Quy định nguyên tắc suy đoán không phạm tội để bảo vệ quyền con người của người bị buộc tội

BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
QUY ĐỊNH NGUYÊN TẮC  
SUY ĐOÁN KHÔNG PHẠM TỘI  
ĐỂ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI  
NGUYễN QUANG HIỀN *  
Nhà nước tư sản đã đưa ra nhiều tư tưởng  
tiến bộ về quyền con người và quyền công  
dân, một trong những tư tưởng tiến bộ đó là  
suy đoán không phạm tội. Nhưng tư tưởng suy  
đoán không phạm tội trong thời kỳ đầu của nhà  
nước tư sản vẫn chưa được coi là một nguyên  
tắc của luật tố tụng hình sự mà mới chỉ được  
thể hiện như là một lập luận để chống lại các  
hình thức cưỡng chế khắc nghiệt vẫn còn tồn  
tại trong nhà nước tư sản lúc đó. Như vậy, về  
mặt pháp lý, nguyên tắc suy đoán không phạm  
tội (hay ý tưởng của nó) chỉ được ghi nhận khi  
Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của  
Pháp ra đời năm 1789. Nó đã đặt một nền tảng  
pháp lý quan trọng, có ảnh hưởng to lớn đến tư  
duy pháp lý của nhiều nước về bảo vệ quyền  
con người trong tố tụng hình sự của người bị  
buộc tội.  
1. Đặt vấn đề  
TrongLuậtLaMãcổ,thuậtngữ“Praesumptio  
boni viri” được hiểu là một suy đoán pháp lý  
“người tham gia tố tụng được coi là trung thực  
cho đến khi bị chứng minh họ không phải là  
người trung thực”. Suy đoán này được thừa  
nhận như là một nguyên tắc của luật tố tụng dân  
sự trong việc xác định tư cách và quyền bình  
đẳng của các đương sự, được áp dụng trong  
các tranh chấp để buộc các bên phải đưa ra các  
chứng cứ chứng minh, chứ không chỉ đưa ra  
các yêu cầu tranh chấp.  
Trong tố tụng hình sự thì lại khác. Nhà nước  
chiếm hữu nô lệ không thừa nhận nô lệ là chủ  
thể của quan hệ pháp luật nên vấn đề lỗi của  
nô lệ không được xem xét đến trong các quan  
hệ có liên quan đến lợi ích của nhà nước. Nhà  
nước phong kiến tiếp tục kế thừa tư tưởng trên  
và áp dụng nguyên tắc suy đoán có lỗi. Người  
bị buộc tội (người bị tạm giữ, người bị khởi  
tố hình sự, người bị đưa ra xét xử) luôn bị coi  
là có lỗi, cho nên các biện pháp tra tấn, dùng  
nhục hình là một công cụ hợp pháp để điều tra  
vụ án.  
Nguyên tắc suy đoán không phạm tội đến  
nay được thừa nhận trong nhiều điều ước quốc  
tế. Tuyên ngôn nhân quyền năm 1948 của Liên  
hợp quốc và Công ước quốc tế về quyền chính  
trị và dân sự của Liên hợp quốc năm 1966 đều  
khẳng định: “Bất kỳ người bị buộc tội nào đều  
(*) TS. Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh.  
7
2010  
NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP Số 13(174)  
28 I  
I
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
có quyền suy đoán là không phạm tội cho đến  
khi lỗi của người đó được xác định theo một  
trình tự do pháp luật quy định bằng phiên tòa  
xét xử công khai của Tòa án với sự bảo đảm  
đầy đủ khả năng bào chữa của người đó”. Đây  
là một nguyên tắc rất đáng quan tâm trong pháp  
luật tố tụng hình sự Việt Nam khi chúng ta đang  
tiến hành xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội  
chủ nghĩa.  
truy cứu trách nhiệm hình sự của người không  
phạm tội hay sao? Vì vậy, quan điểm này đồng  
nhất quyết định khởi tố hình sự với việc khẳng  
định lỗi của người bị khởi tố hình sự, mà không  
nhận thấy tố tụng hình sự là một quá trình, khởi  
tố hình sự là một trong những điểm khởi đầu  
của quá trình tố tụng hình sự.  
2.3. Quan điểm người bị buộc tội không bị  
suy đoán không phạm tội cũng như không  
bị suy đoán có phạm tội  
2. Các quan điểm về nguyên tắc suy đoán  
không phạm tội  
2.1. Quan điểm không thừa nhận  
Người bị buộc tội “chưa” phải là người có tội  
nhưng cũng không phải là người không phạm  
tội. Người bị buộc tội là người trong tình trạng  
trung gian giữa không phạm tội và có phạm tội.  
Tòa án phải tuyên bố không phạm tội khi không  
chứng minh được lỗi của bị cáo không phải là  
biểu hiện của nguyên tắc suy đoán không phạm  
tội mà là nhiệm vụ của pháp luật tố tụng hình  
sự. Điều này cũng giống như không thể buộc bị  
cáo phải chứng minh lỗi của mình vì luật quy  
định rõ ràng như vậy chứ không phải vì nguyên  
tắc suy đoán không phạm tội. Về khía cạnh  
thực tiễn, nguyên tắc suy đoán không phạm tội  
khó có thể được chấp nhận bởi lẽ đa số các bị  
cáo (được áp dụng nguyên tắc suy đoán không  
phạm tội) vẫn bị Tòa án tuyên bố là có phạm tội.  
Tỷ lệ bị cáo được Tòa án tuyên bố không phạm  
tội so với tỷ lệ bị cáo bị tuyên bố là có phạm tội  
trong thực tiễn ở các nước đều không đáng kể.  
Như vậy thì cần gì phải áp dụng nguyên tắc suy  
đoán không phạm tội?  
