Chính sách hình sự đối với hình phạt tử hình tại Việt Nam
CHÍNH SÁCH HÌNH SỰ ĐỐI VỚI HÌNH PHẠT
TỬ HÌNH TẠI VIỆT NAM
Trần Thị Hồng Ngọc, Võ Đăng Khoa, Hồ Tùng Lâm
Khoa Luật – Trường Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh, HUTECH
Email: hotunglam9946@gmail.com
TÓM TẮT
Tử hình là một hình phạt tước đi quyền sống của một người bị kết án, tước bỏ cơ hội tái hòa nhập và
phục thiện của họ. Thế nên vấn đề “bỏ án tử hình” ra khỏi hệ thống hình phạt trong pháp luật hình sự Việt
Nam đang là vấn đề gây tranh cãi và được đề cập thường xuyên trên các diễn đàn khoa học cả trong
nước và ngoài nước. Để từng bước hoàn thiện Bộ luật Hình sự thì việc xem xét, cân nhắc vấn đề này
đáng được quan tâm chú trọng. Bài viết sau đây sẽ trình bày về những tác động liên quan đến vấn đề
trên dưới cái nhìn và phân tích từ góc độ pháp luật.
Từ khóa: Hình phạt; tử hình; quyền sống; hoàn thiện Bộ luật Hình sự.
1. VẤN ĐỀ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT TỬ HÌNH Ở MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI
Định nghĩa về hình phạt: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy
định trong Bộ luật Hình sự, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại
phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó.”16
Theo Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: “Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp
dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc
gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng khác do Bộ luật này quy định.”17
1.1. Pháp luật hình sự ở một số quốc gia quy định về hình phạt tử hình
Hình phạt tử hình hầu như đã thực hiện ở nhiều quốc gia, ngoại trừ những quốc gia có tôn giáo quốc gia
cấm hình phạt tử hình. Ngày nay với cách nhìn nhận tiến bộ hơn thì án tử hình xét về mặt đạo đức, hình
sự và thực tế là một vấn đề tranh cãi sôi nổi ở nhiều quốc gia. Tại các quốc gia thành viên EU, theo Hiệp
ước Lisbon đề cập đến việc cấm hình phạt tử hình.
Điển hình trong đạo luật nhân quyền 1998 (Human Rights Act 1998) của Vương quốc Anh có trích đoạn
như sau:
“Article 2: Right to life
1_ Everyone has the right to life.
2_ No one shall be condemned to the death penalty or excuted.”
Có thể được hiểu là :
“Điều 2: Quyền sống
1_ Mọi người đều có quyền được sống.
2_ Không một ai bị kết án tử hình hoặc xử tử.”
16
Điều 30, BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Khoản 1, Điều 40, BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
17
153
Ngược lại, nhiều quốc gia như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore, Việt Nam… vẫn sẽ duy trì án
tử hình với mục đích tạo hình phạt đủ sức răn đe với các loại tội phạm nghiêm trọng nhằm đảm bảo an
ninh chung cho xã hội. Theo thống kê của tổ chức Ân xá Quốc tế (Amnesty International –AI) thì có hơn
65% dân số thế giới sống tại các quốc gia nơi có án tử hình vẫn được áp dụng làm hình phạt, trong đó có
bốn quốc gia đông dân nhất thế giới là Trung Quốc, Ấn Độ, Hoa Kỳ và Indonesia.
Theo thống kê mới nhất của Tổ chức Ân xá Quốc tế (Amnesty Internation –AI) thì tính đến cuối năm
2015:
Hình phạt tử hình
15%
3%
32%
50%
còn án tử hình
bỏ án tử hình trong luật
tử hình với tội đặc biệt nghiêm trọng
bãi bỏ trên thực tế
Điều này có thể thấy việc quy định án tử hình ở mỗi quốc gia tùy thuộc vào nhu cầu an ninh và mức
nghiệm trọng của các loại tội phạm được quy định trong pháp luật hình sự của các quốc gia đó. Nghiên
cứu luật hình sựcủa một số nước châu Á cho thấy một số quốc gia đã xóa bỏ hình phạt tử hình trong luật
hình sự, nhưng sau đó lại khôi phục lại.
Tiêu biểu là Philippines: năm 1987, Philippines là quốc gia đầu tiên ở châu Á xóa bỏ hình phạt tử hình đối
với tất cả tội phạm. Tuy nhiên do tình hình tội phạm gia tăng nên năm 1993 hình phạt tử hình được khôi
phục lại, nhưng đến tháng 6/2006 lại chính thức được xóa bỏ ở Philippine.Ngoài ra, còn có Indonesia,
Nepal, Gambia, Papua New Guinea… là những quốc gia đã khôi phục hình phạt tử hình sau khi xóa bỏ.18
Trung Quốc là một trong số các quốc gia châu Á cho đến thời điểm hiện nay vẫn duy trì hình phạt tử hình
trong pháp luật hình sự.
Điều 48 BLHS năm 1979 sửa đổi, bổ sung năm 1997 của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định:
“Tử hình chỉ được áp dụng với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Nếu chưa cần thiết phải thi hành án
ngay đối với người bị kết án tử hình, có thể tuyên hoãn thi hành án tử hình sau 2 năm ngay tại thời điểm
tuyên bản án tử hình. Trừ các bản án tử hình do chính Tòa án nhân dân tối cao tuyên theo luật định, tất
cả các bản án tử hình khác phải được gửi lên Tòa án nhân dân tối cao phê chuẩn. Tòa án nhân dân tối
cao có thể quyết định hoặc phê chuẩn bản án tử hình được hoãn thi hành.19”
Những quy định của pháp luật hình sự Trung Quốc cũng mang tính chất nhân đạo liên quan đến hình
phạt tử hình. Đó là việc quy định không áp dụng hình phạt này đối với hai đối tượng đặc biệt: người chưa
đủ 18 tuổi khi phạm tội và người phụ nữ có thai khi xét xử. Bên cạnh đó, trong Bộ luật Hình sự của nước
này còn có quy định về vấn đề hoãn thi hành án tử hình và căn cứ để được thay bằng hình phạt tù có thời
18
Vũ Thị Thúy, Hình phạt tử hình trong luật hình sự thế giới qua các thời kì lịch sử, tạp chí khoa học pháp lý, số 6,
tháng 12/2006.
