Chế định chuyển yêu cầu đòi bồi hoàn trong pháp luật bảo hiểm tài sản

BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
CHẾ ĐỊNH CHUYỂN YÊU CẦU ĐÒI BỒI HOÀN  
TRONG PHÁP LUẬT BẢO HIỂM TÀI SẢN  
Nguyễn Thị Thủy*  
Đỗ Lệnh Quân**  
*PGS.TS. GV. Trường đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh  
**ThS. Công ty THHH đầu tư Ngôi sao Sài Gòn  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Chuyển yêu cầu đòi bồi hoàn là mꢀt chế định khꢁ đặc thù trong bảo hiểm  
tài sản. Mục đích của chế định này là nhằm giúp doanh nghiệp bảo hiểm  
được quyền đòi lại khoản tiền bảo hiểm đã bồi thường cho người được bảo  
hiểm nếu tꢂn thất xảy ra do lỗi của người thứ ba. Việc bên được bảo hiểm  
phải chuyển giao quyền yêu cầu đòi bồi hoàn sang doanh nghiệp bảo hiểm  
để doanh nghiệp bảo hiểm đòi người thứ ba bồi hoàn khoản thiệt hại do  
lỗi của người thứ ba gây ra là hoàn toàn hợp lý về mặt lý luꢃn và thực tiễn.  
Tuy nhiên, quy định của phꢁp luꢃt về vấn đề này vẫn còn mꢀt sꢄ bất cꢃp,  
gây trở ngại cho việc ꢁp dụng chế định này trong thực tiễn.  
Từ khóa: Chuyển yêu cầu đòi bồi  
hoàn; phꢁp luꢃt bảo hiểm tài sản.  
Lịch sử bài viết:  
Nhꢃn bài  
Biên tꢃp  
Duyệt bài  
: 10/04/2021  
: 22/05/2021  
: 25/05/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
The legal provision on transfer of compensation claim is a rather specialised  
one in property insurance. The purpose of this provision is to help the insur-  
ance company have the right to recover the compensation money that has  
been indemnified to the insured party if the loss is caused by the fault of a  
third party. The fact that the insured party have to transfer the right of claim  
to the insurance company so that it can claim the third party’s compensation  
for the damage caused by the third party's fault is completely logical view-  
points and practice. However, the legal provisions on this matter still have  
some shortcomings, which might hinder its application in practices.  
Keywords:  
compensation  
regulationsonpropertyinsurance.  
Transfer  
claim;  
of  
legal  
Article History:  
Received  
Edited  
: 10 Apr. 2021  
: 22 May 2021  
: 25 May 2021  
Approved  
1. Cơ sở hình thành chế định chuyển yêu  
cầu đòi bồi hoàn  
trường hợp bên có quyền và bên có nghĩa vụ có  
thỏa thuꢃn hoặc phꢁp luꢃt có quy định về việc  
không được chuyển giao quyền yêu cầu.  
Khoản 1 Điều 365 Bꢀ luꢃt Dân sự năm 2015  
(BLDS) quy định: “Bên có quyền yêu cầu thực  
hiện nghĩa vụ có thể chuyển giao quyền yêu  
cầu đó cho người thế quyền theo thỏa thuận,  
trừ các trường hợp pháp luật không cho  
phép”. Quy định này cho thấy, khi có phꢁt sinh  
quyền và nghĩa vụ giữa cꢁc bên liên quan trong  
giao dịch dân sự, bên có quyền yêu cầu thực  
hiện nghĩa vụ có thể chuyển giao quyền yêu  
cầu theo thỏa thuꢃn cho bên thứ ba gọi là bên  
thế quyền để thực hiện quyền yêu cầu đó, trừ  
Sau khi bên có quyền yêu cầu thực hiện  
nghĩa vụ chuyển giao quyền yêu cầu theo thỏa  
thuꢃn cho bên thứ ba thì bên có quyền yêu cầu  
sẽ chấm dứt mꢄi quan hệ với bên có nghĩa vụ  
cũng như không phải chịu trꢁch nhiệm về khả  
năng thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ;  
bên thứ ba lúc này trở thành người thế quyền  
có đầy đủ tư cꢁch chủ thể của bên có quyền  