Quan điểm này không khoa học, vì không  
thể lập luận chỉ bằng cách viện dẫn luật hoặc  
viện dẫn thực tiễn đơn thuần. Điều cần thiết  
là phải giải thích được vì sao luật lại quy định  
hoặc vì sao lại có thực tiễn này. Có thể luật quy  
định như vậy chính từ yêu cầu của nguyên tắc  
suy đoán không phạm tội; hoặc có thể thực  
tiễn đòi hỏi phải cần có nguyên tắc suy đoán  
không phạm tội. Mặt khác, không thể có cái gọi  
là người bị buộc tội là người trong tình trạng  
trung gian, chỉ là có phạm tội hoặc là không  
phạm tội chứ không có lựa chọn thứ ba.  
Những người theo quan điểm này lập luận  
rằng, nếu không có lỗi của cá nhân cụ thể trong  
những sự việc cụ thể thì không thể có điều tra  
và xét xử. Ở đây là suy đoán có phạm tội, là lỗi  
vô điều kiện của những người bị buộc tội, vì  
nếu không có lỗi thì đã không bị truy cứu trách  
nhiệm hình sự. Nói cách khác, người bị buộc  
tội bị suy đoán là có phạm tội và do vậy, luật  
cần quy định cho họ có nghĩa vụ chứng minh  
sự không phạm tội của mình giống như các cơ  
quan tiến hành tố tụng có nghĩa vụ chứng minh  
lỗi của người bị buộc tội. Các cơ quan tiến hành  
tố tụng chỉ cần xác định sự thật khách quan của  
vụ án đúng như những gì đã xảy ra trong thực  
tế là đủ mà không cần đến nguyên tắc suy đoán  
không phạm tội. Quan điểm này đồng nhất khái  
niệm người bị buộc tội với khái niệm người  
phạm tội, vi phạm quyền con người trong tố  
tụng hình sự của người bị buộc tội nên bị phê  
phán gay gắt trong khoa học pháp lý.  
2.2. Quan điểm phản đối  
Câu hỏi mà những người thuộc quan điểm  
này đặt ra là, ai là người được áp dụng nguyên  
tắc suy đoán không phạm tội? Nếu là bất kỳ  
người nào thì đương nhiên phải chứng minh lỗi  
của người đó và chừng nào chưa chứng minh  
được, chừng đó chưa thể kết luận người đó có  
lỗi. Còn nếu không phải là bất kỳ người nào mà  
là một cá nhân cụ thể và đối với người đó đã thu  
thập được những chứng cứ - cơ sở để buộc tội,  
thì lúc này áp dụng nguyên tắc suy đoán không  
phạm tội là không hợp lý và trái pháp luật. Bởi  
lẽ, khởi tố bị can lúc này đồng nghĩa với việc  
2.4. Quan điểm thừa nhận  
Hoạt động tố tụng hình sự khác với các hoạt  
động khác của con người - nơi mà hoạt động  
7
2010  
Số 13(174) NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP  
I
I 29  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
nhận thức có thể kết thúc bằng một kết quả  
nhận thức mới hoặc có thể chưa đem lại kết  
quả gì. Hoạt động tố tụng hình sự không thể kết  
thúc mà không có kết quả pháp lý cụ thể. Cơ  
quan tiến hành tố tụng hình sự không thể kết  
thúc hoạt động tố tụng mà vấn đề có phạm tội  
hay không phạm tội của người bị buộc tội vẫn  
chưa có kết luận và không thể nói rằng: “chúng  
tôi không thể chứng minh được lỗi của người  
bị buộc tội nhưng chúng tôi lại không thể tin là  
người bị buộc tội là không có tội”. Nhiệm vụ  
của tố tụng hình sự là khi kết thúc hoạt động tố  
tụng phải xác định rõ ràng hoặc người bị buộc  
tội là người có phạm tội hoặc là người bị buộc  
tội không phạm tội (trừ trường hợp đình chỉ vụ  
án). Như vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng phải  
xuất phát từ chỗ hoặc là người bị buộc tội được  
áp dụng nguyên tắc suy đoán không phạm tội  
cho đến khi chứng minh được có phạm tội hoặc  
là người bị buộc tội bị áp dụng nguyên tắc suy  
đoán có phạm tội cho đến khi chứng minh được  
là không phạm tội. Lịch sử phát triển của tố  
tụng hình sự trên thế giới đã không chấp nhận  
nguyên tắc suy đoán có phạm tội và đã phát  
triển theo hướng nhân đạo và ghi nhận nguyên  
tắc suy đoán không phạm tội.  
Nhà nước ta cũng đã tiếp thu tư tưởng tiến bộ  
của nguyên tắc suy đoán không phạm tội và ghi  
nhận nguyên tắc này như là một trong những  
nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự. Tuy tên  
gọi chưa được trực diện, nhưng nội dung của  
nó cũng đã phán ảnh được tinh thần của nguyên  
tắc suy đoán không phạm tội, đó là: “không ai  
bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa  
có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp  
luật”. Nguyên tắc này được quy định tại Điều  
72 của Hiến pháp năm 1992 và tiếp tục được  
ghi nhận tại Điều 9 của Bộ luật Tố tụng hình  
sự năm 2003 (BLTTHS). Đây là nét son trong  
lĩnh vực bảo vệ quyền con người ở Việt Nam.  
Tuy nhiên, cách diễn đạt trên chưa thật sự lột tả  
được bản chất của nguyên tắc suy đoán không  
phạm tội. Nó chưa chỉ ra được ai là người được  
áp dụng nguyên tắc suy đoán không phạm tội.  
Điều đó cho thấy, lý luận khoa học tố tụng hình  
sự của nước ta đã có bước tiến đáng kể, nhưng  
nghiên cứu về nguyên tắc suy đoán không phạm  
tội còn khiêm tốn.  
