Chế định chuyển yêu cầu đòi bồi hoàn trong pháp luật bảo hiểm tài sản
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
CHẾ ĐỊNH CHUYỂN YÊU CẦU ĐÒI BỒI HOÀN
TRONG PHÁP LUẬT BẢO HIỂM TÀI SẢN
Nguyễn Thị Thủy*
Đỗ Lệnh Quân**
*PGS.TS. GV. Trường đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh
**ThS. Công ty THHH đầu tư Ngôi sao Sài Gòn
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Chuyển yêu cầu đòi bồi hoàn là mꢀt chế định khꢁ đặc thù trong bảo hiểm
tài sản. Mục đích của chế định này là nhằm giúp doanh nghiệp bảo hiểm
được quyền đòi lại khoản tiền bảo hiểm đã bồi thường cho người được bảo
hiểm nếu tꢂn thất xảy ra do lỗi của người thứ ba. Việc bên được bảo hiểm
phải chuyển giao quyền yêu cầu đòi bồi hoàn sang doanh nghiệp bảo hiểm
để doanh nghiệp bảo hiểm đòi người thứ ba bồi hoàn khoản thiệt hại do
lỗi của người thứ ba gây ra là hoàn toàn hợp lý về mặt lý luꢃn và thực tiễn.
Tuy nhiên, quy định của phꢁp luꢃt về vấn đề này vẫn còn mꢀt sꢄ bất cꢃp,
gây trở ngại cho việc ꢁp dụng chế định này trong thực tiễn.
Từ khóa: Chuyển yêu cầu đòi bồi
hoàn; phꢁp luꢃt bảo hiểm tài sản.
Lịch sử bài viết:
Nhꢃn bài
Biên tꢃp
Duyệt bài
: 10/04/2021
: 22/05/2021
: 25/05/2021
Article Infomation:
Abstract:
The legal provision on transfer of compensation claim is a rather specialised
one in property insurance. The purpose of this provision is to help the insur-
ance company have the right to recover the compensation money that has
been indemnified to the insured party if the loss is caused by the fault of a
third party. The fact that the insured party have to transfer the right of claim
to the insurance company so that it can claim the third party’s compensation
for the damage caused by the third party's fault is completely logical view-
points and practice. However, the legal provisions on this matter still have
some shortcomings, which might hinder its application in practices.
Keywords:
compensation
regulationsonpropertyinsurance.
Transfer
claim;
of
legal
Article History:
Received
Edited
: 10 Apr. 2021
: 22 May 2021
: 25 May 2021
Approved
1. Cơ sở hình thành chế định chuyển yêu
cầu đòi bồi hoàn
trường hợp bên có quyền và bên có nghĩa vụ có
thỏa thuꢃn hoặc phꢁp luꢃt có quy định về việc
không được chuyển giao quyền yêu cầu.
Khoản 1 Điều 365 Bꢀ luꢃt Dân sự năm 2015
(BLDS) quy định: “Bên có quyền yêu cầu thực
hiện nghĩa vụ có thể chuyển giao quyền yêu
cầu đó cho người thế quyền theo thỏa thuận,
trừ các trường hợp pháp luật không cho
phép”. Quy định này cho thấy, khi có phꢁt sinh
quyền và nghĩa vụ giữa cꢁc bên liên quan trong
giao dịch dân sự, bên có quyền yêu cầu thực
hiện nghĩa vụ có thể chuyển giao quyền yêu
cầu theo thỏa thuꢃn cho bên thứ ba gọi là bên
thế quyền để thực hiện quyền yêu cầu đó, trừ
Sau khi bên có quyền yêu cầu thực hiện
nghĩa vụ chuyển giao quyền yêu cầu theo thỏa
thuꢃn cho bên thứ ba thì bên có quyền yêu cầu
sẽ chấm dứt mꢄi quan hệ với bên có nghĩa vụ
cũng như không phải chịu trꢁch nhiệm về khả
năng thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ;
bên thứ ba lúc này trở thành người thế quyền
có đầy đủ tư cꢁch chủ thể của bên có quyền
yêu cầu trước đó và có quyền yêu cầu thực
hiện nghĩa vụ đꢄi với bên có nghĩa vụ theo quy
14
Số 15(439) - T8/2021
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
định của phꢁp luꢃt. Việc chuyển giao quyền
yêu cầu không làm thay đꢂi nꢀi dung quan
hệ nghĩa vụ, không cần có sự đồng ý của bên
có nghĩa vụ; nꢀi dung này cũng phù hợp với
quy định trong BLDS: “Khi bên có quyền yêu
cầu chuyển giao quyền yêu cầu cho người thế
quyền thì người thế quyền trở thành bên có
quyền yêu cầu. Việc chuyển giao quyền yêu
cầu không cần có sự đồng ý của bên có nghĩa
vụ”1. Tuy nhiên, người chuyển giao quyền yêu
cầu phải thông bꢁo bằng văn bản cho bên có
nghĩa vụ biết về việc chuyển giao quyền yêu
cầu: “Người chuyển giao quyền yêu cầu phải
thông bꢁo bằng văn bản cho bên có nghĩa vụ
biết về việc chuyển giao quyền yêu cầu, trừ
trường hợp có thỏa thuꢃn khꢁc. Trường hợp
bên chuyển giao quyền yêu cầu không thông
bꢁo về việc chuyển giao quyền mà phꢁt sinh
chi phí cho bên có nghĩa vụ thì bên chuyển giao
quyền yêu cầu phải thanh toꢁn chi phí này”2.