19 Đinh Bích Hà (2007), Bộ luật Hình sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, NXB Tư pháp, Hà Nội.
154
hạn trong thời gian hoãn thi hành. Về hình thức thi hành án tử hình, bên cạnh hình thức xử bắn, Trung
Quốc hiện nay cũng có thêm hình thức thi hành án phổ biến trên thế giới: hình thức tiêm thuốc độc.20
Ngoài ra, Nhật Bản cũng quy định hình phạt tử hình trong hệ thống chế tài hình sự của mình. Mặc dù so
với Trung Quốc là nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa, Nhật Bản là nước theo chế độ quân chủ, nhưng
dường như các nước đều có quan điểm tương đồng về việc duy trì hình phạt tử hình trong luật.
Điều 11 BLHS Nhật Bản quy định: “1. Hình phạt tử hình được thi hành bằng cách thắt cổ trong trại giam;
2. Người bị tuyên án tử hình sẽ bị giam ở trong trại giam cho tới khi thi hành án”.21.Theo quy định này có
thể thấy trong Bộ luật Hình sự nước này không có quy định về các chủ thể phạm tội không bị áp dụng hay
không bị thi hành hình phạt tử hình.Thế nên tùy theo chế độ chính trị khác nhau mà chính sách, pháp luật
của mỗi nước khác nhau. Bộ luật Hình sự Nhật Bản quy định có 9 tội danh sau bị áp dụng hình phạt tử
hình.
Trong khi đó có nước lại quy định về hình phạt tử hình trong các đạo luật khác nhau. Chẳng hạn như
trong hệ thống pháp luật của Singapore, có 5 đạo luật có quy định về loại tội phạm có thể bị áp dụng hình
phạt tử hình, đó là: BLHS Singapore, Luật về chống lạm dụng ma túy, Luật về an ninh nội địa, Luật về sử
dụng vũ khí quân dụng và luật về chống bắt cóc. Ngoài ra có thể thấy Singapore là một trong những quốc
gia có luật về phòng chống ma túy nghiêm khắc nhất trên thế giới. Trong đó mức án tử hình cũng được
áp dụng đối với người có hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán các loại ma túy như morphine,
heroin…Vụ án của Nguyễn Tường Vân vận chuyển trái phép chất ma túy trên đường quá cảnh tại
Singapore để bay từ Campuchia sang Úc là một minh chứng cho thấy sự nghiêm khắc và cứng rắn của
nhà cầm quyền và của luật pháp Singapore về việc áp dụng hình phạt tử hình bỏ qua sự can thiệp của
Chính phủ Úc và các tổ chức quốc tế khác.22
Cũng giống như Singapore, hình phạt tử hình ở Malaixia được quy định trong 3 đạo luật gồm: BLHS
Malaysia, Luật chống ma túy năm 1952 và Luật an ninh nội địa năm 1960. Theo BLHS Malaysia, các tội
danh sau có quy định hình phạt tử hình: tội phát động chiến tranh chống lại nhà vua, tội xúi giục nổi loạn,
tội giết người, tội xúi giục người khác tự sát, tội nỗ lực giết người của phạm nhânbị phạt tù chung thân, tội
bắt cóc nhằm giết người, tội cướp có tổ chức dẫn đến chết người.23 Malaysia là một trong số ít quốc gia
còn duy trì thi hành án tử hình bằng hình thức treo cổ.
Pháp luật hình sự Thái Lan cũng quy định hình phạt tử hình là một trong 5 loại hình phạt được áp dụng
đối với người phạm tội (tử hình, tù, quản chế, phạt tiền và tịch thu tài sản). Theo quy định của BLHS Thái
Lan tại chương 3, phần 1, quyển 1 thì hình phạt tử hình được thi hành bằng hình thức xử bắn. Pháp luật
hình sự Thái Lan quy định hình thức thi hành hình phạt tử hình là hình thức tiêm thuốc độc và cả hình
thức xử bắn24.
1.2. Pháp luật hình sự Việt Nam quy định về hình phạt tử hình trong các BLHS 1985 sửa
đổi, bổ sung năm 1989, 1991, 1992, 1997, BLHS 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 và BLHS
2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017
Trải qua quá trình lịch sử, BLHS ngày càng được hoàn thiện qua các giai đoạn. Có thể thấy rằng, trong
BLHS 1985, hình phạt tử hình được quy định tại 29/195 tội danh, chiếm tỷ lệ 14,85%. Tuy nhiên, qua 04
lần sửa đổi, bổ sung BLHS năm 1985 (sửa đổi, bổ sung vào các năm 1989, 1991, 1992, 1997) thì số
lượng các tội danh có quy định hình phạt tử hình tăng từ 29 tội danh lên 44 tội danh, chiếm khoảng
20,64% (44/218 tội danh). Đến BLHS năm 1999, hình phạt tử hình được quy định tại 29/263 tội danh,
trong đó nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia có số lượng tội danh quy định hình phạt tử hình cao
nhất (07 tội danh); các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng và các tội xâm phạm sở hữu,
20 Đại học quốc gia Hà Nội (2009), Những điều cần biết về hình phạt tử hình, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.166-
169.
21 Trần Thị Hiển (2011), Bộ luật Hình sự Nhật Bản, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội.
22 Australia, Singapore bất hòa về án tử hình Tường Vân, báo VNEXPRESS, ngày 29/11/2005.
23 PhạmVăn Lợi (2010), Nghiên cứu so sánh pháp luật hình sự của một số nước ASEAN, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr.94
24 Đại học quốc gia Hà Nội (2009), Những điều cần biết về hình phạt tử hình, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.166-
169.
155
mỗi nhóm có 02 tội. Còn lại 07 nhóm tội khác thì hình phạt tử hình phân bố đều cho các nhóm, mỗi nhóm
có 03 tội danh có quy định hình phạt tử hình.