yêu cầu trước đó và có quyền yêu cầu thực  
hiện nghĩa vụ đꢄi với bên có nghĩa vụ theo quy  
14  
Số 15(439) - T8/2021  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
định của phꢁp luꢃt. Việc chuyển giao quyền  
yêu cầu không làm thay đꢂi nꢀi dung quan  
hệ nghĩa vụ, không cần có sự đồng ý của bên  
có nghĩa vụ; nꢀi dung này cũng phù hợp với  
quy định trong BLDS: “Khi bên có quyền yêu  
cầu chuyển giao quyền yêu cầu cho người thế  
quyền thì người thế quyền trở thành bên có  
quyền yêu cầu. Việc chuyển giao quyền yêu  
cầu không cần có sự đồng ý của bên có nghĩa  
vụ”1. Tuy nhiên, người chuyển giao quyền yêu  
cầu phải thông bꢁo bằng văn bản cho bên có  
nghĩa vụ biết về việc chuyển giao quyền yêu  
cầu: “Người chuyển giao quyền yêu cầu phải  
thông bꢁo bằng văn bản cho bên có nghĩa vụ  
biết về việc chuyển giao quyền yêu cầu, trừ  
trường hợp có thỏa thuꢃn khꢁc. Trường hợp  
bên chuyển giao quyền yêu cầu không thông  
bꢁo về việc chuyển giao quyền mà phꢁt sinh  
chi phí cho bên có nghĩa vụ thì bên chuyển giao  
quyền yêu cầu phải thanh toꢁn chi phí này”2.  
Về hình thức, việc chuyển giao quyền yêu  
cầu giữa bên có quyền yêu cầu và bên nhꢃn  
chuyển giao quyền yêu cầu có thể thực hiện  
bằng văn bản hoặc lời nói hoặc cꢁc hình thức  
khꢁc theo luꢃt định3.  
Quan hệ bảo hiểm tài sản thực chất là quan  
hệ dân sự; do vꢃy, bản chất chuyển giao quyền  
yêu cầu trong bảo hiểm tài sản cũng gần giꢄng  
với bản chất của chuyển giao quyền yêu cầu  
trong quan hệ dân sự. Tuy nhiên, với những  
đặc trưng của bảo hiểm tài sản thì cꢁch thức  
và nꢀi dung của chuyển giao quyền yêu cầu  
cũng có những nét đặc thù riêng. Cụ thể, rủi  
ro trong bảo hiểm tài sản được chia làm hai  
nhóm chính: rủi ro từ thiên nhiên và rủi ro do  
con người tạo ra. Những rủi ro từ thiên nhiên  
là rủi ro do tự nhiên mà có, không phải xuất  
phꢁt từ hành đꢀng của con người; rủi ro do con  
người tạo ra là những yếu tꢄ được tạo nên từ  
hành đꢀng của con người. Việc phân loại rủi  
ro trên đây là cơ sở để xꢁc định cꢁc quyền lợi  
và nghĩa vụ có liên quan khi sự kiện bảo hiểm  
xảy ra. Cụ thể, đꢄi với những rủi ro do thiên  
nhiên tạo ra, doanh nghiệp bảo hiểm phải tự  
gꢁnh chịu tꢂn thất vì yếu tꢄ rủi ro ở đây không  
do mꢀt chủ thể nào tạo ra, nó không phải là  
hệ quả của hành vi của con người. Vì vꢃy, ở  
góc đꢀ phꢁp lý, không mꢀt ai phải chịu trꢁch  
nhiệm do hꢃu quả của thiên nhiên mang lại.  
Tuy nhiên, nếu rủi ro này do con người tạo ra,  
người ta sẽ phải xem xét đến yếu tꢄ đꢀng cơ  
và mục đích của hành vi nhằm xꢁc định trꢁch  
nhiệm phꢁt sinh từ hành vi đó. Sở dĩ trong bảo  
hiểm tài sản, cꢁc bên phải lưu ý đến yếu tꢄ này  
vì không thể mꢀt người thực hiện hành vi trꢁi  
phꢁp luꢃt gây ra tꢂn thất cho người khꢁc rồi  
tꢂn thất này sẽ được doanh nghiệp bảo hiểm  
gꢁnh chịu thay. Việc gꢁnh chịu tꢂn thất trong  
bảo hiểm tài sản là sự gꢁnh chịu cho người  
được bảo hiểm chứ không phải cho người gây  
ra tꢂn thất. Như vꢃy, nhìn từ góc đꢀ phꢁp lý,  
khi mꢀt chủ thể có hành vi gây thiệt hại đꢄi  
với người khꢁc họ sẽ phải có trꢁch nhiệm bồi  
thường những thiệt hại do mình gây ra. Trong  
khoa học phꢁp lý, trường hợp này được gọi là  
quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.  