Về hình thức, việc chuyển giao quyền yêu
cầu giữa bên có quyền yêu cầu và bên nhꢃn
chuyển giao quyền yêu cầu có thể thực hiện
bằng văn bản hoặc lời nói hoặc cꢁc hình thức
khꢁc theo luꢃt định3.
Quan hệ bảo hiểm tài sản thực chất là quan
hệ dân sự; do vꢃy, bản chất chuyển giao quyền
yêu cầu trong bảo hiểm tài sản cũng gần giꢄng
với bản chất của chuyển giao quyền yêu cầu
trong quan hệ dân sự. Tuy nhiên, với những
đặc trưng của bảo hiểm tài sản thì cꢁch thức
và nꢀi dung của chuyển giao quyền yêu cầu
cũng có những nét đặc thù riêng. Cụ thể, rủi
ro trong bảo hiểm tài sản được chia làm hai
nhóm chính: rủi ro từ thiên nhiên và rủi ro do
con người tạo ra. Những rủi ro từ thiên nhiên
là rủi ro do tự nhiên mà có, không phải xuất
phꢁt từ hành đꢀng của con người; rủi ro do con
người tạo ra là những yếu tꢄ được tạo nên từ
hành đꢀng của con người. Việc phân loại rủi
ro trên đây là cơ sở để xꢁc định cꢁc quyền lợi
và nghĩa vụ có liên quan khi sự kiện bảo hiểm
xảy ra. Cụ thể, đꢄi với những rủi ro do thiên
nhiên tạo ra, doanh nghiệp bảo hiểm phải tự
gꢁnh chịu tꢂn thất vì yếu tꢄ rủi ro ở đây không
do mꢀt chủ thể nào tạo ra, nó không phải là
hệ quả của hành vi của con người. Vì vꢃy, ở
góc đꢀ phꢁp lý, không mꢀt ai phải chịu trꢁch
nhiệm do hꢃu quả của thiên nhiên mang lại.
Tuy nhiên, nếu rủi ro này do con người tạo ra,
người ta sẽ phải xem xét đến yếu tꢄ đꢀng cơ
và mục đích của hành vi nhằm xꢁc định trꢁch
nhiệm phꢁt sinh từ hành vi đó. Sở dĩ trong bảo
hiểm tài sản, cꢁc bên phải lưu ý đến yếu tꢄ này
vì không thể mꢀt người thực hiện hành vi trꢁi
phꢁp luꢃt gây ra tꢂn thất cho người khꢁc rồi
tꢂn thất này sẽ được doanh nghiệp bảo hiểm
gꢁnh chịu thay. Việc gꢁnh chịu tꢂn thất trong
bảo hiểm tài sản là sự gꢁnh chịu cho người
được bảo hiểm chứ không phải cho người gây
ra tꢂn thất. Như vꢃy, nhìn từ góc đꢀ phꢁp lý,
khi mꢀt chủ thể có hành vi gây thiệt hại đꢄi
với người khꢁc họ sẽ phải có trꢁch nhiệm bồi
thường những thiệt hại do mình gây ra. Trong
khoa học phꢁp lý, trường hợp này được gọi là
quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Ở đây, chúng ta xem xét đến mꢄi quan hệ
giữa bảo hiểm tài sản và quan hệ bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng để xꢁc định trꢁch
nhiệm bồi thường của cꢁc bên khi có thiệt hại
xảy ra. Nếu nhìn nhꢃn về góc đꢀ thời gian,
quan hệ bảo hiểm phải được hình thành trước,
do thiệt hại trong bảo hiểm phải từ rủi ro mang
lại và tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm,
rủi ro phải chưa xảy ra. Như vꢃy, quan hệ bồi
thường trong bảo hiểm là quan hệ được cꢁc
bên thỏa thuꢃn trước với những điều kiện và
điều khoản đã được xꢁc lꢃp trong hợp đồng
bảo hiểm. Trꢁch nhiệm bồi thường thiệt hại
của doanh nghiệp bảo hiểm trong hợp đồng
bảo hiểm không phải phꢁt sinh từ hành vi gây
thiệt hại mà phꢁt sinh từ cam kết gꢁnh chịu rủi
ro. Do đó, khi có thiệt hại xảy ra, doanh nghiệp
bảo hiểm phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường
trước, tức là phải thực hiện nghĩa vụ gꢁnh chịu
tꢂn thất như đã cam kết trong hợp đồng. Tuy
nhiên, khi rủi ro này là do con người tạo ra thì
quan hệ bảo hiểm không thể chỉ dừng lại ở việc
1 Khoản 2 Điều 365 BLDS.
2 Khoản 2 Điều 365 BLDS.
3 Điều 119 BLDS.