Như vậy, so với BLHS năm 1985 (qua 04 lần sửa đổi, bổ sung) thì số lượng các tội danh có quy định hình
phạt tử hình trong BLHS năm 1999 đã giảm xuống đáng kể, chỉ còn 29 tội danh, ngang với số lượng tội
danh có quy định của BLHS năm 1985. Tuy nhiên, nếu tính tỷ lệ trên tổng số các tội danh được quy định
tại Phần các tội phạm của BLHS lại chiếm tỷ lệ thấp hơn so với BLHS năm 1985 (chiếm tỷ lệ trên 11% so
với 14,87% của BLHS). Sau lần sửa đổi, bổ sung năm 2009, BLHS hiện hành chỉ còn 22/272 tội danh
thuộc 09 nhóm tội có quy định hình phạt tử hình. Trong đó, nhiều nhất là nhóm tội xâm phạm an ninh
quốc gia (07 tội danh), tiếp đến là nhóm tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh
(03 tội danh). Ít nhất là nhóm tội xâm phạm sở hữu và nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (mỗi
nhóm có 01 tội danh). Còn lại năm nhóm tội khác, mỗi nhóm có 02 tội danh.
Tại Chương VI của BLHS năm 2015 gồm 16 điều (từ Điều 30 đến điều 45) quy định về hệ thống hình
phạt. Đây là một trong những chương quan trọng, có nhiều nội dung sửa đổi, bổ sung nhằm tiếp tục thể
chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng về cải cách tư pháp được khẳng định tại Nghị quyết số 49-
NQ/TW của Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam ban hành ngày 2 tháng 6 năm 2005,
đặc biệt là chủ trương: “Đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội.
Giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại
tội phạm. Hạn chế áp dụng hình phạt tử hình theo hướng chỉ áp dụng đối với một số ít loại tội phạm đặc
biệt nghiêm trọng”, góp phần đảm bảo tính đồng bộ, khả thi và hiệu quả của hệ thống hình phạt. Đồng
thời, với quan điểm đặt ra việc xây dựng BLHS mới phải “Đổi mới nhận thức về chính sách hình sự mà
trọng tâm là đổi mới quan niệm về tội phạm và hình phạt, về cơ sở của trách nhiệm hình sự, về chính
sách xử lý đối với một số loại tội phạm và chủ thể phạm tội, đảm bảo các quy định của BLHS không chỉ là
công cụ pháp lý để các cơ quan chức năng đấu tranh, trấn áp tội phạm mà còn là cơ sở pháp lý để bảo vệ
sự phát triển lành mạnh các quan hệ kinh tế-xã hội…”, vì vậy, đối với hình phạt tử hình, tại điều 40, BLHS
năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 sửa đổi theo hướng giảm hình phạt tử hình. Đây là quan điểm
hoàn toàn phù hợp với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, nhất là khi chúng ta đang xây dựng nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Việc giảm hình phạt tử hình được thể hiện trên các phương diện sau:
Thứ nhất, giảm tội danh có quy định hình phạt tử hình. Theo quy định của BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ
sung năm 2009), có 29 tội danh quy định tại 22 điều luật có quy định mức hình phạt cao nhất là tử hình
(Tội phản bội Tổ quốc-Điều 78, Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân-Điều 79, Tội gián điệp-
Điều 80, Tội bạo loạn-Điều 82, Tội hoạt động phỉ-Điều 83, Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân
dân-Điều 84, Tội phá hoại cơ sở vật chất kỹ thuật của nước CHXHCN Việt Nam-Điều 85, Tội Giết người-
Điều 93, Tội Hiếp dâm trẻ em-Điều 112, Tội cướp tài sản-Điều 133, Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là
lương thực, thực phẩm, thuốc phòng bệnh, thuốc chữa bệnh-Điều 157, Tội sản xuất trái phép chất ma
túy-Điều 193, Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy-Điều 194, Tội
khủng bố-Điều 230a, Tội phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia-Điều 231, Tội
tham ô tài sản-Điều 278, Tội nhận hối lộ-Điều 279, Tội chống mệnh lệnh-Điều 316, Tội đầu hàng địch-
Điều 322, Tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược-Điều 341, Tội chống loài người-Điều 342, Tội
phạm chiến tranh-Điều 343). Nhưng, tại BLHS năm 2015 bỏ quy định hình phạt tử hình ở 08 tội danh quy
định tại 07 điều luật, đó là: Tội cướp tài sản (Điều 168), Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực,
thực phẩm, phụ gia thực phẩm (Điều 193), Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249), Tội chiếm đoạt
chất ma túy (Điều 252), Tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia (Điều
303), Tội chống mệnh lệnh (Điều 394), Tội đầu hàng địch (Điều 399). Như vậy, tử hình là hình phạt đặc
biệt chỉ áp dụng đối với 18 tội danh thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm
tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác
do bộ luật này quy định.
Thứ hai, mở rộng đối tượng không áp dụng hình phạt tử hình: Ngoài người chưa thành niên khi phạm tội,
phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi xét xử như quy định của
BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 bổ sung quy định người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử
cũng không bị áp dụng hình phạt tử hình.
156
Thứ ba, mở rộng đối tượng không bị thi hành hình phạt tử hình. Ngoài trường hợp người bị kết án là phụ
nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi như quy định của BLHS năm 1999, BLHS năm
2015 bổ sung 02 trường hợp bị kết án tử hình nhưng không bị thi hành mà chuyển thành tù chung thân:
(1) Người bị kết án là người từ đủ 75 tuổi trở lên; (2) Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội
nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư (3/4) tài sản tham ô, nhận hối lộ và
hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn.
Vậy tại sao Việt Nam đã và đang thực hiện việc áp dụng hình phạt tử hình theo xu hướng giảm dần, điều
này được lý giải như sau:
Về mặt pháp lý, quyền sống là quyền tự nhiên, thiêng liêng và bất khả xâm phạm của con người; không ai
được phép tước đi quyền sống của người khác, cho dù đó là nhà nước. Việc duy trì án tử hình đã vi
phạm quyền cơ bản và quan trọng nhất của con người là quyền được sống. Các văn bản quốc tế đã quy
định rất rõ quyền này như Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân
sự và chính trị 1966, Công ước về quyền trẻ em 1989,…
Về mặt đạo lý, việc xóa bỏ án tử hình sẽ làm tăng phẩm giá con người, nó thể hiện sự tôn trọng giá trị căn
bản nhất của con người là quyền sống. Việc áp dụng hình phạt tử hình là một sự tàn ác không cần thiết
đối với con người; nhất là trong những trường hợp xử oan người vô tội. Án tử hình không những ảnh
hưởng tới bản thân người bị kết án mà còn tác động nặng nề tới người thân của họ, và người phải thi
hành án tử hình.
