Một số giải pháp nâng cao kỹ năng tranh tụng của kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO KỸ NĂNG TRANH TỤNG  
CỦA KIỂM SÁT VIÊN TẠI PHIÊN TÒA HÌNH SỰ  
VÀNG VĂN VƯỢNG*  
Hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên (KSV) tại phiên tòa là nội dung quan trọng  
trong tố tụng hình sự nhưng còn gặp nhiều vướng mắc trong thực tiễn thực hiện. Bài viết  
phân tích một số tồn tại trong hoạt động tranh tụng của KSV tại phiên tòa, từ đó xác định  
nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao kỹ năng tranh tụng cho KSV.  
Từ khóa: Tranh tụng, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, luận tội, tranh luận.  
Ngày nhận bài: 21/12/2020; Biên tập xong: 24/3/2021; Duyệt đăng: 09/4/2021  
In criminal procedures, advocacy activities at criminal trial of Prosecutors are  
vital maꢀers but remain several shortcomings in practice. The article analyzes some  
obtacles in that activities, thereby identifies the reasons and proposes solutions to  
improve that skill for Prosecutors.  
Keywords: Trial advocacy, the Procuracy, Prosecutor, impeachment, argument.  
ranh tụng tại phiên tòa hình sự là “tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”1. Lần  
một trong những nội dung có ý  
nghĩa, đóng vai trò hết sức quan  
đầu tiên, việc bảo đảm tranh tụng trong  
xét xử được ghi nhận thành một nguyên  
tắc trong Hiến pháp, thể hiện bước tiến  
lớn trong hoạt động xây dựng pháp luật  
và phù hợp với tinh thần cải cách tư pháp  
của Nhà nước ta.  
Thuật ngữ “tranh tụng” theo Từ điển  
Tiếng Việt có nghĩa là “kiện cáo lẫn nhau”.  
Còn theo nghĩa Hán Việt, thuật ngữ này  
được ghép từ hai từ “tranh luận” và “tố  
tụng”. Theo Từ điển Luật học, “tranh  
tụng” là “hoạt động tố tụng được thực  
hiện bꢀi các bên tham gia tố tụng (bên bị  
buộc tội và bên buộc tội) có quyền bình  
đẳng với nhau trong việc thu thập, đưa ra  
chứng cứ để bảo vệ các quan điểm và lợi  
ích của mình, phản bác lại các quan điểm  
và lợi ích của phía đối lập”.  
T
trọng trong hoạt động tố tụng hình sự.  
Đây không chỉ là sự đánh giá kết quả hoạt  
động của các giai đoạn điều tra, truy tố  
mà còn có tác dụng to lớn đối với chính  
giai đoạn xét xử. Hoạt động này đặt ra  
yêu cầu cấp bách trong việc đảm bảo tính  
công bằng, dân chủ giữa người tham gia  
tố tụng với Viện kiểm sát và là cơ chế tối  
ưu nhất để bảo vệ quyền, lợi hợp pháp của  
bị cáo, đảm bảo việc truy tố, xét xử là đúng  
người, đúng tội, đúng pháp luật. Xác định  
được tầm quan trọng này, Nghị quyết số  
08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính  
trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư  
pháp trong thời gian tới” đã đề cập đến việc  
nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án là  
khâu trung tâm đột phá, quyết định của  
hoạt động tư pháp, phán quyết của Tòa  
án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh  
tụng tại phiên tòa. Quan điểm, chủ trương  
của Đảng về hoạt động tranh tụng đã được  
Một trong những điểm mới của Bộ luật  
tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 so  
* Trung úy, Viện kiểm sát quân sự khu vực 23,  
Quân khu 2  
thể chế hóa ꢀ Hiến pháp năm 2013; đó là, 1ꢁ Khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013  
22 Khoa học Kiểm sát  
Số 02 - 2021  
VÀNG VĂN VƯỢNG  
với BLTTHS năm 2003 là quy định chung tình huống có thể phát sinh tại phiên tòa.  