Ở đây, chúng ta xem xét đến mꢄi quan hệ  
giữa bảo hiểm tài sản và quan hệ bồi thường  
thiệt hại ngoài hợp đồng để xꢁc định trꢁch  
nhiệm bồi thường của cꢁc bên khi có thiệt hại  
xảy ra. Nếu nhìn nhꢃn về góc đꢀ thời gian,  
quan hệ bảo hiểm phải được hình thành trước,  
do thiệt hại trong bảo hiểm phải từ rủi ro mang  
lại và tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm,  
rủi ro phải chưa xảy ra. Như vꢃy, quan hệ bồi  
thường trong bảo hiểm là quan hệ được cꢁc  
bên thỏa thuꢃn trước với những điều kiện và  
điều khoản đã được xꢁc lꢃp trong hợp đồng  
bảo hiểm. Trꢁch nhiệm bồi thường thiệt hại  
của doanh nghiệp bảo hiểm trong hợp đồng  
bảo hiểm không phải phꢁt sinh từ hành vi gây  
thiệt hại mà phꢁt sinh từ cam kết gꢁnh chịu rủi  
ro. Do đó, khi có thiệt hại xảy ra, doanh nghiệp  
bảo hiểm phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường  
trước, tức là phải thực hiện nghĩa vụ gꢁnh chịu  
tꢂn thất như đã cam kết trong hợp đồng. Tuy  
nhiên, khi rủi ro này là do con người tạo ra thì  
quan hệ bảo hiểm không thể chỉ dừng lại ở việc  
1 Khoản 2 Điều 365 BLDS.  
2 Khoản 2 Điều 365 BLDS.  
3 Điều 119 BLDS.  
Số 15(439) - T8/2021  
15  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
doanh nghiệp bảo hiểm hoàn tất trꢁch nhiệm  
bồi thường của mình mà nó còn phꢁt sinh trꢁch  
nhiệm của người gây ra thiệt hại đꢄi với bên  
được bảo hiểm. Trong quan hệ bồi thường thiệt  
hại ngoài hợp đồng, về nguyên tắc, người gây  
ra thiệt hại phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt  
hại cho bên bị thiệt hại. Tuy nhiên, vì người  
bị thiệt hại đã tham gia vào quan hệ hợp đồng  
bảo hiểm tài sản và đã được doanh nghiệp bảo  
hiểm bồi thường nên bên mua bảo hiểm không  
được tiếp tục đòi người gây ra thiệt hại bồi  
thường cho mình (trừ trường hợp sꢄ tiền bảo  
hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm chi trả cho  
bên mua bảo hiểm nhỏ hơn thiệt hại xảy ra).  
Từ đây hình thành nên việc chuyển yêu cầu đòi  
bồi thường từ bên mua bảo hiểm sang doanh  
nghiệp bảo hiểm. Cụ thể, bên mua bảo hiểm,  
với tư cꢁch là người có quyền trong quan hệ  
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, sẽ chuyển  
giao quyền yêu cầu sang cho doanh nghiệp bảo  
hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm đòi lại người  
gây ra thiệt hại trả lại cho mình khoản tiền đã  
bồi thường cho bên mua bảo hiểm.  
Từ quy định về chuyển giao quyền yêu cầu  
trong BLDS cho thấy, chuyển giao quyền yêu  
cầu đòi bồi hoàn trong bảo hiểm tài sản được  
hình thành dựa trên chế định chuyển giao quyền  
yêu cầu trong BLDS, từ đó cho phép doanh  
nghiệp bảo hiểm nhꢃn chuyển giao quyền yêu  
cầu từ bên có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ  
và trở thành người thế quyền có quyền yêu cầu  
người thứ ba gây ra thiệt hại cho tài sản được  
bảo hiểm phải bồi hoàn lại cho mình sꢄ tiền  
bảo hiểm đã trả cho bên được bảo hiểm.  
thuꢃn bằng văn bản giữa doanh nghiệp bảo  
hiểm và bên mua bảo hiểm nhằm xꢁc lꢃp  
quyền và nghĩa vụ nhất định của cꢁc bên trong  
quꢁ trình mua bảo hiểm và chi trả bảo hiểm.  