Là nguyên tắc hiến định, nguyên tắc suy  
đoán không phạm tội có ý nghĩa vô cùng quan  
trọng trong khoa học tố tụng hình sự. Đối với  
hoạt động xét xử không có kim chỉ nam nào tin  
cậy hơn ngoài việc thừa nhận không điều kiện  
và hiểu một cách đúng đắn nguyên tắc suy đoán  
không phạm tội, một nền tảng của hoạt động tố  
tụng hình sự. Bởi lẽ, nguyên tắc này quyết định  
và chi phối toàn bộ tính chất hoạt động của các  
cơ quan tiến hành tố tụng hình sự. Tính hiện  
thực và nhân đạo của nguyên tắc này là nó phản  
ánh được giá trị và địa vị của con người trong  
xã hội công dân.  
3. Bản chất của nguyên tắc suy đoán không  
phạm tội  
3.1. Người bị buộc tội được suy đoán không  
phạm tội cho đến khi có bản án kết tội có  
hiệu lực của Tòa án  
Người bị buộc tội là người không phạm tội  
được coi là chân lý cho đến khi có bản án kết  
tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Chừng nào  
chưa có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực  
pháp luật thì chừng đó, người bị buộc tội vẫn là  
người không phạm tội và luôn được thừa nhận  
là đúng.  
Điều 9 của BLTTHS sử dụng chủ từ vô nhân  
xưng “không ai” tức là bất kỳ người nào cũng  
là chủ thể được suy đoán không phạm tội. Cách  
sử dụng này chưa lột tả hết bản chất của nguyên  
tắc suy đoán không phạm tội và không khẳng  
định được ai được suy đoán là không phạm tội?  
Người nào cần đến suy đoán không phạm tội?  
Đương nhiên là và chỉ là những người bị buộc  
tội, còn người không bị buộc tội thì họ không  
cần đến sự suy đoán không phạm tội. Bất kỳ ai  
bị buộc tội đều được suy đoán là không phạm  
tội. Như vậy, người bị tạm giữ là chủ thể đầu  
tiên được suy đoán không phạm tội vì họ mới  
là người bị tình nghi phạm tội, đương nhiên suy  
đoán không phạm tội cũng được áp dụng với  
người bị khởi tố hình sự, người bị đưa ra xét xử  
chưa có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực  
pháp luật.  
7
2010  
NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP Số 13(174)  
30 I  
I
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
Phải khẳng định rằng, người bị buộc tội  
không đồng nghĩa với người phạm tội. Người  
bị buộc tội mới chỉ là người bị tình nghi về  
việc thực hiện những hành vi có dấu hiệu của  
tội phạm. Trách nhiệm hình sự chỉ bắt đầu khi  
bản án kết tội bị cáo có hiệu lực pháp luật chứ  
không phải từ thời điểm có quyết định tạm giữ.  
Người bị buộc tội không phải là người phạm  
tội và đây là tình trạng pháp lý khách quan của  
họ, do vậy đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố  
tụng, xã hội và mọi người phải nhìn nhận và  
đối xử với họ như là người không phạm tội.  
Đây là nghĩa vụ pháp lý, trừ một số hạn chế  
nhất định mà pháp luật cho phép áp dụng với  
những người này như các biện pháp ngăn chặn,  
còn các quyền, lợi ích hợp pháp khác của họ  
vẫn phải được pháp luật tôn trọng và bảo vệ.  
Dù rằng tâm lý đời thường điều này có thể khó  
thuyết phục, ví dụ như người cướp giật bị bắt  
quả tang, với đầy đủ chứng cứ mà vẫn không  
bị coi là có tội? Nhưng suy đoán không phạm  
tội là tình trạng pháp lý khách quan của người  
bị buộc tội dựa trên các quy định của pháp luật.  
Vì vậy, nó có tính bắt buộc phải tuân thủ đối  
với tất cả mọi người, kể các cơ quan tiến hành  
tố tụng, những người tiến hành tố tụng. Pháp  
luật nghiêm cấm đối xử với người bị buộc tội  
như là người phạm tội khi mà chưa có bản án  
của tòa án kết tội người đó đã có hiệu lực pháp  
luật. Tình trạng này không phụ thuộc vào ý chí  
chủ quan của các cơ quan tiến hành tố tụng và  
không cản trở hoạt động của các cơ quan tiến  
hành tố tụng trong việc thu thập chứng cứ để  
chứng minh tội phạm và người phạm tội. Các  
cơ quan tiến hành tố tụng có quyền có chính  
kiến của mình về lỗi của người bị buộc tội,  
nhưng phải thể hiện chính kiến của mình trong  
nguyên tắc suy đoán không phạm tội. Suy đoán  
không phạm tội được thừa nhận cho đến khi có  
bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp  
luật. Nói cách khác, chỉ có tòa án mới có quyền  
tuyên bố một người là người có phạm tội. Đây  
là một trong những bảo đảm quan trọng đối với  
quyền con người của người bị buộc tội. Bởi lẽ,  
Tòa án thực hiện chức năng xét xử với những  
nguyên tắc dân chủ, công khai tại phiên tòa  
theo trình tự tố tụng chặt chẽ được pháp luật  
quy định. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự và  
kết tội người nào đó phải tuân thủ các quy định  
của pháp luật trong đó bao hàm cả những bảo  
đảm pháp lý để sao cho trách nhiệm hình sự  
được áp dụng với người phạm tội đích thực và  
phù hợp với mức độ lỗi của người đó. Suy đoán  
không phạm tội có nghĩa là lỗi của người bị  
buộc tội phải được chứng minh một cách thuyết  
phục tại phiên tòa. Việc nghi ngờ người phạm  
tội là chưa đủ, việc khởi tố hình sự với người  
đó cũng chưa đủ. Chừng nào những chứng cứ  
buộc tội đối với người bị buộc tội chưa được  
chứng minh trước phiên tòa và chưa được hội  
đồng xét xử thừa nhận thì chừng đó, người bị  
buộc tội vẫn là người không phạm tội.  