Tại phiên tòa, một số KSV không tập trung  
theo dõi, ghi chép dẫn đến không nắm  
được diễn biến của việc hỏi và việc trả lời  
đã đầy đủ, rõ ràng hay chưa, cần hỏi thêm  
những vấn đề gì... Khi Chủ tọa phiên tòa  
đề nghị KSV tham gia xét hỏi thì lúng túng  
và câu hỏi đặt ra còn trùng lặp về nội dung,  
cách đặt câu hỏi chưa khoa học.  
về thủ tục tranh tụng tại phiên tòa (Mục  
V Chương XXI về thủ tục xét xử sơ thẩm),  
trong đó bao gồm các hoạt động như  
công bố cáo trạng, xét hỏi, luận tội, tranh  
luận tại phiên tòa. Trong các nhiệm vụ và  
quyền hạn của KSV tại phiên tòa xét xử  
vụ án hình sự, việc xét hỏi, đưa ra những  
chứng cứ; thực hiện việc luận tội đối  
với bị cáo; đối đáp tranh luận với bị cáo,  
người bào chữa và những người tham gia  
tố tụng khác là nội dung rất quan trọng để  
xem xét, đánh giá các tình tiết của vụ án  
một cách khách quan, toàn diện nhằm xác  
định sự thật của vụ án và góp phần cùng  
-
Chất lượng luận tội chưa cao. Việc  
phân tích, đánh giá chứng cứ vụ án ảnh  
hưꢀng trực tiếp đến chất lượng luận tội  
của KSV tại phiên tòa. Thực tế cho thấy  
vẫn còn có những nội dung trong bản dự  
thảo luận tội dập khuôn nội dung của bản  
Hội đồng xét xử giải quyết vụ án đúng cáo trạng; không có sự phân tích, đánh giá  
toàn bộ chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội  
một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ;  
không viện dẫn các chứng cứ trực tiếp, các  
chứng cứ gián tiếp để chứng minh bị cáo  
có phạm tội hay không. Tại phiên tòa, KSV  
không theo dõi và ghi chép đầy đủ các  
chứng cứ, tài liệu đã được điều tra xét hỏi  
tại phiên tòa để sửa chữa, cập nhật kịp thời  
vào bản dự thảo luận tội cho phù hợp với  
KSV chưa chủ động xét hỏi và chất  
diễn biến thực tế của vụ án tại phiên tòa.  
người, đúng tội, đúng pháp luật.  
1. Một số hạn chế trong việc tranh  
tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét  
xử vụ án hình sự  
Bên cạnh những kết quả tích cực đã  
đạt được, vấn đề tranh tụng tại phiên tòa  
hình sự của KSV cũng bộc lộ nhiều hạn  
chế, bất cập:  
-
lượng xét hỏi chưa cao. Thực tiễn thực hành  
quyền công tố của KSV tại phiên tòa hình  
sự trong những năm gần đây phản ánh  
không ít KSV có nhận thức rằng việc xét hỏi  
tại phiên tòa để chứng minh tội phạm và  
làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án là trách  
nhiệm của Hội đồng xét xử chứ không phải  
là của KSV. Chính nhận thức không đúng  
này đã dẫn đến tình trạng KSV không làm  
hết trách nhiệm của mình là phải chứng  
minh luận điểm trong bản cáo trạng bằng  
việc chủ động xét hỏi, đưa ra các chứng cứ  
để chứng minh tội phạm và làm sáng tỏ các  
tình tiết của vụ án. Vì vậy, có nhiều KSV  
trước khi tham gia phiên tòa không xây  
dựng đề cương xét hỏi hoặc có xây dựng thì  
-
KSV chưa chủ động đối đáp tranh  
luận và chất lượng đối đáp tranh luận  
chưa cao. Điều 26 Quy chế 505 ngày  
18/12/2017 của Viện trưꢀng VKSND tối  
cao về công tác thực hành quyền công tố,  
kiểm sát xét xử vụ án hình sự (gọi tắt là  
Quy chế 505) quy định rõ việc đối đáp  
tranh luận tại phiên tòa là bắt buộc đối  
với KSV. KSV phải chuẩn bị và dự kiến  
những vấn đề cần tranh luận mà bị cáo,  
người bào chữa và những người tham gia  
tố tụng khác trình bày ý kiến về luận tội  
của KSV. Khi tranh luận, KSV phải đưa  
ra những lập luận của mình đối với từng  
ý kiến có liên quan đến vụ án mà bị cáo,  
người bào chữa và những người tham gia  
cũng rất sơ sài, không dự kiến được những tố tụng khác đã nêu ra.  