Số 15(439) - T8/2021
15
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
doanh nghiệp bảo hiểm hoàn tất trꢁch nhiệm
bồi thường của mình mà nó còn phꢁt sinh trꢁch
nhiệm của người gây ra thiệt hại đꢄi với bên
được bảo hiểm. Trong quan hệ bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng, về nguyên tắc, người gây
ra thiệt hại phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt
hại cho bên bị thiệt hại. Tuy nhiên, vì người
bị thiệt hại đã tham gia vào quan hệ hợp đồng
bảo hiểm tài sản và đã được doanh nghiệp bảo
hiểm bồi thường nên bên mua bảo hiểm không
được tiếp tục đòi người gây ra thiệt hại bồi
thường cho mình (trừ trường hợp sꢄ tiền bảo
hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm chi trả cho
bên mua bảo hiểm nhỏ hơn thiệt hại xảy ra).
Từ đây hình thành nên việc chuyển yêu cầu đòi
bồi thường từ bên mua bảo hiểm sang doanh
nghiệp bảo hiểm. Cụ thể, bên mua bảo hiểm,
với tư cꢁch là người có quyền trong quan hệ
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, sẽ chuyển
giao quyền yêu cầu sang cho doanh nghiệp bảo
hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm đòi lại người
gây ra thiệt hại trả lại cho mình khoản tiền đã
bồi thường cho bên mua bảo hiểm.
Từ quy định về chuyển giao quyền yêu cầu
trong BLDS cho thấy, chuyển giao quyền yêu
cầu đòi bồi hoàn trong bảo hiểm tài sản được
hình thành dựa trên chế định chuyển giao quyền
yêu cầu trong BLDS, từ đó cho phép doanh
nghiệp bảo hiểm nhꢃn chuyển giao quyền yêu
cầu từ bên có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ
và trở thành người thế quyền có quyền yêu cầu
người thứ ba gây ra thiệt hại cho tài sản được
bảo hiểm phải bồi hoàn lại cho mình sꢄ tiền
bảo hiểm đã trả cho bên được bảo hiểm.
thuꢃn bằng văn bản giữa doanh nghiệp bảo
hiểm và bên mua bảo hiểm nhằm xꢁc lꢃp
quyền và nghĩa vụ nhất định của cꢁc bên trong
quꢁ trình mua bảo hiểm và chi trả bảo hiểm.
Hợp đồng bảo hiểm tài sản có đꢄi tượng bảo
hiểm là vꢃt có thực, tiền, giấy tờ có giꢁ và quyền
về tài sản. Tuy nhiên, khi tài sản là đꢄi tượng của
bảo hiểm tài sản thì phải đảm bảo hai yếu tꢄ sau:
Thứ nhất, phải tồn tại tại thời điểm giao kết
hợp đồng bảo hiểm tài sản. Sở dĩ, có lý do này
là vì bản chất của bảo hiểm tài sản là bên mua
bảo hiểm chuyển giao những tꢂn thất do cꢁc
rủi ro được bảo hiểm gây ra đꢄi với tài sản cho
doanh nghiệp bảo hiểm để doanh nghiệp bảo
hiểm gꢁnh chịu thay, vì vꢃy phải có sự tồn tại
thực tế của tài sản cần bảo hiểm.
Ví dụ: Khi muꢄn mua bảo hiểm tài sản đꢄi
với mꢀt công trình xây dựng thì công trình đó
cần phải thuꢀc dự ꢁn đã được cấp phép, chủ
đầu tư công trình phải chứng minh đủ điều kiện
tài chính để hoàn thành xây dựng công trình;
công trình đó phải bảo đảm về mặt phꢁp lý và
tài chính. Khi muꢄn mua bảo hiểm vꢃt chất xe
thì người mua bảo hiểm đã phải có xe và giấy
chứng nhꢃn quyền sở hữu đꢄi với chiếc xe.
Thứ hai, tài sản bảo hiểm phải định giꢁ
được bằng tiền vì phí bảo hiểm được tính theo
tỷ lệ phần trăm trên giꢁ trị tài sản. Hơn nữa,
giꢁ trị tài sản được bảo hiểm tại thời điểm giao
kết hợp đồng bảo hiểm là giới hạn mức trꢁch
nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm.
Chính vì vꢃy, tại thời điểm giao kết hợp đồng,
cꢁc bên phải tính được giꢁ trị của tài sản bảo
hiểm thì mới tính được phí bảo hiểm, từ đó
mới xꢁc định được mức trả tiền bảo hiểm tꢄi
đa của doanh nghiệp bảo hiểm đꢄi với người
được bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra.