Nguyên tắc suy đoán không phạm tội là  
nền tảng cho những bảo đảm pháp lý về quyền  
bào chữa của người bị buộc tội. Nói cách khác,  
nguyên tắc suy đoán không phạm tội có mối  
quan hệ qua lại mật thiết với quyền bào chữa  
của người bị buộc tội. Quyền bào chữa của  
người bị buộc tội chỉ có thể được thực hiện một  
cách đầy đủ và hiện thực nếu tuân thủ nguyên  
tắc suy đoán không phạm tội. Vi phạm quyền  
bào chữa của người bị buộc tội luôn luôn là vi  
phạm nguyên tắc suy đoán không phạm tội ở  
trong chừng mực nhất định. Và ngược lại, vi  
phạm nguyên tắc suy đoán không phạm tội tất  
yếu dẫn đến vi phạm quyền bào chữa của người  
bị buộc tội.  
Nguyên tắc suy đoán không phạm tội có tác  
dụng định hướng cho những người tham gia  
tố tụng trong quan hệ với người bị buộc tội.  
Nguyên tắc này loại trừ định kiến, kết tội một  
chiều trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.  
Dù chứng cứ thu thập trong vụ án đến đâu, dù  
niềm tin nội tâm của những người tiến hành tố  
tụng về lỗi của người bị buộc tội thế nào thì họ  
vẫn phải có nghĩa vụ làm sáng tỏ các tình tiết,  
sự kiện của vụ án một cách khách quan, toàn  
diện và đầy đủ. Nguyên tắc này thể hiện thái độ  
trân trọng tới số phận con người, hạn chế những  
sai lầm trong hoạt động tư pháp, làm oan người  
không phạm tội.  
Cơ quan thông tin đại chúng có quyền đưa  
7
2010  
Số 13(174) NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP  
I
I 31  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
tin về các vụ án. Đó chính là các cơ quan có  
thể giúp cho nguyên tắc xét xử công khai và  
tác dụng tuyên truyền pháp luật của Tòa án  
vượt xa không gian chật hẹp của phòng xử án.  
Cơ quan thông tin đại chúng không chỉ làm dư  
luận xã hội chú ý về những vấn đề nội dung  
của vụ án mà còn chú ý cả những khía cạnh  
khác của hoạt động tố tụng như những khiếm  
khuyết, sai phạm, văn hóa ứng xử, sự thiếu  
khách quan của những người tiến hành tố tụng.  
Khi thông tin của cơ quan thông tin đại chúng  
là xác thực thì những trường hợp trên có tác  
dụng tích cực trong việc tuân thủ pháp chế,  
nâng cao vai trò, trách nhiệm của cơ quan tiến  
hành tố tụng. Nhưng thực tế cho thấy, có những  
trường hợp vụ án mới trong giai đoạn điều tra,  
truy tố và đang xét xử thì cơ quan thông tin  
đại chúng đã đăng những bài viết mà trong đó  
người bị buộc tội được mô tả, bị miệt thị là  
“hắn”, “y”, “thị”, “kẻ”, “tội phạm nguy hiểm”  
hoặc “đồng bọn”… phải đền tội bằng những  
hình phạt nghiêm khắc nhất. Điều muốn nói ở  
đây là, khi vụ án đang ở trong giai đoạn điều  
tra, truy tố hoặc đang xét xử, chưa có bản án có  
hiệu lực pháp luật, thì người bị buộc tội vẫn là  
người không phạm tội mà cơ quan thông tin đại  
chúng đã tuyên bản án kết tội đối với người bị  
buộc tội. Hội đồng xét xử độc lập và chỉ tuân  
theo pháp luật, bản án, quyết định của hội đồng  
xét xử phải dựa vào các chứng cứ được xem  
xét công khai tại phiên tòa, không bị ràng buộc  
bởi bất kỳ ý kiến đánh giá về chứng cứ, về tình  
tiết, sự kiện trong vụ án của bất kỳ ai. Nhưng  
hội đồng xét xử bao gồm những con người và  
họ có thể phải chịu tác động tâm lý từ cơ quan  
thông tin đại chúng khi nghị án. Không loại trừ  
khả năng trong số những người đọc báo, xem  
truyền hình, nghe đài có thể có những người  
tham gia phiên tòa với tư cách người bị hại,  
người làm chứng, người giám định hay người  
phiên dịch. Liệu có gì bảo đảm rằng những lời  
khai của họ hoàn toàn không bị ảnh hưởng chi  
phối của những thông tin về vụ án mà họ biết  
được qua các phương tiện thông tin đại chúng?  
Và như vậy, quá trình làm sáng tỏ sự thật của  
vụ án sẽ trở nên khó khăn hơn. Nhưng vấn đề  
cần đặt ra ở đây là, nếu bản án của hội đồng xét  
xử có những nội dung giống như cơ quan thông  
tin đại chúng đã khẳng định, thì trong nhận thức  
của công chúng, cơ quan thông tin đại chúng là  
người xử án, còn hội đồng xét xử là người chạy  
theo cơ quan thông tin đại chúng hoặc hội đồng  
xét xử đã chịu sự tác động của cơ quan thông  
tin đại chúng khi thực hiện chức năng xét xử.  
Nguyên tắc suy đoán không phạm tội là  
nguyên tắc hiến định không ai được vi phạm,  
kể cả cơ quan thông tin đại chúng. Thực tiễn  
cho thấy, đã có cơ quan thông tin đại chúng  
và tác giả bài báo bị Tòa án buộc phải xin lỗi  
và bồi thường cho người bị báo gọi là “tên tội  
phạm” trước khi có bản án kết tội của Tòa án.  