Số 02 - 2021 Khoa học Kiểm sát 23  
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO KỸ NĂNG TRANH TỤNG...  
Tuy nhiên, hiện vẫn còn không ít KSV minh bằng chứng cứ đã được kiểm tra  
có tâm lý ngại đối đáp tranh luận, việc  
đối đáp tranh luận trên thực tiễn còn rất  
hạn chế. Cụ thể là: Ở giai đoạn chuẩn bị  
tham gia phiên tòa, KSV không chuẩn bị  
dự thảo bản đề cương đối đáp tranh luận,  
dự kiến những vấn đề mà bị cáo, người  
bào chữa và những người tham gia tố  
tụng khác có thể có ý kiến, trên cơ sꢀ đó  
dự thảo từng nội dung để đối đáp lại cho  
phù hợp. Chính vì không có sự chuẩn bị  
và nắm không chắc chứng cứ của vụ án  
nên khi bị cáo, người bào chữa và những  
người tham gia tố tụng khác đưa ra ý kiến  
nhận xét về luận tội, KSV còn lúng túng  
và không chủ động tranh luận mà chỉ đối  
đáp theo cách “vẫn giữ nguyên quan điểm  
tại phiên tòa và các căn cứ pháp lý đã  
kết luận. Phong cách, thái độ của một số  
KSV khi đối đáp tranh luận còn thiếu bình  
tĩnh, lời văn, ngôn ngữ thể hiện vẫn còn  
có trường hợp mang tính châm biếm, mạt  
sát bị cáo hoặc coi thường Luật sư.  
2. Nguyên nhân và giải pháp khắc  
phục những hạn chế trong tranh tụng  
của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử vụ  
án hình sự  
Thứ nhất, về nhận thức và trách nhiệm  
của KSV được giao nhiệm vụ thực hành  
quyền công tố tại phiên tòa  
Một số KSV nhận thức không đầy đủ  
vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn  
truy tố”, nhất là những ý kiến trái ngược của Viện kiểm sát trong hoạt động thực  
quan điểm đã trình bày trong bản luận hành quyền công tố tại phiên tòa. Do đó,  
tội. Có trường hợp KSV chuẩn bị bản dự  
thảo đề cương dự kiến không sát với diễn  
biến của vụ án.  
KSV thực hiện không đầy đủ các thao tác  
nghiệp vụ như: Nghiên cứu hồ sơ vụ án,  
chuẩn bị đề cương xét hỏi, bản dự thảo  
luận tội và dự thảo đối đáp tranh luận;  
tại phiên tòa không tích cực, chủ động xét  
hỏi, đối đáp tranh luận. Điều này dẫn đến  
vai trò của KSV tại phiên tòa rất mờ nhạt.  
Trường hợp khác, tại phiên tòa, KSV  
trình bày xong lời luận tội nhưng không  
chú ý lắng nghe, ghi chép các ý kiến và đề  
nghị của bị cáo, người bào chữa và những  
người tham gia tố tụng khác nên đối đáp  
không đúng trọng tâm. Mặt khác, do  
không nắm vững quy định của pháp luật  
hình sự và các văn bản pháp luật khác nên  
KSV không phát hiện được quan điểm sai  
của Luật sư đưa ra để đối đáp, tranh luận,  
hoặc đưa ra quan điểm giải quyết vụ án  
thiếu căn cứ, trái pháp luật, không có tính  
thuyết phục. Sự hạn chế trong tranh luận  
còn được biểu hiện ꢀ việc KSV không tập  
trung tranh luận vào nội dung chính hoặc  
Luật sư nêu ra nhiều vấn đề nhưng KSV  
chỉ tranh luận một vấn đề, còn lại bỏ qua  
hoặc không tranh luận.  
