Nam quy định người  
thực hiện các tội phạm này do thi hành  
mệnh lệnh của cấp trên vẫn phải chịu TNHS  
nhưng được giảm nhẹ TNHS12.  
chế định lỗi vô ý phạm tội (Điều 11). Quy  
định như vậy sẽ bảo đảm sự liên hệ và phân  
biệt rõ trường hợp sự kiện bất ngờ (hành vi  
gây thiệt hại không có lỗi) với trường hợp  
phạm tội với lỗi vô ý vì cẩu thả (khoản 2  
Điều 11). Cách quy định này đã được thể  
hiện trong BLHS năm 1985, BLHS năm  
1999, cũng được thể hiện trong BLHS Liên  
bang Nga;13 BLHS Trung Quốc14...  
Thứ hai, đưa chế định Tình trạng không  
có năng lực trách nhiệm hình sự (Điều 21  
BLHS năm 2015) từ Chương IV về Chương  
III và đặt sau chế định tuổi chịu trách nhiệm  
hình sự (Điều 12 BLHS năm 2015).  
2. Kiến nghị hoàn thiện Bộ luật Hình sự  
năm 2015  
Những phân tích trên cho thấy, việc  
BLHS quy định trường hợp Sự kiện bất  
ngờ và Tình trạng không có năng lực trách  
nhiệm hình sự vào Chương IV (Những  
trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự) là  
không phù hợp. Để bảo đảm tính logíc, hợp  
lý của các quy định của BLHS, tác giả kiến  
nghị như sau:  
Thứ nhất, đưa chế định Sự kiện bất ngờ  
(Điều 20 BLHS năm 2015) từ Chương IV  
về Chương III và đặt sau chế định lỗi vô ý  
phạm tội (Điều 11 BLHS năm 2015).  
Trong trường hợp sự kiện bất ngờ, chủ  
thể không có lỗi đối với hành vi nguy hiểm  
và hậu quả thiệt hại đã xảy ra. Hành vi gây  
thiệt hại trong trường hợp sự kiện bất ngờ  
không đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm,  
không có TNHS. Người gây thiệt hại trong  
trường hợp này không phải chịu TNHS chứ  
không phải là được loại trừ TNHS. Vì vậy,  
việc quy định trường hợp Sự kiện bất ngờ  
tại Chương IV (cùng với các trường hợp  
loại trừ TNHS) là không hợp lý, chế định  
này cần được đưa về Chương III và đặt sau  
Hành vi gây thiệt hại cho xã hội của  
người trong trường hợp tình trạng không  
có năng lực TNHS không đủ dấu hiệu cấu  
thành tội phạm, không có TNHS. Người  
gây thiệt hại trong trường hợp này không  
phải chịu TNHS chứ không phải là được  
loại trừ TNHS. Vì vậy, việc quy định tình  
trạng không có năng lực TNHS tại Chương  
IV (cùng với các trường hợp loại trừ TNHS)  
là không hợp lý. Tình trạng không có năng  
lực trách nhiệm hình sự (Điều 21) cần được  
đưa về Chương III và đặt sau chế định tuổi  
chịu TNHS (Điều 12 BLHS năm 2015).  
Quy định như vậy sẽ bảo đảm sự liên hệ và  
phân biệt rõ tình trạng không có năng lực  
trách nhiệm hình sự với trường hợp người  
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị  
coi là tội phạm. Cách quy định này đã được  
thể hiện trong BLHS năm 1985, BLHS năm  
1999, cũng được thể hiện trong BLHS Liên  
bang Nga15; BLHS Trung Quốc16; BLHS  
Liên bang Đức17  
12 Xem: Khoản 2 Điều 26 và khoản 2 Điều 421, khoản 2 Điều 422 và khoản 2 Điều 423 BLHS năm 2015.  
13 Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội, Bộ luật hình sự Liên bang Nga, Nxb. CAND, Hà Nội, 2011, tr. 38, 40.  
14 Xem: Đinh Bích Hà (Dịch và giới thiệu), Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Nxb.  
Tư pháp, Hà Nội, 2007, tr. 41, 42, 43.  
15 Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội, Bộ luật hình sự Liên bang Nga, sđd, tr. 34, 36.  
16 Xem: Đinh Bích Hà (Dịch và giới thiệu), Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, sđd, tr. 43.  
17 Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội, Bộ luật hình sự Cộng hòa Liên bang Đức, Nxb. CAND, Hà Nội, 2011, tr. 26.  
Số 17(441) - T9/2021  
49  
pdf 7 trang Thùy Anh 17820 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hoàn thiện các quy định của bộ luật hình sự năm 2015 về những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhoan_thien_cac_quy_dinh_cua_bo_luat_hinh_su_nam_2015_ve_nhun.pdf