Một vấn đề nữa là, cơ quan thông tin đại chúng  
có quyền chụp hình người bị buộc tội tại phiên  
tòa và đăng hình hay không?  
Quan điểm thứ nhất phản đối việc chụp và  
đăng hình người bị buộc tội nếu không có sự  
đồng ý của người bị buộc tội. Ý kiến này còn  
cho rằng, ở khía cạnh đạo đức không nên bắt  
người bị buộc tội phải chịu thêm hình phạt của  
dư luận bên cạnh hình phạt của nhà nước.  
Quan điểm thứ hai cho rằng cơ quan thông  
tin đại chúng có quyền chụp và đăng hình người  
bị buộc tội vì mục đích là lên án, trừng trị và  
phòng ngừa chung.  
Quan điểm thứ ba lại trung dung, vừa cho  
phép, vừa không cho phép việc chụp và đăng  
hình người bị buộc tội. Việc chụp hình và đăng  
hình phải có giới hạn, khi nào được và khi nào  
không phải rõ ràng.  
Theo bản chất của nguyên tắc suy đoán  
không phạm tội, chúng tôi cho rằng, quan điểm  
thứ nhất là quan điểm hợp lý. Bởi, người bị buộc  
tội dù đang đứng trước hội đồng xét xử vẫn là  
người không phạm tội, cho nên các quyền về  
nhân thân, trong đó có quyền của cá nhân đối  
với hình ảnh của họ vẫn phải được pháp luật  
tôn trong và bảo vệ.  
3.2. Nguyên tắc suy đoán không phạm tội và  
nghĩa vụ chứng minh  
Theo nguyên tắc xác định sự thật của vụ án,  
nghĩa vụ chứng minh lỗi của người bị buộc tội  
là nghĩa vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng,  
7
2010  
NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP Số 13(174)  
32 I  
I
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
người bị buộc tội không có nghĩa vụ chứng  
minh sự không phạm tội của mình mà đó lại là  
quyền của người bị buộc tội.  
Trường phái lôgic hình thức cho rằng, người  
buộc tội có nghĩa vụ chứng minh và bảo vệ lời  
buộc tội của mình, còn người bị buộc tội thì đưa  
ra lời bào chữa và bảo vệ sự không phạm tội  
của mình, nhưng cũng có nghĩa vụ chứng minh  
cho sự không phạm tội đó.  
quy định về trách nhiệm của cơ quan tiến hành  
tố tụng phải chứng minh lỗi của người bị buộc  
tội và người bị buộc tội có quyền chứng minh  
mình không phạm tội là nội dung của nguyên  
tắc suy đoán không phạm tội:  
- Trường hợp người bị buộc tội không đưa  
ra chứng cứ, không trả lời câu hỏi của bên buộc  
tội thì không có nghĩa là họ đã thừa nhận có  
phạm tội. Tham gia chứng minh không phạm  
tội là quyền của người bị buộc tội, nên sử dụng  
quyền này hay không, họ toàn quyền quyết  
định. Cho nên, người bị buộc tội có thể từ chối  
khai báo, từ chối tham gia vào các hoạt động  
điều tra nào đó hoặc có thể đưa ra chứng cứ.  
Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ  
quyền của mình không thể nhìn nhận như sự  
kiện làm phát sinh hậu quả pháp lý bất lợi cho  
người bị buộc tội. Vì vậy, một kết luận quan  
trọng được rút ra từ nguyên tắc suy đoán không  
phạm tội là: “khi không chứng minh được sự  
không phạm tội của người bị buộc tội không có  
nghĩa là việc phạm tội của người bị buộc tội đã  
được chứng minh”.  
- Trường hợp người bị buộc tội trình bày lời  
khai gian dối thì khác với người làm chứng,  
người bị buộc tội không phải chịu trách nhiệm  
hình sự về lời khai gian dối của mình và luật  
cũng không quy định tình tiết này là tình tiết  
tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với người bị  
buộc tội.  
- Trường hợp người bị buộc tội nhận tội. Khi  
vụ án không có người làm chứng thì tình tiết vụ  
án xảy ra như thế nào chỉ có người bị buộc tội  
biết rõ. Do vậy, lời nhận tội của người bị buộc  
tội là nguồn chứng cứ vô cùng quan trọng trong  
việc giải quyết vụ án. Có lập luận cho rằng, nếu  
là người bình thường, người bị buộc tội có bao  
giờ tự nhận tội để phải chịu hình phạt khi mình  
không phạm tội hay không? Từ lập luận này đã  
hình thành tư duy pháp lý cho rằng lời nhận tội  
của người bị buộc tội là lời khai xác thực đáng  
tin cậy nhất. Luật Tố tụng hình sự của một số  
nước đề cao giá trị lời nhận tội của người bị buộc  
tội và coi đó như là chứng cứ vua. Khi người bị  
buộc tội nhận tội tại phiên tòa thì ngừng tranh  
luận, đoàn bồi thẩm ngừng hoạt động và hội  
Còn theo trường phái “cùng chứng minh”  
thì người bị buộc tội cũng phải có nghĩa vụ  
chứng minh. Nếu không thừa nhận việc cùng  
có nghĩa vụ chứng minh thì có thể làm lọt tội  
phạm. Trường phái này được áp dụng phổ biến  
trong thời phong kiến. Người bị buộc tội cũng  
phải có nghĩa vụ chứng minh sẽ dẫn tới hệ quả  
trường hợp người bị buộc tội không chứng minh  
được sự không phạm tội của mình sẽ bị coi là  
có phạm tội mà không cần có những chứng cứ  
nào khác.  