Hợp đồng bảo hiểm tài sản có đꢄi tượng bảo  
hiểm là vꢃt có thực, tiền, giấy tờ có giꢁ và quyền  
về tài sản. Tuy nhiên, khi tài sản là đꢄi tượng của  
bảo hiểm tài sản thì phải đảm bảo hai yếu tꢄ sau:  
Thứ nhất, phải tồn tại tại thời điểm giao kết  
hợp đồng bảo hiểm tài sản. Sở dĩ, có lý do này  
là vì bản chất của bảo hiểm tài sản là bên mua  
bảo hiểm chuyển giao những tꢂn thất do cꢁc  
rủi ro được bảo hiểm gây ra đꢄi với tài sản cho  
doanh nghiệp bảo hiểm để doanh nghiệp bảo  
hiểm gꢁnh chịu thay, vì vꢃy phải có sự tồn tại  
thực tế của tài sản cần bảo hiểm.  
Ví dụ: Khi muꢄn mua bảo hiểm tài sản đꢄi  
với mꢀt công trình xây dựng thì công trình đó  
cần phải thuꢀc dự ꢁn đã được cấp phép, chủ  
đầu tư công trình phải chứng minh đủ điều kiện  
tài chính để hoàn thành xây dựng công trình;  
công trình đó phải bảo đảm về mặt phꢁp lý và  
tài chính. Khi muꢄn mua bảo hiểm vꢃt chất xe  
thì người mua bảo hiểm đã phải có xe và giấy  
chứng nhꢃn quyền sở hữu đꢄi với chiếc xe.  
Thứ hai, tài sản bảo hiểm phải định giꢁ  
được bằng tiền vì phí bảo hiểm được tính theo  
tỷ lệ phần trăm trên giꢁ trị tài sản. Hơn nữa,  
giꢁ trị tài sản được bảo hiểm tại thời điểm giao  
kết hợp đồng bảo hiểm là giới hạn mức trꢁch  
nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm.  
Chính vì vꢃy, tại thời điểm giao kết hợp đồng,  
cꢁc bên phải tính được giꢁ trị của tài sản bảo  
hiểm thì mới tính được phí bảo hiểm, từ đó  
mới xꢁc định được mức trả tiền bảo hiểm tꢄi  
đa của doanh nghiệp bảo hiểm đꢄi với người  
được bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra.  
Hợp đồng bảo hiểm tài sản là cơ sở phát  
sinh chuyển yêu cầu đòi người thứ ba bồi hoàn  
trong bảo hiểm tài sản vì nó là cơ sở hình thành  
quan hệ bảo hiểm, mà muꢄn có quan hệ chuyển  
yêu cầu đòi người thứ ba bồi hoàn trong bảo  
hiểm tài sản thì phải có quan hệ bảo hiểm.  
- Phải có sự kiện bảo hiểm xảy ra, nguyên  
nhân dẫn đến tổn thất là do hành vi có lỗi của  
người thứ ba gây ra đối với tài sản được bảo  
hiểm và phải nằm trong phạm vi bảo hiểm  
2. Các yếu tố làm phát sinh việc chuyển yêu  
cầu đòi người thứ ba bồi hoàn trong bảo  
hiểm tài sản  
- Hợp đồng bảo hiểm  
Điều 12 Luꢃt Kinh doanh bảo hiểm năm  
2000 (Luꢃt KDBH) quy định: “Hợp đồng  
bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo  
hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên  
mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh  
nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho  
người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người  
được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”.  