Về hiệu quả, việc áp dụng hình phạt tử hình không góp phần làm giảm tội ác. Các cuộc khảo sát của Liên
hiệp quốc vào năm 1988, 1996 và 2002 đã chỉ ra: “Không có chứng cứ khoa học nào cho thấy việc thi
hành hình phạt tử hình có tác dụng ngăn chặn tội phạm tốt hơn so với việc áp dụng hình phạt tù chung
thân”. Thậm chí ở một số quốc gia, xóa bỏ hình phạt tử hình còn làm giải tỷ lệ tội phạm đặc biệt nghiêm
trọng. Điều này đã bác bỏ lập luận hình phạt tử hình có tác dụng ngăn ngừa tội phạm.
Về mục đích răn đe, nhiều công trình nghiên cứu đã kết luận hình phạt tử hình không có khả năng răn đe
người phạm tội. Niềm tin tác dụng răn đe của hình phạt tử hình dựa trên sự suy đoán rằng mọi người
phạm tội ác nghiêm trọng đều suy tính đến hậu quả họ phải gánh chịu trước khi thực hiện tội phạm. Tuy
nhiên, những người phạm tội ác nghiêm trọng như giết người ít khi suy tính đến hậu quả mà họ phải gánh
chịu. Có rất ít tử tù được hỏi cho rằng nỗi lo sợ hình phạt tử hình có tác dụng ngăn cản họ phạm tội.
Ngoài ra, việc thi hành án tử hình còn kích động bạo lực nhiều hơn là giảm tình hình tội phạm.
Việc xóa bỏ hình phạt tử hình là xu thế tất yếu của thời đại; các quốc gia, dù muốn hay không, dù sớm
hay muộn, cũng không thể đị ngược lại xu thế này.
Chính vì lẽ đó,việc BLHS của Việt Nam có những nội dung sửa đổi, bổ sung nêu trên để có lợi cho người
phạm tội, góp phần thể hiện rõ nét tính nhân đạo của pháp luật hình sự nước ta; vừa phù hợp với tính
chất nguy hiểm của từng loại tội phạm, vừa đảm bảo tính nghiêm minh, chặt chẽ, thượng tôn pháp luật và
phù hợp với xu hướng chung của thế giới. Đây không chỉ là sự học hỏi, kế thừa kinh nghiệm lịch sử lập
pháp của thế giới mà còn là mốc đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ của hoạt động lập pháp Việt Nam
trong bối cảnh vấn đề nhân quyền-quyền con người đang được đặt ra với sự quan tâm cao của toàn cầu.
Về Hình thức và trình tự thi hành án tử hình không được quy định trong Bộ luật Hình sự mà được quy
định tại Điều 59 Luật thi hành án hình sự năm 2010, đó là hình thức tiêm thuốc độc.
1.3 So sánh việc áp dụng hình phạt tử hình giữa Việt Nam và một số quốc gia khác
Dù là nước theo chế độ quân chủ lập hiến, nhưng Malaysia cũng coi hành vi chống lại vua hay hành vi
mưu đồ ám sát, thực tế đã thực hiện hành vi ám sát vua là hành vi xâm phạm an ninh quốc gia và bị xử
phạt cao nhất là tử hình. Trong khi đó, quốc gia theo chế độ cộng hòa như Singapore, hành vi nói trên đe
dọa đến sự an toàn của tổng thống hoặc người đứng đầu nhà nước cũng bị phạt tử hình. Cả Bộ luật Hình
sự Trung Quốc và Việt Nam đều coi các hành vi nói trên là hành vi mang tính chất đặc biệt nghiêm trọng,
vì vậy hầu hết các tội trong chương tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia đều quy định hình phạt tử hình.
157
Bên cạnh những điểm tương đồng, pháp luật của các nước nói trên vẫn có điểm khác nhau trong việc
quy định hình phạt tử hình đối với các nhóm tội phạm. Bộ luật Hình sự Singapore và Malaysia quy định
hành vi cướp tài sản mà kèm giết người thì mới bị áp dụng mức hình phạt cao nhất là tử hình. Còn nếu
chỉ riêng hành vi xâm phạm sở hữu, thì Bộ luật Hình sự hai quốc gia này, không quy định hình phạt tử
hình. Đối với các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, pháp luật Singapore, Malaysia, Thái Lan
không quy định hình phạt tử hình trong khi đó Trung Quốc là nước quy định nghiêm khắc chế tài xử lý đối
với nhóm tội phạm này. Trong Bộ luật Hình sự hiện hành củaViệt Nam có quy định tội sản xuất, buôn bán
hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 194) thuộc nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh
tế có mức hình phạt cao nhất là tử hình.
Pháp luật hình sự Malaysia hay Singapore quy định mức hình phạt khá thấp đối với các tội phạm về công
vụ. Tuy vậy, bên cạnh Bộ luật Hình sự quy định chế tài xử lý đối với các tội phạm công vụ, Malaysia và
Singapore còn ban hành đạo luật chuyên ngành về lĩnh vực công vụ đó là Luật chống tham nhũng trong
đó có quy định cả tội phạm và hình phạt. Nhưng pháp luật Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam đều có quy
định hình phạt tử hình trong một số tội danh của nhóm tội này như tội tham ô, tội nhận hối lộ.
So với các quốc gia nói trên, thì Việt Nam là quốc gia có quy định không áp dụng hình phạt tử hình đối với
người từ đủ 75 tuổi trở lên theo Bộ luật hình sự hiện hành của Việt Nam, đây là một điểm tiến bộ trong
quá trình lập pháp của nước ta. Pháp luật hình sự của các nước trên thế giới hiện nay, kể cả các điều
ước quốc tế về quyền con người hiện nay không có quy định cụ thể liên quan đến việc cấm thi hành hình
phạt đối với người già. Chỉ duy nhất ở cấp độ khu vực có Công ước châu Mỹ về quyền con ngườicó trích
đoạn như sau:
“Article 4: Right to life
5_Capital punishment shall not be imposed upon persons who, at the time the crime was committed, were
under 18 years of age or over 70 years of age; nor shall it be applied to pregnant women.”25
Có thể được hiểu là:
“Điều 4: Quyền sống
5_Hình phạt tử hình sẽ không được áp dụng đối với những người, tại thời điểm tội phạm đã được thực
hiện là dưới 18 tuổi hoặc trên 70 tuổi, cũng không được áp dụng cho phụ nữ mang thai.”