Trường phái “ai đưa ra lời buộc tội, người  
đó phải chứng minh là có phạm tội” thì theo  
luật La Mã cổ đại, “chứng minh là nghĩa vụ  
của người khẳng định chứ không phải nghĩa vụ  
của người phủ nhận”. Tư tưởng này lúc đầu chỉ  
áp dụng trong pháp luật tố tụng dân sự, sau đó  
dần dần được áp dụng trong pháp luật tố tụng  
hình sự. Nhiều nước trên thế giới quan niệm  
vụ án hình sự cũng là “vụ kiện”- xung đột lợi  
ích pháp lý giữa một bên là nhà nước (người  
buộc tội) và một bên là người bị buộc tội. Từ  
đó hình thành trường phái “ai đưa ra lời buộc  
tội, người đó phải chứng minh là có phạm tội”.  
Theo trường phái này, người bị buộc tội không  
có nghĩa vụ chứng minh sự không phạm tội của  
mình mà đó là quyền của họ vì người bị buộc  
tội luôn được suy đoán không phạm tội.  
BLTTHS nước ta đã tiếp thu tư tưởng tiến  
bộ này, nhưng lại coi đó là nội dung của nguyên  
tắc xác định sự thật của vụ án chứ không phải là  
nội dung của nguyên tắc suy đoán không phạm  
tội. Chúng tôi cho rằng điều đó là không hợp  
lý, bởi vì nội dung của nguyên tắc xác định sự  
thật của vụ án không liên quan đến việc phân  
định nghĩa vụ chứng minh của các chủ thể trong  
quan hệ pháp luật tố tụng hình sự. Như vậy, cần  
7
2010  
Số 13(174) NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP  
I
I 33  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
đồng xét xử chuyển sang phần nghị án ngay.  
Quan điểm này là không khoa học vì thực tiễn  
cho thấy, có những trường hợp người bị buộc  
tội hoàn toàn ý thức về những hậu quả bất lợi  
đối với mình khi nhận tội, nhưng vẫn nhận tội  
mặc dù không phạm tội với nhiều mục đích khác  
nhau, như nhận tội thay cho người thân, nhận  
một tội nhẹ hơn để lẩn tránh việc phát hiện một  
tội khác nặng hơn. Hoặc có thể do sự trùng hợp  
ngẫu nhiên, người bị buộc tội nhận tội vì nghĩ  
rằng mình phạm tội để mong được hưởng tình  
tiết giảm nhẹ trong khi người bị buộc tội lại là  
người hoàn toàn không phạm tội.  
Theo BLTTHS, mọi chứng cứ đều có giá trị  
chứng minh như nhau, không có chứng cứ nào  
được xác định là có giá trị chứng minh cao hơn  
các chứng cứ khác. Như vậy, khi người bị buộc  
tội nhận tội tại phiên tòa thì hội đồng xét xử  
vẫn tiếp tục xét hỏi bình thường và kiểm tra  
lời khai nhận tội của người bị buộc tội với các  
chứng cứ khác cho tới khi mọi tình tiết của vụ  
án được sáng tỏ. Có nghĩa là lúc này nội dung  
của nguyên tắc suy đoán không phạm tội vẫn có  
hiệu lực khi người bị buộc tội nhận tội. Người  
bị buộc tội nhận tội không làm chấm dứt nghĩa  
vụ chứng minh của bên buộc tội và sự đánh giá  
chứng cứ của hội đồng xét xử. Sự kiện này có  
thể chỉ làm cho nghĩa vụ chứng minh của bên  
buộc tội được thực hiện dễ dàng hơn, lời nhận  
tội của người bị buộc tội chỉ có thể được coi là  
chứng cứ nếu phù hợp với các chứng cứ khác  
của vụ án. Không được dùng lời nhận tội của  
người bị buộc tội làm chứng cứ duy nhất để  
kết tội.  
vô tư, trọng tài trong hoạt động xét xử. Viện  
kiểm sát là cơ quan buộc tội có trách nhiệm  
thu thập, đưa ra chứng cứ làm cơ sở cho việc  
bảo vệ quyết định truy tố của mình. Quyết định  
đó cần có những chứng cứ gì, đã chứng minh  
được lỗi của người bị buộc tội hay chưa? nếu  
chứng cứ không đầy đủ có nghĩa là bên buộc tội  
chưa chứng minh được lỗi của người bị buộc  
tội, không chứng minh được lỗi của người bị  
buộc tội thì phải xem là đã chứng minh được sự  
không phạm tội của người bị buộc tội. Tòa án  
phải tuyên bố người bị buộc tội không phạm tội.  
Tuy nhiên, trong thực tiễn yêu cầu này không  
phải lúc nào cũng được tuân thủ.  
Vậy, Tòa án có nghĩa vụ chứng minh lỗi của  
người bị buộc tội hay không? Có quan điểm  
cho rằng căn cứ vào Điều 10 của BLTTHS về  
xác định sự thật của vụ án thì Tòa án cũng có  
nghĩa vụ chứng minh lỗi của người bị buộc  
tội. Theo chúng tôi, Tòa án không có nghĩa vụ  
chứng minh lỗi của người bị buộc tội mà đó chỉ  
là quyền của Tòa án khi thấy cần thiết. Bởi vì,  
tuy Tòa án cũng là cơ quan tiến hành tố tụng  
nhưng không phải là cơ quan thực hiện chức  
năng buộc tội, Tòa án chỉ thực hiện chức năng  
duy nhất là xét xử. Xét xử - trọng tài là phải xác  
định được có hay không có các hành vi, tình  
tiết, sự kiện của vụ án mà bên buộc tội và bên bị  
buộc tội đưa ra. Sau đó đánh giá về các chứng  
cứ, hành vi, tình tiết, sự kiện đó có những dấu  
hiệu đặc trưng của tội nào được quy định trong  
Bộ luật Hình sự. Tòa án chỉ có nghĩa vụ chứng  
minh và trả lời cho các nội dung trong bản án  
và quyết định của mình. Ví dụ, khi Tòa án ra  
bản án tuyên bố người bị buộc tội phạm tội thì  
Tòa án phải lập luận, chứng minh, viện dẫn  
trong bản án vì sao Tòa án chấp nhận lời buộc  
tội là có căn cứ và tuyên bố người bị buộc tội  
phạm tội. Ngược lại, khi Tòa án ra bản án tuyên  
bố người bị buộc tội không phạm tội thì Tòa án  
cũng phải lập luận, chứng minh, viện dẫn trong  
bản án vì sao Tòa án đã không chấp nhận lời  
buộc tội mà chấp nhận lời bào chữa.  