Để khắc phục hạn chế nêu trên, cần  
có giải pháp để KSV nắm vững và thực  
hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn xét hỏi,  
luận tội và đối đáp tranh luận tại phiên  
tòa. Trước hết, KSV cần nhận thức đầy đủ,  
thống nhất về nội dung các quy định của  
BLTTHS năm 2015 và Quy chế 505 là: Việc  
xét hỏi, luận tội và đối đáp tranh luận  
tại phiên tòa xét xử sơ thẩm là bắt buộc  
đối với Kiểm sát viên. Trước khi tham  
gia phiên tòa, KSV phải chuẩn bị bản dự  
thảo đề cương tham gia xét hỏi chi tiết,  
chuẩn bị bản dự thảo luận tội theo mẫu  
của VKSND tối cao; chuẩn bị dự kiến đối  
đáp tranh luận. Tại phiên tòa, KSV phải  
chú ý theo dõi, ghi chép đầy đủ nội dung  
Ngoài ra, một điểm yếu nữa hiện nay  
là kỹ năng đối đáp, tranh luận của KSV.  
KSV đối đáp tranh luận không chứng xét hỏi của Hội đồng xét xử, người bào  
24 Khoa học Kiểm sát Số 02 - 2021  
VÀNG VĂN VƯỢNG  
chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương hiện xét hỏi, luận tội và đối đáp tranh  
sự và trả lời của người được hỏi cũng  
như các tài liệu, chứng cứ đã được kiểm  
tra tại phiên tòa. Trên cơ sꢀ đó, KSV chủ  
động đặt câu hỏi thêm để chứng minh tội  
phạm, làm sáng tỏ đầy đủ các tình tiết của  
vụ án và bổ sung, sửa chữa, cập nhật vào  
bản dự thảo luận tội, bản dự thảo dự kiến  
những vấn đề có thể đối đáp tranh luận  
để hoàn chỉnh bản luận tội và bản dự kiến  
các vấn đề đối đáp tranh luận; phải chú ý  
theo dõi và ghi chép đầy đủ các ý kiến của  
người bào chữa và những người tham gia  
tố tụng khác trình bày về luận tội của KSV  
để đối đáp tranh luận. Khi đối đáp tranh  
luận, KSV phải đưa ra lập luận của mình  
đối với từng ý kiến có liên quan đến vụ án  
mà người bào chữa và những người tham  
gia tố tụng khác đã nêu ra2.  
luận. KSV cần phải làm tốt các thao tác  
nghiệp vụ sau:  
+ Nghiên cứu hồ sơ vụ án: KSV phải nắm  
chắc hồ sơ vụ án, lập hồ sơ kiểm sát theo  
quy định về lập hồ sơ kiểm sát (Quy định  
số 590/QĐ-VKSTC-V3 ngày 05/12/2014 của  
Viện trưꢀng VKSND tối cao về lập hồ sơ  
kiểm sát án hình sự); thực hiện đầy đủ các  
thao tác nghiệp vụ theo quy định về thực  
hành quyền công tố, kiểm sát việc khꢀi tố,  
điều tra và truy tố (Quyết định số 111/QĐ-  
VKSTC ngày 17/4/2020 của Viện trưꢀng  
VKSND tối cao về việc ban hành quy chế  
công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát  
việc khꢀi tố, điều tra và truy tố); quy định  
về thực hành quyền công tố và kiểm sát xét  
xử các vụ án hình sự (Quy chế 505).  
+ Dự thảo bản luận tội: Bản luận tội phải  
quán triệt đầy đủ 03 yêu cầu là: Luận tội  
phải đạt tính chính xác cao thể hiện tính  
công minh, chính trực, khách quan, thận  
trọng và góp phần phát huy tác dụng giáo  
dục và đấu tranh phòng ngừa tội phạm;  
luận tội phải mang tính thuyết phục cao,  
phê phán đúng mức sai phạm của bị cáo  
sẽ có tác dụng hỗ trợ Hội đồng xét xử  
ra bản án đúng, đồng thời có sức thuyết  
phục trong quần chúng nhân dân; luận  
tội phải có tác dụng tuyên truyền giáo dục  
pháp luật, đạo đức xã hội.  