Từ đó, cho thấy sự thu hẹp phạm vi đối tượng bị áp dụng hình phạt tử hình đồng thời cũng cho thấy được
chính sách nhân đạo của Nhà nước ta và là một điểm tiến bộ về mặt lập pháp hình sự trong lần sửa đổi,
bổ sung toàn diện của Bộ luật Hình sự 2015.
2. KIẾN NGHỊ VỀ CHÍNH SÁCH HÌNH SỰ ĐỐI VỚI HÌNH PHẠT TỬ HÌNH TẠI VIỆT NAM
Thuật ngữ “Giết người đền mạng” đã xuất hiện từ hàng ngàn năm nay, có thời kỳ nó được coi như chân
lý, đó có lẽ là sự đương nhiên hợp với lòng người. Nhưng có thời kỳ, nó không được nhận định xác
nghĩa, và cụ thể tại Bộ luật Hình sự hiện hành của nước ta, không phải lúc nào giết người cũng phải chịu
hình phạt cao nhất là tử hình, mà cần phải dựa vào từng trường hợp và hoàn cảnh cụ thể, với quy định
của pháp luật hình sự hiện nay, có thể nói là tương đối phù hợp. Ở đây, chỉ là tương đối bởi trong suy
nghĩ của các nhà làm luật vẫn còn “đọng lại” thuật ngữ “Giết người đền mạng” mà đa số mọi người đều
nghĩ đó là chân lý sống. Chúng tôi, không phê phán những quan điểm đó của các nhà làm luật và mọi
người, nhưng chúng tôi cho rằng thuật ngữ “Giết người đền mạng” đó là cái đúng của quá khứ còn hiện
tại và tương lai nó không còn phù hợp nữa.
Nhân loại càng tiến bộ, xã hội càng phát triển thì phạm vi áp dụng hình phạt tử hình cần phải có xu hướng
bị thu hẹp dần. Ở nước ta, trong xu thế hội nhập mạnh mẽ, việc xem xét bỏ hình phạt tử hình đối với một
số tội hiện có chế tài tử hình được quy định trong Bộ luật Hình sự là cần thiết, phù hợp với xu thế chung
của thế giới và tình hình nước ta. Tuy nhiên, loại bỏ hình phạt tử hình đối với tội phạm nào thì cần phải có
25 Điều 4 Khoản 5 Công ước Châu Mỹ về nhân quyền năm 1969 (American Convention of Human Rights 1969).
158
sự cân nhắc thấu đáo và phải có lộ trình. Nếu không, việc làm này sẽ dẫn đến hậu quả khó lường, giảm
đi tác dụng răn đe của pháp luật hình sự và không được đa số người dân đồng tình.
Đối với các tội thuộc Chương các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh thì vẫn
nên giữ nguyên mức hình phạt cao nhất là tử hình. Ước mơ của nhân dân Việt Nam là được sống trong
cảnh hòa bình, độc lập, chúng ta đã phải trả giá cho ước mơ đó bằng xương máu của biết bao người đã
hy sinh. Hơn ai hết, dân tộc Việt Nam rất căm ghét chiến tranh và luôn tích cực hưởng ứng phong trào
chống chiến tranh, phong trào bảo vệ hoà bình và an ninh thế giới. Hiện nay, trên thế giới, chiến tranh
chưa phải đã chấm dứt khi tham vọng quyền lực thống trị nhân loại vẫn còn. Đâu đó vẫn thường nổ ra
các cuộc xung đột đẫm máu và nhiều người dân vô tội bị giết. Việc Bộ luật Hình sự duy trì hình phạt tử
hình đối với các tội phạm liên quan đến chiến tranh là sự thể hiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước ta
luôn kiên định con đường hoà bình và độc lập dân tộc, chống chiến tranh. Đó cũng là những hưởng ứng
cụ thể của nhân dân Việt Nam trong việc hợp tác với nhân loại “tẩy chay” chiến tranh, bảo vệ hoà bình thế
giới. Không thể lấy lý do Việt Nam đã chấm dứt chiến tranh, các loại tội phạm này ít xảy ra ở Việt Nam để
bỏ chế tài tử hình trong khi tính nguy hiểm cho xã hội của chúng vẫn còn rất cao.
Đối với một số tội danh thuộc các Chương tội phạm về kinh tế, sỡ hữu thì mặc dù các tội phạm này vẫn
có tính nguy hiểm cao cho xã hội. Tuy nhiên, việc duy trì hình phạt tử hình đối với các tội này là không
cần thiết và chưa tương xứng với tính nguy hiểm cho xã hội của chúng. Ở đây, chỉ cần hình phạt cao nhất
là tù chung thân cũng đủ đạt được mục đích răn đe, phòng ngừa và có thể khắc phục được hậu quả nếu
Nhà nước kết hợp với các biện pháp đồng bộ khác trong công tác quản lý. Việc xoá bỏ hình phạt tử hình
đối với các tội phạm này phù hợp với xu thế chung của thế giới.
Vì vậy, theo quan điểm của chúng tôi, chúng ta nên “bỏ hình phạt tử hình” ở một số tội danh thuộc các
Chương tội phạm về kinh tế, sở hữu không thích hợp áp dụng hình phạt này trong Bộ luật Hình sự hiện
hành. Bởi các luận điểm sau đây:
2.1. Bảo đảm tính nhân đạo
Án tử hình còn tồn tại bởi nhà làm luật vẫn còn nghĩ rằng: bị cáo bị tuyên án tử hình không còn có khả
năng đào tạo, giáo dục lại được nữa và cần phải cách ly vĩnh viễn đối tượng này ra khỏi đời sống xã hội
nhằm duy trì, bảo vệ trật tự xã hội được ổn định. Chúng tôi có thể cảm nhận được sự nhiệt tình của các
nhà làm luật trong công cuộc bảo vệ an toàn và quyền lợi chung cho xã hội. Nhưng thiết nghĩ, những tư
tưởng như thế không còn phù hợp với thời điểm hiện nay.