- BLTTHS quy định trước khi mở phiên tòa,  
thẩm phán được phân công thụ lý vụ án trả lại  
hồ sơ để điều tra bổ sung khi thấy cần phải xem  
xét thêm những chứng cứ quan trọng đối với  
vụ án mà không thể bổ sung tại phiên tòa được  
(Điều 179). Tại phiên tòa, hội đồng xét xử cũng  
có quyền yêu cầu điều tra bổ sung bằng cách  
trả lại hồ sơ về cho Viện kiểm sát (Điều 199).  
Về lý luận, những quy định này đã làm cho Tòa  
án chưa thực sự là cơ quan thực hiện chức năng  
duy nhất là xét xử. Tòa án đã làm thay công  
việc của bên buộc tội, làm mất tính khách quan,  
3.3. Mọi hoài nghi về người bị buộc tội phải  
được giải thích theo hướng có lợi cho người  
bị buộc tội  
7
2010  
NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP Số 13(174)  
34 I  
I
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
Hoài nghi là trạng thái cảm giác thiếu tự  
tin, nhận thức chưa đầy đủ, không khẳng định  
được sự thật hay không sự thật của một giả  
thiết nào đó. Nguồn gốc nhận thức của trạng  
thái hoài nghi là sự phản ánh không đầy đủ các  
tình tiết, khía cạnh, các mối liên hệ cần thiết  
để có được tri thức toàn diện, bản chất về sự  
vật, hiện tượng.  
Trong hoạt động nhận thức, trạng thái hoài  
nghi có hai tác dụng. Một là, nó buộc chủ thể  
hoạt động nhận thức phải thận trọng với những  
kết luận khi mà các thông tin chưa xác thực và  
đầy đủ. Hai là, nó là động lực cho hoạt động  
nhận thức tiếp theo để bổ sung những thông  
tin còn thiếu, để có tri thức đầy đủ và xác thực  
hơn về sự vật, hiện tượng.  
Trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử  
cũng xảy ra những tình huống khi những thông  
tin, chứng cứ về các hành vi, sự kiện, tình tiết  
cụ thể của vụ án liên quan đến xác định lỗi  
của người bị buộc tội có những mâu thuẫn  
nên không thể khẳng định được một cách dứt  
khoát có hay không có hành vi, tình tiết, sự  
kiện đó.  
Có trường hợp bên buộc tội cho rằng người  
bị buộc tội là có phạm tội, còn người bị buộc tội  
lại phủ nhận lời buộc tội đó. Những chứng cứ  
thu thập được trong vụ án không đủ để khẳng  
định bên buộc tội là đúng và cũng không đủ  
để bác bỏ hoàn toàn lời phủ nhận của người bị  
buộc tội. Nếu mọi hoài nghi về lỗi của người  
bị buộc tội được giải thích về phía có lợi cho  
bên buộc tội thì từ suy đoán không phạm tội  
sẽ trở thành suy đoán có phạm tội. Có nghĩa  
là người bị buộc tội bị kết tội thì việc xét xử  
có khi không đúng người, mục đích của hình  
phạt cũng không đạt được, vì người phạm tội  
đích thực phải bị trừng phạt chứ không phải  
người không phạm tội. Xuất phát từ nguyên  
tắc suy đoán không phạm tội, mọi hoài nghi về  
lỗi của người bị buộc tội phải được giải thích  
theo hướng có lợi cho người bị buộc tội như  
là một bảo đảm quyền con người của người bị  
buộc tội, đồng thời đó là trách nhiệm của các  
cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định được  
sự thật khách quan của vụ án.  
4. Kết luận  
Dưới góc độ bảo vệ quyền con người trong  
tố tụng hình sự của người bị buộc tội, căn cứ vào  
địa vị pháp lý đặc thù của những người bị buộc  
tội là người tham gia tố tụng hình sự “yếu thế”  
hơn cả, bị mất đi một số quyền mà pháp luật  
quy định, lại phải đối trọng với các cơ quan tiến  
hành tố tụng thực hiện chức năng buộc tội là Cơ  
quan điều tra, Viện kiểm sát. Họ phải đối mặt  
với cả bộ máy cơ quan nhà nước hoạt động có  
tính chuyên nghiệp, với đội ngũ Điều tra viên,  
Kiểm sát viên được đào tạo bài bản, được nhà  
nước trả lương và cung cấp trang thiết bị làm  
việc cần thiết. Họ cũng có thể bị áp dụng một  
số biện pháp cưỡng chế và hoàn toàn không có  
khả năng bình đẳng với các bên buộc tội trong  
hoạt động chứng minh ở giai đoạn điều tra (thu  
thập, cung cấp chứng cứ). Vì vậy, những người  
bị buộc tội là những người có khả năng bị tổn  
thương các quyền con người trong tố tụng hình  
sự nhất khi tham gia tố tụng hình sự. Do vậy,  
bảo vệ các quyền con người trong tố tụng hình  
sự của những người bị buộc tội là đối tượng  
trọng tâm của việc bảo vệ quyền con người  
trong tố tụng hình sự. Để có thể hoàn thiện các  
quy định về nguyên tắc suy đoán không phạm  
tội, chúng tôi đề nghị cần sửa đổi, bổ sung một  
số điều trong BLTTHS như sau:  
Sửa đổi, bổ sung Điều 9 của BLTTHS  
Thứ nhất, sửa tên điều luật “Không ai bị coi  
là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản  
án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật”  
thành “nguyên tắc suy đoán không phạm tội”.  