Thứ hai, về năng lực nghiệp vụ và  
chuyên môn của KSV  
Nhiều KSV chưa nắm vững, cập nhật  
các quy định của pháp luật hình sự, pháp  
luật tố tụng hình sự, pháp luật dân sự và  
các quy định của pháp luật có liên quan  
nên dẫn đến sai lầm trong việc xác định  
tội danh, đánh giá tính chất, hậu quả của  
tội phạm; đề xuất hình phạt chưa sát với  
tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm  
và đề xuất bồi thường dân sự không phù  
hợp. Nhiều trường hợp KSV không xác  
định đúng đặc trưng của tội phạm, các  
yếu tố cấu thành tội phạm để kết luận  
hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo có  
đủ yếu tố cấu thành tội phạm hay không.  
Ngoài ra, một số cán bộ, KSV thiếu bản  
lĩnh đã bị lợi dụng, mua chuộc làm thoái  
hoá, biến chất, tiếp tay cho tội phạm, che  
giấu tội phạm.  
+ Đối đáp tranh luận: Để nâng cao chất  
lượng đối đáp tranh luận không chỉ đòi  
hỏi KSV nghiên cứu nắm chắc hồ sơ vụ  
án, nắm chắc pháp luật có liên quan đến  
tội phạm đã truy tố mà KSV cần phải nâng  
cao trách nhiệm trong quá trình viết dự  
thảo đề cương xét hỏi và dự thảo luận tội;  
dự kiến những vấn đề mà bị cáo sẽ chối  
tội, hay người bào chữa và những người  
tham gia tố tụng khác có thể tranh luận tại  
phiên tòa... Tại phiên tòa, KSV phải chú ý  
Để khắc phục hạn chế này, cần nâng  
cao hơn nữa trách nhiệm của KSV thực  
2ꢁ Điều 24, 25 và 26 Quy chế 505  
Số 02 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 25  
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO KỸ NĂNG TRANH TỤNG...  
tập trung theo dõi ghi chép việc xét hỏi và  
+ Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ: KSV phải  
phần trả lời của bị cáo, người bào chữa và có khả năng sử dụng ngôn từ thật sự đơn  
giản, tự nhiên, trong sáng, lưu loát, dễ  
hiểu, hành văn rõ ràng, mạch lạc, sử dụng  
những từ ngữ nước ngoài phải chính  
xác, không nên sử dụng ngôn ngữ địa  
phương, những từ tối nghĩa, câu văn lủng  
củng, không cần thiết.... để thuyết phục  
người nghe. Ngược lại, KSV có tác phong  
thể hiện sự hấp tấp, vội vã, nét mặt lạnh  
nhạt... cũng sẽ làm mất uy thế của KSV  
khi tham gia tranh tụng tại phiên tòa.  
những người tham gia tố tụng khác, đặc  
biệt là đối với người bào chữa; chủ động  
tham gia xét hỏi bổ sung những vấn đề mà  
bị cáo khai chưa rõ hoặc còn quanh co che  
giấu để đấu tranh làm rõ đúng, sai...; bổ  
sung kịp thời cho dự thảo luận tội đã chuẩn  
bị và tạo cơ sꢀ cho việc đối đáp tranh luận.  
Ngoài ra, để tranh luận thành công,  
KSV còn phải có các kỹ năng nghề nghiệp  
đặc thù như:  
+ Kỹ năng đặt câu hỏi: Đây là một trong  
những kỹ năng rất quan trọng đối với  
KSV khi tham gia tranh tụng tại phiên  
tòa. Bꢀi lẽ, chỉ khi nào KSV đặt được câu  
hỏi rõ ràng, dễ hiểu, có trọng tâm, trọng  
điểm khi tham gia xét hỏi thì mới có thể  
nhận được câu trả lời thích đáng, giúp  
KSV chứng minh được tội phạm và hành  
vi phạm tội, đề xuất giải quyết tốt những  
vấn đề dân sự trong vụ án hình sự, đề  
xuất xử lý vật chứng đầy đủ, chính xác và  
đề xuất được việc áp dụng trách nhiệm  
hình sự đối với bị cáo được công minh.  