Một là, hành vi nguy hiểm của cá nhân có thể cải tạo được bởi: Khi một cá nhân được sinh ra, cá nhân đó
chỉ có các hành vi bản năng tự nhiên không nguy hại. Chỉ khi cá nhân đó tham gia vào cộng đồng, cá
nhân đó mới từng bước hình thành các hành vi có ý thức. Hành vi phạm tội của cá nhân cũng là một
trong những hành vi có ý thức. Mà mọi hành vi có ý thức đều có thể cải tạo được vì hành vi đó chỉ hình
thành khi cá nhân tham gia vào một số mối quan hệ trong cộng đồng khi cá nhân sống. Do đó, bất cứ
hành vi phạm tội nào của cá nhân cũng đều có thể cải tạo được. Chúng ta cần xem lại: “môi trường xã hội
có tác động gì đến hành vi nguy hiểm của cá nhân hay không?”.
Hai là, cách ly vĩnh viễn đối tượng ra ngoài xã hội còn nhiều cách thức khác “nhẹ nhàng” hơn. Hiện nay,
bất cứ cộng đồng nào trên thế giới cũng có đủ điều kiện và khả năng để cách ly một cá nhân nguy hiểm
ra khỏi đời sống của họ mà vẫn đảm bảo được các quyền con người tối thiểu. Mỗi quốc gia đều có đủ khả
năng phân biệt rõ hành vi nào là hành vi nguy hiểm, khả năng theo dõi, giám sát và bắt giữ các cá nhân
nguy hiểm và cả khả năng kiểm soát các cá nhân nguy hiểm trong một phạm vi địa lý nhỏ đề họ không
còn có thể gây nguy hiểm cho xã hội. Vậy tại sao ta không sử dụng những cách thức đó để cách ly vĩnh
viễn đối tượng ra ngoài xã hội mà không cần tước đi quyền sống thiêng liêng của họ. Làm như vậy sẽ
phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội đồng thời đảm bảo được truyền thống nhân văn bao đời của dân
tộc ta, thể hiện tinh thần nhân đạo tối đa của Hiến pháp 2013.
159
2.2 Không trái với quy luật tự nhiên
Một quy luật bất biện của cuộc sống không ai có thể phủ nhận được đó là sinh – lão – bệnh – tử. Con
người được sinh ra do cha, mẹ nhưng suy cho cùng đó cũng là theo quy luật tất yếu của đời sống tự
nhiên theo bản năng sinh tồn và duy trì nguồn gen mà bất cứ loài nào cũng có chứ không phải chỉ ở xã
hội loài người. Và ai đã nuôi dưỡng sự sống đó, chắc chắn không phải là xã hội mà do tự nhiên và thực
tiễn chứng minh được sự sống đã tồn tại khi chưa có loài người xuất hiện. Chính vì lẽ đó, mà thức ăn để
nuôi sống một thực thể con người, tất cả đều từ tự nhiên mà có. Tóm lại, những việc đó chỉ là phương
tiện để tự nhiên duy trì sự sống cho loài người theo bản năng chứ không phải do xã hội sản sinh và nuôi
dưỡng.
Chính vì xã hội không phải là “đấng quyền lực tối cao sinh ra con người và chẳng có giây phút nào nuôi
dưỡng con người” nên không thể có quyền tước bỏ mạng sống ấy. Hay nói cách chuẩn xác nhất là không
ai có quyền lấy đi mạng sống thiêng liêng của con người do tạo hóa đã ban tặng ngoại trừ thiên nhiên
mới có quyền tước bỏ. Nếu chúng ta làm trái quy luật ấy sẽ là mâu thuẫn với đời sống tự nhiên, vi phạm
quyền cơ bản của con người.
2.3 Tránh “chết oan” ngƣời vô tội
Oan sai là điều không thể tránh khỏi trong hoạt động xét xử ở bất cứ quốc gia nào, thời đại lịch sử nào.
Nó tồn tại như là tính tất yếu trong hoạt động xét xử. Đó cũng là lẽ đương nhiên, bởi việc điều tra và xét
xử chỉ được tiến hành sau khi có một tội phạm được thực hiện. Phán quyết tòa án dựa trên những chứng
cứ do cơ quan điều tra thu thập được, kèm theo kết quả của quá trình tranh tụng. Nên không ai có thể
dám chắc chắn những chứng cứ đã thu thập hoàn toàn đầy đủ, không những có trường hợp bị cáo không
thể chứng minh được những sự kiện có lợi cho mình cho dù sự kiện đó là có thật.Với những lẽ đó, chúng
tôi thiết nghĩ giả định Toà án đã tuyên và thi hành án tử hình một người thì làm sao khắc phục được hậu
quả đó nếu theo thời gian xuất hiện căn cứ mới chứng minh họ vô tội (tuyên án sai). Chúng tôi cho rằng
khi đã tuyên án tử hình và thi hành án đó thì có giải oan được cho người đã chết thì việc giải oan cũng trở
nên vô nghĩa. Vấn đề đặt ra ở đây, là ai sẽ là chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại và bồi thường
thiệt hại bằng cách nào khi một sinh mạng đã mất. Ta dễ dàng nhận thấy được theo dòng tư duy logic thì
Nhà nước phải chịu trách nhiệm ở đây, bởi Tòa tuyên án thì nhân danh Nhà nước chứ không phải nhân
dân bản thân mình. Chẳng qua, Tòa án chỉ hoàn thành công việc do Nhà nước giao, nhưng thực tế thì
không phải vậy, thông thường người đại diện cơ quan xét xử đứng ra xin lỗi công khai. Đây chẳng khác
nào “có phúc cùng hưởng có họa tự chịu”, điều đó làm cho người dân nghi ngờ vào lẽ “công bằng”.
Không chỉ dừng ở đó mà chúng ta tự nghĩ những lời xin lỗi công khai và “khoản tiền hậu hĩnh” có thể làm
cho người đã chết sống lại được không? Chắc trong chúng ta ai cũng biết đáp án. Vậy tại sao nhà làm
luật không bỏ hình phạt tử hình, đó là biện pháp hữu ích để tránh giết oan người vô tội, đồng thời tránh
được sự bất bình của người thân của người bị oan sai và quần chúng nhân dân, làm cho nhân dân tin
yêu, tôn trọng và tuân thủ pháp luật hơn.