Hợp đồng bảo hiểm tài sản là cơ sở phát
sinh chuyển yêu cầu đòi người thứ ba bồi hoàn
trong bảo hiểm tài sản vì nó là cơ sở hình thành
quan hệ bảo hiểm, mà muꢄn có quan hệ chuyển
yêu cầu đòi người thứ ba bồi hoàn trong bảo
hiểm tài sản thì phải có quan hệ bảo hiểm.
- Phải có sự kiện bảo hiểm xảy ra, nguyên
nhân dẫn đến tổn thất là do hành vi có lỗi của
người thứ ba gây ra đối với tài sản được bảo
hiểm và phải nằm trong phạm vi bảo hiểm
2. Các yếu tố làm phát sinh việc chuyển yêu
cầu đòi người thứ ba bồi hoàn trong bảo
hiểm tài sản
- Hợp đồng bảo hiểm
Điều 12 Luꢃt Kinh doanh bảo hiểm năm
2000 (Luꢃt KDBH) quy định: “Hợp đồng
bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo
hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên
mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh
nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho
người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người
được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”.
Nói cꢁch khꢁc, hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa
16
Số 15(439) - T8/2021
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
Sự kiện bảo hiểm xảy ra và nguyên nhân
dẫn đến tꢂn thất là do hành vi có lỗi của người
thứ ba gây ra đꢄi với tài sản được bảo hiểm
phải nằm trong phạm vi bảo hiểm là mꢀt trong
cꢁc cơ sở hình thành nên việc chuyển yêu cầu
đòi người thứ ba bồi hoàn trong bảo hiểm tài
sản vì: “Kinh doanh bảo hiểm là hoạt đꢀng của
doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh
lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhꢃn
rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên
mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh
nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người
thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được
bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”4. Đã là
hoạt đꢀng nhằm mục đích sinh lợi thì doanh
nghiệp bảo hiểm có quyền lựa chọn rủi ro để
bảo hiểm vì nếu là cꢁc rủi ro hàng loạt sẽ dễ
dẫn đến doanh nghiệp bảo hiểm bị phꢁ sản. Do
đó, nếu có sự kiện bảo hiểm xảy ra là do hành
vi có lỗi của người thứ ba gây ra đꢄi với tài sản
được bảo hiểm nhưng rủi ro gây ra thiệt hại này
lại không nằm trong phạm vi bảo hiểm hoặc
nằm trong trường hợp bị loại trừ thì khi đó,
doanh nghiệp bảo hiểm không có trꢁch nhiệm
phải bồi thường cho bên mua bảo hiểm và cũng
có nghĩa là sẽ không có việc chuyển yêu cầu
đòi người thứ ba bồi hoàn. Lúc này, bên mua
bảo hiểm chỉ có thể yêu cầu bên gây ra thiệt hại
bồi thường theo chế định bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng được quy định trong luꢃt dân
sự mà thôi.
thế quyền hay chủ thể mới có quyền yêu cầu
bên thứ ba thực hiện hành vi có lỗi gây ra thiệt
hại cho tài sản được bảo hiểm trả lại cho mình
khoản tiền đã bồi thường cho bên được bảo
hiểm và khi đó việc chuyển giao quyền yêu
cầu đòi bồi hoàn trong bảo hiểm tài sản mới
được xꢁc lꢃp. Do vꢃy, thiệt hại thực tế xảy ra là
cơ sở cho việc chuyển giao quyền yêu cầu đòi
bồi hoàn trong bảo hiểm tài sản.
Có thể nói rằng, thiệt hại không chỉ là nền
tảng cơ bản mà còn là điều kiện bắt buꢀc của
trꢁch nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng, từ đó xꢁc lꢃp nên việc chuyển giao quyền
yêu cầu đòi bồi hoàn trong bảo hiểm tài sản.
Ngoài ra, khi xꢁc định trꢁch nhiệm bồi
thường thiệt hại, cꢁc bên cũng cần quan tâm
đến yếu tꢄ lỗi của bên thứ ba thực hiện hành vi
gây ra thiệt hại cho tài sản được bảo hiểm. Do
phꢁp luꢃt kinh doanh bảo hiểm không có quy
định cụ thể về lỗi của bên thứ ba gây ra thiệt
hại đꢄi với tài sản được bảo hiểm; vì vꢃy cần
phải quay lại quy định về lỗi trong luꢃt dân sự
tức là gồm cả “lỗi cꢄ ý và lỗi vô ý”5 để giải
quyết vấn đề: thiệt hại thực tế xảy ra là cơ sở
cho việc chuyển giao quyền yêu cầu đòi bồi
hoàn trong bảo hiểm tài sản.
- Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phải
hoàn thành trách nhiệm bồi thường trước cho
bên được bảo hiểm khi có thiệt hại do bên thứ
ba gây ra đối với tài sản được bảo hiểm
Yếu tꢄ này được hình thành trên cơ sở, trꢁch
nhiệm bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm
trong hợp đồng bảo hiểm không phát sinh từ
hành vi gây thiệt hại đối với tài sản được bảo
hiểm mà phát sinh từ cam kết gánh chịu rủi ro
thay cho người được bảo hiểm. Do vꢃy, nếu
có thiệt hại xảy ra do lỗi của người thứ ba gây
ra đꢄi với tài sản được bảo hiểm thì trước tiên
doanh nghiệp bảo hiểm phải thực hiện nghĩa
vụ bồi thường bảo hiểm theo cam kết trong
hợp đồng bảo hiểm. Tuy nhiên, do thiệt hại
này là do lỗi của người thứ ba gây ra, và theo
quy định của phꢁp luꢃt dân sự, khi mꢀt người
gây ra thiệt hại cho người khꢁc thì phải có
trꢁch nhiệm bồi thường thiệt hại. Chính vì vꢃy,
- Có thiệt hại thực tế xảy ra và có lỗi
Bản chất của bồi thường nói chung là sự bù
đắp thiệt hại. Trong quan hệ bồi thường dân
sự nói chung và bồi thường trong bảo hiểm
tài sản nói riêng, nếu có thiệt hại thực tế xảy
ra đꢄi với tài sản thì bên bị thiệt hại mới có
quyền yêu cầu bên gây ra thiệt hại bồi thường.
Đồng thời, vì bên bị thiệt hại có quyền yêu cầu
bên gây ra thiệt hại bồi thường thiệt hại nên
sau khi doanh nghiệp bảo hiểm đã thực hiện
xong trꢁch nhiệm bồi thường cho bên được
bảo hiểm thì việc chuyển giao quyền yêu cầu
đòi bồi hoàn trong bảo hiểm sẽ diễn ra. Khi
đó, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ trở thành bên
4 Khoản 1 Điều 3 Luꢃt KDBH.
5 Điều 364 BLDS.
Số 15(439) - T8/2021
17
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
sau khi doanh nghiệp bảo hiểm đã bồi thường
bảo hiểm, tức đã thực hiện xong trꢁch nhiệm
trả tiền bảo hiểm, họ được quyền đòi lại sꢄ tiền
họ đã trả do lỗi của người thứ ba gây ra.
Do vꢃy, có thể nói rằng, doanh nghiệp bảo
hiểm hoàn thành trꢁch nhiệm bồi thường trước
cho bên được bảo hiểm khi có thiệt hại do bên
thứ ba gây ra đꢄi với tài sản được bảo hiểm là
một trong các cơ sở hình thành việc chuyển
quyền yêu cầu đòi (người thứ ba) bồi thường
trong bảo hiểm tài sản.
3. Các quy định của pháp luật về chuyển
yêu cầu đòi bồi hoàn trong bảo hiểm tài sản
và kiến nghị hoàn thiện
3.1. Xác định lỗi và trách nhiệm bồi
thường thiệt hại của người thứ ba
muꢄn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra. Lỗi
vô ý là trường hợp mꢀt người không thấy trước
hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại,
mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại
sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có
khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại
sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được”.
Việc phân định lỗi cꢄ ý hay vô ý là cơ sở cho
việc xꢁc định mức bồi thường thiệt hại. Điều
này cũng phù hợp với khoản 2 Điều 585 BLDS
về nguyên tắc bồi thường thiệt hại: “Người
chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể
được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi
hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả
năng kinh tế của mình”. Như vꢃy, lỗi vô ý là
mꢀt trong cꢁc yếu tꢄ có thể xét giảm mức bồi
thường. Tuy nhiên, việc xꢁc định lỗi của người
thứ ba trên thực tế không hề đơn giản. Chẳng
hạn, trong cꢁc trường hợp hỏa hoạn gây thiệt
hại đꢄi với tài sản, dù cꢁc cơ quan chức năng
đã xꢁc định được nguyên nhân là do sự cꢄ về
điện gây chꢁy nhưng nguyên nhân là do khꢁch
quan hay lỗi vô ý chủ quan thì rất khó xꢁc định
vì người thứ ba luôn phủ nhꢃn yếu tꢄ lỗi với
nhiều lý do hoặc cho rằng sự việc xảy ra là
bất khả khꢁng nhằm chꢄi bỏ trꢁch nhiệm bồi
thường. Ngoài ra, việc xꢁc định lỗi của người
thứ ba không chỉ là xꢁc định có lỗi hay không
mà còn là việc xꢁc định mức đꢀ lỗi gây ra đꢄi
với tꢂng thiệt hại thực tế của tài sản được bảo
hiểm để xꢁc định cụ thể mức bồi thường, điều
này đã gây tranh cãi khꢁ nhiều trong thực tế vì
phꢁp luꢃt chưa có quy định cụ thể.