+ Kỹ năng lắng nghe: Tại phiên tòa, sau  
khi công bố bản cáo trạng, KSV phải chú  
ý lắng nghe Hội đồng xét xử đặt câu hỏi  
đối với bị cáo và những người tham gia  
tố tụng khác, đồng thời chú ý lắng nghe  
lời trình bày của họ nhằm giúp phát hiện  
những vấn đề liên quan của vụ án chưa  
được xét hỏi để khi đến lượt mình xét hỏi,  
KSV có thể đặt câu hỏi bổ sung một cách  
chính xác, đầy đủ, giúp cho quá trình điều  
tra công khai tại phiên tòa được toàn diện.  
+ Kỹ năng quan sát, tổng hợp: Khi tham  
gia tranh tụng tại phiên tòa, KSV phải có  
kỹ năng quan sát tốt mới có thể phát hiện  
sự bất thường trên khuôn mặt, cử chỉ, hành  
động của những người được thẩm vấn tại  
phiên tòa. Ví dụ: Những biểu hiện như  
khuôn mặt đang từ bình thường chuyển  
sang tái nhợt, mồ hôi tự dưng túa ra, đảo  
mắt liên tục để tìm kiếm sự hỗ trợ,... là  
những dấu hiệu thường thấy ꢀ những  
đối tượng có sự khai báo gian dối, che  
giấu sự thật. Sự nhanh nhẹn trong quan  
sát khi tranh tụng tại phiên tòa giúp KSV  
dễ dàng phát hiện được những vi phạm  
của những người tham gia và tiến hành  
tố tụng để kịp thời đề nghị Chủ tọa phiên  
tòa có sự chấn chỉnh và xử lý thích hợp,  
Khi tham gia tranh luận, đối đáp với bị  
cáo, luật sư, người bào chữa, trong nhiều  
tình huống KSV phải biết cách đặt câu hỏi  
để bác bỏ những luận điểm bào chữa sai  
trái, không có cơ sꢀ. Việc đặt câu hỏi trong  
tranh tụng tại phiên tòa cũng đòi hỏi KSV  
phải nêu câu hỏi có thứ tự và logic.  
+ Kỹ năng đối đáp, phản bác các quan điểm  
sai trái: KSV phải kịp thời phát hiện những  
luận điểm, quan điểm sai trái của những  
người tranh tụng với mình để bác bỏ và  
đề nghị Hội đồng xét xử ra phán quyết  
đầy đủ, đúng đắn.  
+ Kỹ năng sử dụng các công cụ, phương  
tiện kỹ thuật hỗ trợ: Ngày nay, cùng với sự  
bảo đảm việc tranh tụng trong phiên tòa phát triển của khoa học công nghệ, có rất  
thật sự khách quan, dân chủ, bình đẳng.  
nhiều công cụ, phương tiện, kỹ thuật hỗ trợ  
26 Khoa học Kiểm sát  
Số 02 - 2021  
VÀNG VĂN VƯỢNG  
KSV thực hiện việc tranh tụng tại phiên tòa  
như máy ghi âm, máy chiếu, máy tính xách  
tay,... đòi hỏi KSV phải có kỹ năng sử dụng  
các thiết bị này, góp phần hỗ trợ KSV giao  
tiếp thành công trong tranh tụng tại phiên  
tòa. Mặt khác, trong tương lai, khi chứng  
cứ điện tử được ghi nhận trong BLTTHS  
thì càng đòi hỏi kỹ năng sử dụng các công  
cụ, phương tiện kỹ thuật hỗ trợ của KSV  
khi tham gia tranh tụng tại phiên tòa.  
Tóm lại, kết quả hoạt động trong thời  
gian qua đã khẳng định hoạt động tranh  
tụng của KSV tại phiên tòa là một trong  
những công cụ hiệu quả trong việc đấu  
tranh phòng, chống tội phạm. Tuy nhiên,  
chấtlượngtranhtụngcủaKSVchưangang  
tầm với yêu cầu đòi hỏi của công cuộc cải  
cách tư pháp, vẫn còn tình trạng oan, sai  
trong truy tố và xét xử, vi phạm quyền tự  
do, dân chủ của công dân. Để nâng cao  
chất lượng và hiệu quả của công tác tranh  
tụng, đòi hỏi KSV phải có bản lĩnh và nắm  
vững các quy định của pháp luật, quy chế  
của ngành, đồng thời phải tự giáo dục ý  
thức trách nhiệm, trình độ chính trị, phẩm  
chất đạo đức, thường xuyên học tập, nâng  
cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đáp  
ứng yêu cầu trong giai đoạn mới./.  