2.4 Ngăn ngừa tội phạm
Có phải duy trì hình phạt tử hình sẽ giảm được tội phạm hay không? Những tội phạm nghiêm trọng xảy ra
ở khắp mọi nơi trên thế giới và không phụ thuộc vào việc quốc gia đó có duy trì hình phạt tử hình hay
không. Nhiều kẻ phạm tội biết chắc là cái gì sẽ chờ mình nếu bị bắt và kết án, nhưng không vì thế mà “rút
tay” khi hành động. Ở các quốc gia duy trì hình phạt tử hình, tỷ lệ tội phạm về án tử hình ngày càng tăng
mạnh và không có chiều hướng giảm. Có thể nêu ví dụ điển hình về nước láng giềng của chúng ta là:
Trung Quốc vào năm 2016 dẫn đầu thế giới về số lượng án tử hình.
Theo thống kê của Tổ chức Ân xá Quốc tế (Amnesty International –AI), trong năm 2016, Trung Quốc đã
xử tử nhiều người hơn tất cả các nước trên thế giới cộng lại. Trên toàn thế giới có ít nhất 1.032 vụ tử hình
(không tính Trung Quốc), ít hơn 602 vụ so với năm 2015, trong đó 856 vụ diễn ra ở Trung Đông và Bắc
Phi, giảm 28% so với năm 2015. Riêng Iran đã tử hình ít nhất 567 người, tiếp đó là Saudi Arabia tiến
hành ít nhất 154 vụ xử tử. Đối với Ai Cập, lại là nước có số vụ tử hình tăng gấp đôi từ con số 22 của năm
2015 lên con số 44 của năm 2016, đứng thứ 6 trong bảng xếp hạng về án tử của thế giới. Còn ở Mỹ, có
160
22 người bị tử hình bằng hình thức tiêm thuốc độc. Tóm lại, trong năm 2016, đã có hơn 3.000 người tại
55 quốc gia bị tuyên án tử hình.26
Vậy đâu là nguyên nhân của tội phạm ngày càng tăng khi không phải do sự tồn tại của án tử hình hay
không. Theo chúng tôi đó là vấn đề an ninh, an ninh có mối quan hệ biện chứng với tội phạm, an ninh tốt
sẽ là trở ngại đối với tội phạm và ngược lại. Vấn đề an ninh của một quốc gia phụ thuộc vào rất nhiều yếu
tố, mà điều quan trọng chủ yếu chính là việc thực thi pháp luật một cách nghiêm minh. Chính việc thực thi
pháp luật không nghiêm minh mới làm cho vấn đề an ninh không tốt. Pháp luật không được thực thi
nghiêm minh tất yếu sẽ dẫn đến những hành vi sai trái. Thực tế trên thế giới cho thấy, ở đâu pháp luật
được thực thi nghiêm minh thì ở đó an toàn được ổn định. Các nước Bắc Âu, Bắc Mỹ và Tây Âu là những
minh chứng điển hình cho trường hợp trên. Vậy ngay từ lúc này, chưa phải là thời điểm quá trễ để chúng
ta có các biện pháp bảm đảm an ninh tốt hơn và quan trọng, cấp thiết nhất đó là việc thực thi pháp luật
một cách nghiêm minh nhưng mềm dẻo. Chúng ta cần phải có một tư duy mới trong thời đại hiện nay, tử
hình không phải là biện pháp ngăn chặn tội phạm mà cũng chẳng phải là biện pháp hữu hiệu nhất thể
hiện mục đích của hình phạt.
2.5 Phù hợp với pháp luật quốc tế
Hiện nay có tới 135 quốc gia đã bãi bỏ hình phạt tử hình, 62 quốc gia vẫn còn duy trì hình phạt này,
thường là để trừng trị những kẻ sát nhân. Tuy nhiên, không thể tìm ra bất kỳ tiêu chí nào về địa lý, văn
hóa, chính trị, kinh tế, tôn giáo,… để phân biệt 135 quốc gia bãi bỏ và 62 quốc gia vẫn duy trì hình phạt tử
hình.27
Hầu hết các quốc gia đang áp dụng hình phạt tử hình đều cho rằng là phải áp dụng bản án nặng nhất này
để bảo đảm an ninh, an toàn cho cộng đồng. Còn các nước không duy trì hình phạt tử hình thì lại cho
rằng tử hình là vi phạm quyền sống của con người. Ở đây, chúng ta đã thấy có sự xuất hiện của hai
trường phái quan điểm trái ngược nhau về hình phạt tử hình. Cả hai đều có lẻ riêng của mình, nhưng tại
sao hình phạt tử hình chỉ còn tồn tại khoảng 30% ở các quốc gia trên thế giới, trong khi điểm xuất phát
của tất cả quốc gia trên thế giới đều đã từng tồn tại hình phạt tử hình. Vậy, đây là quy luật khách quan tất
yếu của thời đại không thể chối từ. Vì sớm hay muộn thì các quốc gia còn lại cũng phải bãi bỏ hình phạt
tử hình để phù hợp với đại đa số những quốc gia đã bỏ hình phạt này. Bởi hình phạt này không còn chỗ
đứng trong thời điểm hiện tại cũng như tương lai bởi vai trò của nó không còn công hiệu, nếu còn thì
chúng ta đã thay thế nó bằng các hình thức khác phù hợp hơn.
2.6 Hình phạt tƣơng đƣơng tử hình
Các nhà làm luật và đa số quần chúng nhân dân đều lo ngại “bỏ hình phạt tử hình thì được nhưng liệu có
hình phạt nào tương tự để thay thế nó hay không”. Sự lo ngại đấy, nhiều quốc gia trên thế giới đã giải
quyết được. Như chúng ta đã biết, mục đích của hình phạt tử hình là loại bỏ hành vi nguy hiểm cho xã hội
bằng cách tước bỏ sự sống của chủ thể có hành vi nguy hiểm. Tuy nhiên, để loại bỏ hành vi nguy hiểm
thì khổng nhất thiết phải loại bỏ chủ thể của nó bởi vì hành vi nguy hiểm này có thể được loại bỏ bằng
nhiều cách khác như thay đổi ý thức của chủ thể, loại bỏ điều kiện thực hiện hành vi nguy hiểm, cách ly
hoàn toàn chủ thể nguy hiểm ra khỏi cộng đồng,… Nếu cộng đồng nhận thấy hành vi nguy hiểm cần phải
loại bỏ hoàn toàn khỏi cộng đồng thì có thể cách ly chủ thể gây nguy hiểm cho đến khi người đó tự chết.