Để khắc phục hạn chế nêu trên, cꢁc tꢁc giả
cho rằng, cần đẩy mạnh việc công bꢄ cꢁc ꢁn lệ
liên quan đến chuyển quyền yêu cầu đòi bồi
hoàn trong bảo hiểm tài sản theo hướng chia
sẻ bớt nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà doanh
nghiệp bảo hiểm phải gꢁnh chịu cho cꢁc bên
liên quan nếu cꢁc bằng chứng về nguyên nhân
gây ra thiệt hại là do sự kiện bất khả khꢁng
chưa có tính thuyết phục. Điều này sẽ đảm
bảo sự công bằng cho doanh nghiệp bảo hiểm
nói riêng và giữa cꢁc bên tham gia quan hệ
bảo hiểm nói chung cũng như góp phần nâng
cao tính chủ đꢀng, tinh thần trꢁch nhiệm trong
phòng, chꢄng thiệt hại xảy ra đꢄi với tài sản.
- Xác định lỗi của người thứ ba đối với thiệt
hại của người được bảo hiểm
Chế định chuyển quyền yêu cầu người thứ
ba bồi hoàn trong bảo hiểm tài sản chỉ có thể
được ꢁp dụng khi người thứ ba phải thực hiện
hành vi có lỗi gây thiệt hại đến tài sản được
bảo hiểm theo quy định của khoản 1 Điều 49
Luꢃt KDBH: “Trong trường hợp người thứ ba
có lỗi gây thiệt hại cho người được bảo hiểm và
doanh nghiệp bảo hiểm đã trả tiền bồi thường
cho người được bảo hiểm thì người được bảo
hiểm phải chuyển quyền yêu cầu người thứ
ba bồi hoàn khoản tiền mà mình đã nhận bồi
thường cho doanh nghiệp bảo hiểm”. Nghĩa
là trꢁch nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp
bảo hiểm dựa trên cơ sở hợp đồng bảo hiểm
đã được ký kết giữa doanh nghiệp bảo hiểm
với bên được bảo hiểm, còn trꢁch nhiệm bồi
thường thiệt hại của người thứ ba phụ thuꢀc
vào yếu tꢄ lỗi gây ra thiệt hại về tài sản đꢄi với
bên được bảo hiểm và để thực hiện chuyển
quyền yêu cầu người thứ ba bồi hoàn thì người
thứ ba phải có lỗi. Tuy nhiên, Luꢃt KDBH chỉ
nêu vấn đề có lỗi mꢀt cꢁch chung chung mà
không xꢁc định cụ thể yếu tꢄ lỗi. Do vꢃy, cần
phải căn cứ BLDS để xꢁc định yếu tꢄ lỗi. Điều
364 BLDS quy định: “Lỗi trong trꢁch nhiệm
dân sự bao gồm lỗi cꢄ ý, lỗi vô ý. Lỗi cꢄ ý là
trường hợp mꢀt người nhꢃn thức rõ hành vi của
mình sẽ gây thiệt hại cho người khꢁc mà vẫn
thực hiện và mong muꢄn hoặc tuy không mong
18
Số 15(439) - T8/2021
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
Theo quy trình chuyển giao quyền yêu cầu
đòi bồi hoàn, sau khi doanh nghiệp bảo hiểm
đã thực hiện xong trꢁch nhiệm bồi thường cho
bên được bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm
sẽ trở thành bên thế quyền hay chủ thể mới
có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ đꢄi với
người thứ ba thực hiện hành vi có lỗi gây ra
thiệt hại cho tài sản được bảo hiểm bồi hoàn lại
cho mình sꢄ tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm
đã trả trước đó cho bên được bảo hiểm. Có thể
hình dung quy trình chuyển yêu cầu bồi hoàn
trong bảo hiểm tài sản gồm cꢁc bước sau:
Bước 1: Xꢁc định mức đꢀ và nguyên nhân
tꢂn thất, lỗi của người thứ ba.
suꢄt của người thứ ba gây ra thiệt hại đꢄi với tài
sản được bảo hiểm. Sở dĩ, phải có sự tham gia
xuyên suꢄt của người thứ ba vì điều này sẽ giúp
người thứ ba biết được mức đꢀ thiệt hại đꢄi với
tài sản do lỗi của mình gây ra. Ngoài ra, sự tham
gia của người thứ ba cũng giúp cho việc giꢁm
định, xꢁc định mức đꢀ lỗi được minh bạch và
chính xꢁc hơn. Tuy nhiên, việc đề nghị người
thứ ba tham gia trong quꢁ trình giꢁm định và ký
xꢁc nhꢃn biên bản làm việc cũng gặp nhiều khó
khăn vì quy định của phꢁp luꢃt hiện hành chưa
có sự ràng buꢀc nghĩa vụ của người thứ ba phải
tham gia trong quꢁ trình giꢁm định tꢂn thất đꢄi
với tài sản được bảo hiểm bị thiệt hại.
Trên thực tế, khi doanh nghiệp bảo hiểm
thực hiện quyền yêu cầu người thứ ba bồi hoàn
thì người thứ ba thường đưa ra cꢁc lý do để từ
chꢄi trꢁch nhiệm bồi hoàn như sau:
(i) Không có lỗi trong việc gây ra thiệt hại.