Thứ hai, sửa đổi nội dung điều luật “Không  
ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi  
chưa có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực  
pháp luật” thành “Người bị buộc tội (người bị  
tam giữ, người bị khởi tố hình sự, người bị đưa  
ra xét xử) được coi là không có tội và không  
phải chịu hình phạt cho đến khi có bản án kết  
tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án”.  
Bổ sung vào điều này nội dung: “Trách  
nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan  
tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền  
chứng minh là mình không phạm tội.  
Mọi hoài nghi về lỗi của người bị buộc tội  
7
2010  
Số 13(174) NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP  
I
I 35  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
mà không thể làm rõ được trong vụ án phải  
được giải thích về phía có lợi cho người bị  
buộc tội”.  
tội và không thể bổ sung chứng cứ tại phiên  
tòa được. Bởi vì, theo quy định của pháp luật,  
phiên tòa phải liên tục và khi kết thúc phiên  
tòa, hội đồng xét xử phải ra được bản án để  
quyết định tuyên bố người bị buộc tội có phạm  
tội hay không phạm tội, chứ không thể có một  
quyết định nào khác.  
Tóm lại, việc quy định nguyên tắc suy đoán  
không phạm tội trong BLTTHS không làm cản  
trở hoạt động tố tụng hình sự của các cơ quan  
tiến hành tố tụng trong lĩnh vực phòng, chống  
tội phạm, không là cơ sở để làm lọt tội phạm.  
Quy định nguyên tắc suy đoán không phạm tội  
sẽ làm tăng giá trị con người trong xã hội, làm  
tăng vai trò, trách nhiệm của các cơ quan tiến  
hành tố tụng cũng như những người tiến hành  
tố tụng, hạn chế tối đa các trường hợp oan, sai;  
tôn trọng công dân, hướng tới xây dựng một  
nhà nước pháp quyền, nhân đạo, văn hóa, văn  
minh và vì con người.  
Sửa đổi Khoản 1, Điều 179 của BLTTHS  
Sửa đổi điều khoản này theo hướng chỉ cho  
phép Thẩm phán được phân công thụ lý vụ án  
trả lại hồ sơ vụ án khi Viện kiểm sát có yêu  
cầu để điều tra bổ sung trước khi mở phiên  
tòa. Thẩm phán được phân công thụ lý vụ án  
không được quyết định trước về việc đánh giá  
chứng cứ của vụ án có đủ hay không, vì sẽ  
không khách quan. Vấn đề xác định có hay  
không có các hành vi, tình tiết, sự kiện của  
vụ án là thuộc về phần nghị án của hội đồng  
xét xử và được tuyên bố, quyết định trong bản  
án.  
Sửa đổi Điều 199 của BLTTHS  
Sửa đổi điều này theo hướng không cho  
phép Hội đồng xét xử có quyền trả hồ sơ để  
điều tra bổ sung khi không đủ chứng cứ buộc  
nên thành công trong việc tổ chức thực hiện một  
số văn bản luật. Gần đây nhất, việc tổ chức tuyên  
truyền về nội dung, lợi ích và thậm chí là về các  
chế tài liên quan đến việc đội mũ bảo hiểm đã  
góp phần vào những thành công ban đầu của quy  
định bắt buộc đội mũ bảo hiểm khi ngồi trên xe  
gắn máy27.  
VIỆC TỔ CHỨC THỰC  
HIỆN PHÁP LUẬT ...  
Đảm bảo công khai, minh bạch trong việc  
tổ chức thực hiện pháp luật còn bao hàm nghĩa  
tạo cơ hội cho các chủ thể trong xã hội được  
tham gia phản biện về nội dung của các quy  
định pháp luật cũng như cách thức tổ chức  
thực hiện các quy định pháp luật đó. Tạo cơ  
hội để thu nhận các phản biện sẽ giúp cho  
những cơ quan chịu trách nhiệm tổ chức thực  
hiện pháp luật phát hiện được những điểm bất  
cập trong quá trình thực hiện công việc. Đó là  
những cơ sở quan trọng đề điều chỉnh, hoàn  
thiện và nâng cao hiệu quả của việc tổ chức  
thực hiện pháp luật.  
(Tiếp theo trang 13)  
Luật Doanh nghiệp 1999 và Luật Doanh nghiệp  
2005) được đưa vào áp dụng, vẫn có hơn 73% số  
cơ quan quản lý nhà nước, các chuyên gia kinh  
tế được hỏi cho rằng cần tiếp tục tuyên truyền về  
hai bộ luật này với lý do chính là vẫn có nhiều  
doanh nghiệp chưa hiểu rõ và làm theo đúng các  
quy định của các luật này26.  
Ngược lại, việc tuyên truyền, thông tin đầy  
đủ về nội dung của các quy định pháp luật cũng  
như cách thức thực hiện pháp luật là yếu tố tạo  
(26) Hoàng Quốc Việt, Thực thi pháp luật: khoảng trống từ bên trong, Diễn đàn doanh nghiệp Thứ Bảy, 22/11/2008 - 10:26’ AM.  
(27) Hồ Nghĩa Dũng, “Một năm thực hiện quy định bắt buộc đội mũ bảo hiểm: Bước đầu hình thành văn hoá giao thông”, Giao thông  
Vận tải, 08:22’ AM - Thứ sáu, 12/12/2008.  
7
2010  
NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP Số 13(174)  
36 I  
I
pdf 9 trang Thùy Anh 11360 Free
Bạn đang xem tài liệu "Quy định nguyên tắc suy đoán không phạm tội để bảo vệ quyền con người của người bị buộc tội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfquy_dinh_nguyen_tac_suy_doan_khong_pham_toi_de_bao_ve_quyen.pdf