Như vậy, việc thay thế hình phạt tử hình bằng một chế tài khác là việc hoàn toàn có thể thực hiện được.
Ví dụ nhiều quốc gia ngày nay như Anh, Hà Lan, Thụy Điển, Thổ Nhĩ Kỳ, Mỹ,.. đã thay thế hình phạt tử
hình bằng hình phạt chung thân không được khoan hồng.Trong thời phong kiến, pháp luật quy định hình
phạt lưu đày biệt xứ cũng là một kiểu cách ly hoàn toàn chủ thể gây nguy hiểm ra khỏi cộng đồng. Tại sao
ở giai đoạn kinh tế, xã hội,…chưa phát triển như thời điểm hiện nay, mà thời phong kiến đã làm được
như vậy còn hiện nay thì không? Ý nói vậy, không phải trong hiện tại chúng ta phải thay hình thức từ hình
26 Ngọc Đông, Trung Quốc xử tử nhiều nhất thế giới năm 2016, Tuổi trẻ online, ngày 11/04/2017.
27
Lê Thăng Long, Bãi bỏ án tử hình nên hay không?!, Tiến Bộ- Trang thông tin ngôn luận Việt Nam, ngày
31/12/2014.
161
bằng hình thức lưu đày mà thay nó bằng hình phạt chung thân không được khoan hồng như một số nước
đã làm chẳng hạn. Nếu làm được điều đó, thì tuyên án tử sai vẫn có cơ hội khắc phục được hậu quả
đồng thời bảo đảm được quyền sống thiêng liêng của con người.
3. KẾT LUẬN
Bỏ hình phạt tử hình sẽ đảm bảo được tính nhân đạo tuyệt đối, phù hợp với quy luật tự nhiên, tránh giết
oan người vô tội, ngăn ngừa được tội phạm và phù hợp với pháp luật đa số các quốc gia trên thế giới.
Đồng thời, Điều 31 BLHS hiện hành của nước ta có quy định: “Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người,
pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc
sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật,
phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm”. Từ đó có thể suy ra được mục đích chính của hình phạt không
phải là trừng trị mà là giáo dục cải tạo người phạm tội để họ trở thành người có ích cho xã hội. Vì vậy,
không có lý do gì mà hình phạt tử hình vẫn còn tồn tại; trong khi mọi hành vi phạm tội của cá nhân cũng
đều có thể cải tạo được. Vậy sự tồn tại của hình phạt tử hình trong pháp luật hình sự hiện này là trái với
quy định tại Điều 31 của BLHS hiện hành. Việc bỏ hình phạt tử hình không chỉ là loại bỏ sự trái ngược
trong Bộ luật Hình sự hiện hành mà còn phù hợp với đòi hỏi chính đáng của thực tiễn hiện nay./
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]
Hiến pháp 2013 ban hành ngày 28 tháng 11 năm 2013 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam.
[2]
[3]
Bộ luật Hình sự số 17-LCT/HĐNN7 ban hành ngày 27 tháng 6 năm 1985.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 30-LCT/HĐNN8 ban hành ngày 28 tháng
12 năm 1989.
[4]
[5]
[6]
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 55-LCT/HĐNN8 ban hành ngày 12 tháng
8 năm 1991.
Luật số 4-L/CTN của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự ban hành ngày 22
tháng 12 năm 1992.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 57-L/CTN ban hành ngày 10 tháng 5
năm 1997.
[7]
[8]
Bộ luật Hình sự số 15/1999/QH10 ban hành ngày 21 tháng 12 năm 1999.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 37/2009/QH12 ban hành ngày 19 tháng
6 năm 2009.
[9]
Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ban hành ngày 27 tháng 11 năm 2015.
[10] Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 12/2017/QH14 ban hành ngày 20 tháng
6 năm 2017.
[11] 11.Luật Thi hành án Hình sự số 53/2010/QH12 ban hành ngày 17 tháng 06 năm 2010.
[12] Australia, Singapore bất hòa về án tử hình Tường Vân, báo VNEXPRESS, ngày 29/11/2005.
[13] Công ước Châu Mỹ về nhân quyền năm 1969 (American Convention of Human Rights 1969) .
[14] Đại học quốc gia Hà Nội (2009), Những điều cần biết về hình phạt tử hình, NXB Chính trị quốc gia,
Hà Nội.
[15] Đào Trí Úc, Vũ Công Giao, Trương Thị Hồng Hà, Quyền sống và hình phạt tử hình, NXB Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
[16] Đinh Bích Hà (2007), Bộ luật Hình sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, NXB Tư pháp, Hà
Nội.
162
[17] Lê Thăng Long, Bãi bỏ án tử hình nên hay không?!, Tiến Bộ- Trang thông tin ngôn luận Việt Nam,
ngày 31/12/2014.
[18] 18.Ngọc Đông, Trung Quốc xử tử nhiều nhất thế giới năm 2016, Tuổi trẻ online, ngày 11/04/2017.
[19] 19.Phạm Văn Lợi (2010), Nghiên cứu so sánh pháp luật hình sự của một số nước ASEAN, NXB Tư
pháp, Hà Nội.
[20] 20. Trần Thị Hiển (2011), Bộ luật Hình sự Nhật Bản, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội.
[21] 21. Vũ Thị Thúy, Hình phạt tử hình trong luật hình sự thế giới qua các thời kì lịch sử, tạp chí khoa
học pháp lý, số 6, tháng 12/2006.
163
Bạn đang xem tài liệu "Chính sách hình sự đối với hình phạt tử hình tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
chinh_sach_hinh_su_doi_voi_hinh_phat_tu_hinh_tai_viet_nam.pdf