(ii) Doanh nghiệp bảo hiểm, bên được bảo
hiểm đã không thông bꢁo cho người thứ ba
biết và cùng tham gia trong quꢁ trình giꢁm
định nhằm xꢁc định nguyên nhân và đꢁnh giꢁ
mức đꢀ thiệt hại đꢄi với tài sản được bảo hiểm.
(iii) Không kiểm soꢁt được công tꢁc giꢁm
định nên không chấp nhꢃn mức trꢁch nhiệm
theo kết quả bꢁo cꢁo giꢁm định.
(iv) Không chấp nhꢃn sꢄ tiền doanh nghiệp
bảo hiểm đã bồi thường cho bên được bảo
hiểm vì cho rằng sꢄ tiền bồi thường bảo hiểm
cao hơn so với mức đꢀ thiệt hại thực tế mà
người thứ ba đã gây ra đꢄi với tài sản được
bảo hiểm v.v..
Việc đưa ra cꢁc lý do này nhằm mục đích
từ chꢄi trꢁch nhiệm hoặc đẩy mꢀt phần trꢁch
nhiệm về phía doanh nghiệp bảo hiểm, bên
được bảo hiểm nhằm giảm trừ mức bồi thường
thiệt hại tꢄi đa nếu phải bồi hoàn cho doanh
nghiệp bảo hiểm6. Để khắc phục tình trạng
trꢄn trꢁnh trꢁch nhiệm bồi hoàn của bên thứ
ba, cꢁc tꢁc giả cho rằng, cần phải hoàn thiện
cꢁc quy định của Luꢃt KDBH như sau:
Bước 2: Doanh nghiệp bảo hiểm tiến hành
bồi thường cho bên được bảo hiểm.
Bước 3: Bên được bảo hiểm chuyển quyền
yêu cầu người thứ ba bồi hoàn cho doanh
nghiệp bảo hiểm.
Bước 4: Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền
yêu cầu người thứ ba thực hiện hành vi có lỗi
gây ra thiệt hại cho tài sản được bảo hiểm bồi
hoàn lại cho mình sꢄ tiền mà doanh nghiệp bảo
hiểm đã trả trước đó cho bên được bảo hiểm.
Trên thực tế, để đòi lại được toàn bꢀ sꢄ tiền
mà doanh nghiệp bảo hiểm đã trả trước đó cho
bên được bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm
phải chứng minh người thứ ba đã thực hiện
hành vi có lỗi và gây ra thiệt hại đꢄi với tài sản
được bảo hiểm.
Mꢀt trong cꢁc bước đầu tiên để chứng minh
người thứ ba đã thực hiện hành vi có lỗi và
gây ra thiệt hại đꢄi với tài sản được bảo hiểm
là giꢁm định, mꢀt giai đoạn quan trọng trong
quꢁ trình xem xét giải quyết hồ sơ yêu cầu bồi
thường trong quan hệ bảo hiểm tài sản. Do
vꢃy, quꢁ trình trên cần có sự tham gia đầy đủ
và ký xꢁc nhꢃn biên bản làm việc giữa cꢁc bên
liên quan như doanh nghiệp bảo hiểm, đơn vị
giꢁm định đꢀc lꢃp, bên được bảo hiểm và đặc
biệt là người thứ ba gây ra thiệt hại đꢄi với tài
sản được bảo hiểm nhằm đảm bảo tính minh
bạch và khꢁch quan trong công tꢁc giải quyết
bồi thường. Đặc biệt, cần có sự tham gia xuyên
Thứ nhất, sửa đꢂi khoản 1 Điều 48 theo
hướng: Bꢂ sung yêu cầu bắt buꢀc cꢁc bên
6 Điều 363 BLDS về bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bị vi phạm có lỗi: “Trường hợp vi phạm nghĩa
vụ và có thiệt hại là do mꢀt phần lỗi của bên bị vi phạm thì bên vi phạm chỉ phải bồi thường thiệt hại tương
ứng với mức đꢀ lỗi của mình”.