Thứ ba, về công tác quản lý, chỉ đạo và  
điều hành của Viện kiểm sát các cấp  
Việc quản lý, chỉ đạo và điều hành đối  
với KSV được giao nhiệm vụ giải quyết  
vụ án trong nhiều trường hợp còn chưa  
thường xuyên và chặt chẽ. Lãnh đạo các  
cấp chưa dành nhiều thời gian để trực tiếp  
tham dự, theo dõi các phiên tòa để có nhận  
xét, đánh giá rút kinh nghiệm đối với việc  
xét hỏi, luận tội và đối đáp tranh luận của  
KSV; chưa chú ý rút kinh nghiệm kịp thời  
đối với những trường hợp KSV không  
chấp hành đúng các thao tác nghiệp vụ.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Hiến pháp năm 2013.  
2. BLTTHS năm 2015.  
3. Quy chế 505 ngày 18/12/2017 của Viện  
trưꢀng VKSND tối cao về công tác thực hành  
quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự.  
Lãnh đạo Viện cần bố trí những KSV có  
năng lực vào khâu thực hành quyền công  
tố tại phiên tòa xét xử hình sự bꢀi hoạt  
động này đòi hỏi KSV phải sắc sảo trong  
xét hỏi, luận tội và đối đáp tranh luận.  
Do vậy, KSV phải có hiểu biết không chỉ  
về chuyên môn, nghiệp vụ mà cả về kiến  
thức xã hội lẫn khả năng hùng biện mới có  
thể thực hiện nhiệm vụ một cách có hiệu  
quả tại phiên tòa. Trình độ chuyên môn,  
nghiệp vụ cao, bản lĩnh chính trị vững  
vàng, khả năng viết, nói là những yếu tố  
hội tụ bắt buộc ꢀ KSV thực hành quyền  
công tố tại phiên tòa. Do đó, đổi mới công  
tác tổ chức cán bộ theo hướng tăng cường  
cho khâu công tác thực hành quyền công  
tố và kiểm sát xét xử phải được xác định  
là hướng ưu tiên trong quá trình đổi mới  
tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát.  
4. Giáo trình Luật tố tụng hình sự, Trường  
Đại học Luật Hà Nội, Nxb. CAND, Hà Nội, 2019.  
5. Phạm Mạnh Hùng (chủ biên), Bình luận  
khoa học BLTTHS năm 2015, Nxb Lao Động, Hà  
Nội, năm 2018.  
6. Vũ Gia Lâm, Nguyên tắc tranh tụng trong xét  
xử của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và việc triển  
khai thực hiện, Tạp chí Kiểm sát số 21/2017, tr.18-22.  
7. Nguyễn Thanh Mai, Kỹ năng tranh tụng  
của KSV tại phiên toà hình sự sơ thẩm, Tạp chí kiểm  
sát số 20 (2018), tr.37-42.  
8. Trần Thị Liên, Chức năng thực hành quyền  
công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng  
hình sự, Tạp chí Luật học số 2/2019.  
9. Chuyên đề: Các giải pháp nâng cao kỹ  
năng tranh tụng của KSV tại phiên toà của tác giả  
Nguyễn Thị Yến, VKSND tối cao.  
10. Nguyễn Đức Hạnh, Kỹ năng giao tiếp của  
KSV trong hoạt động tranh tụng tại phiên tòa hình  
sự. Link: hꢂps://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/  
chi-tiet/79/143  
Số 02 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 27  
pdf 6 trang Thùy Anh 13660 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số giải pháp nâng cao kỹ năng tranh tụng của kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_giai_phap_nang_cao_ky_nang_tranh_tung_cua_kiem_sat_vi.pdf