Số 15(439) - T8/2021
19
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
liên quan tham gia giꢁm định tꢂn thất, xử lý
bồi thường. Theo đó, khoản 1 Điều 48 Luꢃt
KDBH cần được sửa đꢂi như sau:
bảo lưu quyền yêu cầu hoặc không chuyển
giao quyền yêu cầu thì doanh nghiệp bảo
hiểm có quyền khấu trừ tiền bồi thường theo
mức đꢀ lỗi của người được bảo hiểm. Do
đó, mꢀt khi bên được bảo hiểm đã nhꢃn đủ
tiền bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm từ
doanh nghiệp bảo hiểm nhưng không bảo
lưu quyền yêu cầu hoặc không chuyển giao
quyền yêu cầu thì khả năng doanh nghiệp
bảo hiểm thực hiện được quyền khấu trừ sꢄ
tiền bồi thường sẽ khó xảy ra trên thực tế, trừ
khi doanh nghiệp bảo hiểm lại phải khởi kiện
bằng mꢀt vụ tranh chấp khꢁc giữa doanh
nghiệp bảo hiểm và bên được bảo hiểm để
đòi lại mꢀt phần hoặc toàn bꢀ khoản tiền bảo
hiểm đã bồi thường do người được bảo hiểm
không bảo lưu quyền khiếu nại hoặc không
thực hiện việc chuyển quyền. Như vꢃy, quy
định về thời điểm thực hiện quyền yêu cầu
đòi bồi hoàn theo phꢁp luꢃt kinh doanh bảo
hiểm hiện hành đã vô tình đưa doanh nghiệp
bảo hiểm vào thế bị đꢀng trong việc ꢁp dụng
chế tài đꢄi với người được bảo hiểm khi họ
không thực hiện chuyển quyền.
Để khắc phục bất cꢃp nêu trên, cần sửa
đꢂi khoản 1 Điều 49 Luꢃt KDBH theo
hướng xꢁc định rõ trường hợp doanh nghiệp
bảo hiểm đã chấp nhꢃn trả tiền bồi thường
cho người được bảo hiểm thì người được
bảo hiểm phải chuyển quyền yêu cầu người
thứ ba bồi hoàn khoản tiền mà người được
bảo hiểm được chấp nhꢃn bồi thường cho
doanh nghiệp bảo hiểm ngay tại thời điểm
được doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhꢃn
bồi thường. Theo đó, khoản 1 Điều 49 Luꢃt
KDBH cần được sửa đꢂi như sau:
“1. Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh
nghiệp bảo hiểm hoặc người được doanh
nghiệp bảo hiểm ủy quyền thực hiện việc
giꢁm định tꢂn thất để xꢁc định nguyên nhân
và mức đꢀ tꢂn thất. Chi phí giꢁm định tꢂn
thất do doanh nghiệp bảo hiểm chịu. Quá
trình giám định tổn thất, xử lý bồi thường
phải có sự tham gia của doanh nghiệp bảo
hiểm, bên được bảo hiểm và bên gây ra thiệt
hại. Bên được bảo hiểm phải thông báo kịp
thời cho bên gây ra thiệt hại các thông tin
liên quan đến việc xử lý bồi thường bảo
hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm, kể cả các
thông tin liên quan đến giám định và khắc
phục tổn thất”.
Thứ hai, sửa đꢂi khoản 2 Điều 49 Luꢃt
KDBH theo hướng bꢂ sung trường hợp
người được bảo hiểm không thông bꢁo kịp
thời cho người thứ ba cꢁc thông tin liên
quan đến việc xử lý bồi thường thì thì doanh
nghiệp bảo hiểm có quyền khấu trừ sꢄ tiền
bồi thường tùy theo mức đꢀ lỗi của người
được bảo hiểm. Theo đó, khoản 2 Điều 49
Luꢃt KDBH cần được sửa đꢂi như sau:
“2. Trong trường hợp người được bảo
hiểm từ chꢄi chuyển quyền cho doanh
nghiệp bảo hiểm, không bảo lưu, không
thông báo kịp thời cho người thứ ba các
thông tin liên quan đến việc xử lý bồi thường
bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm, kể
cả các thông tin liên quan đến giám định
và khắc phục tổn thất hoặc từ bỏ quyền
yêu cầu người thứ ba bồi thường thì doanh
nghiệp bảo hiểm có quyền khấu trừ sꢄ tiền
bồi thường tùy theo mức đꢀ lỗi của người
được bảo hiểm”.
“Trong trường hợp người thứ ba có lỗi
gây thiệt hại cho người được bảo hiểm và
doanh nghiệp bảo hiểm đã chấp nhận trả
tiền bồi thường cho người được bảo hiểm
thì người được bảo hiểm phải chuyển quyền
yêu cầu người thứ ba bồi hoàn khoản tiền
mà mình được chấp nhận bồi thường cho
doanh nghiệp bảo hiểm ngay tại thời điểm
được doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận
3.2. Xác định thời điểm thực hiện chuyển
quyền yêu cầu đòi bồi hoàn giữa các bên
Theo quy định của khoản 1 Điều 49 Luꢃt
KDBH, doanh nghiệp bảo hiểm phải hoàn
thành xong trꢁch nhiệm bồi thường cho
bên được bảo hiểm trước khi trở thành bên
thế quyền. Tuy nhiên, khoản 2 Điều này lại
quy định, nếu người được bảo hiểm không
bồi thường”
20
Số 15(439) - T8/2021
Bạn đang xem tài liệu "Chế định chuyển yêu cầu đòi bồi hoàn trong pháp luật bảo hiểm tài sản", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
che_dinh_chuyen_yeu_cau_doi_boi_hoan_trong_phap_luat_bao_hie.pdf