Nói cꢁch khꢁc, hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa  
16  
Số 15(439) - T8/2021  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
Sự kiện bảo hiểm xảy ra và nguyên nhân  
dẫn đến tꢂn thất là do hành vi có lỗi của người  
thứ ba gây ra đꢄi với tài sản được bảo hiểm  
phải nằm trong phạm vi bảo hiểm là mꢀt trong  
cꢁc cơ sở hình thành nên việc chuyển yêu cầu  
đòi người thứ ba bồi hoàn trong bảo hiểm tài  
sản vì: “Kinh doanh bảo hiểm là hoạt đꢀng của  
doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh  
lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhꢃn  
rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên  
mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh  
nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người  
thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được  
bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”4. Đã là  
hoạt đꢀng nhằm mục đích sinh lợi thì doanh  
nghiệp bảo hiểm có quyền lựa chọn rủi ro để  
bảo hiểm vì nếu là cꢁc rủi ro hàng loạt sẽ dễ  
dẫn đến doanh nghiệp bảo hiểm bị phꢁ sản. Do  
đó, nếu có sự kiện bảo hiểm xảy ra là do hành  
vi có lỗi của người thứ ba gây ra đꢄi với tài sản  
được bảo hiểm nhưng rủi ro gây ra thiệt hại này  
lại không nằm trong phạm vi bảo hiểm hoặc  
nằm trong trường hợp bị loại trừ thì khi đó,  
doanh nghiệp bảo hiểm không có trꢁch nhiệm  
phải bồi thường cho bên mua bảo hiểm và cũng  
có nghĩa là sẽ không có việc chuyển yêu cầu  
đòi người thứ ba bồi hoàn. Lúc này, bên mua  
bảo hiểm chỉ có thể yêu cầu bên gây ra thiệt hại  
bồi thường theo chế định bồi thường thiệt hại  
ngoài hợp đồng được quy định trong luꢃt dân  
sự mà thôi.  
thế quyền hay chủ thể mới có quyền yêu cầu  
bên thứ ba thực hiện hành vi có lỗi gây ra thiệt  
hại cho tài sản được bảo hiểm trả lại cho mình  
khoản tiền đã bồi thường cho bên được bảo  
hiểm và khi đó việc chuyển giao quyền yêu  
cầu đòi bồi hoàn trong bảo hiểm tài sản mới  
được xꢁc lꢃp. Do vꢃy, thiệt hại thực tế xảy ra là  
cơ sở cho việc chuyển giao quyền yêu cầu đòi  
bồi hoàn trong bảo hiểm tài sản.  
Có thể nói rằng, thiệt hại không chỉ là nền  
tảng cơ bản mà còn là điều kiện bắt buꢀc của  
trꢁch nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp  
đồng, từ đó xꢁc lꢃp nên việc chuyển giao quyền  
yêu cầu đòi bồi hoàn trong bảo hiểm tài sản.  
Ngoài ra, khi xꢁc định trꢁch nhiệm bồi  
thường thiệt hại, cꢁc bên cũng cần quan tâm  
đến yếu tꢄ lỗi của bên thứ ba thực hiện hành vi  
gây ra thiệt hại cho tài sản được bảo hiểm. Do  
phꢁp luꢃt kinh doanh bảo hiểm không có quy  
định cụ thể về lỗi của bên thứ ba gây ra thiệt  
hại đꢄi với tài sản được bảo hiểm; vì vꢃy cần  
phải quay lại quy định về lỗi trong luꢃt dân sự  
tức là gồm cả “lỗi cꢄ ý và lỗi vô ý”5 để giải  
quyết vấn đề: thiệt hại thực tế xảy ra là cơ sở  
cho việc chuyển giao quyền yêu cầu đòi bồi  
hoàn trong bảo hiểm tài sản.  
- Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phải  
hoàn thành trách nhiệm bồi thường trước cho  
bên được bảo hiểm khi có thiệt hại do bên thứ  
ba gây ra đối với tài sản được bảo hiểm  
Yếu tꢄ này được hình thành trên cơ sở, trꢁch  
nhiệm bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm  
trong hợp đồng bảo hiểm không phát sinh từ  
hành vi gây thiệt hại đối với tài sản được bảo  
hiểm mà phát sinh từ cam kết gánh chịu rủi ro  
thay cho người được bảo hiểm. Do vꢃy, nếu  
có thiệt hại xảy ra do lỗi của người thứ ba gây  
ra đꢄi với tài sản được bảo hiểm thì trước tiên  
doanh nghiệp bảo hiểm phải thực hiện nghĩa  
vụ bồi thường bảo hiểm theo cam kết trong  
hợp đồng bảo hiểm. Tuy nhiên, do thiệt hại  
này là do lỗi của người thứ ba gây ra, và theo  
quy định của phꢁp luꢃt dân sự, khi mꢀt người  
gây ra thiệt hại cho người khꢁc thì phải có  
trꢁch nhiệm bồi thường thiệt hại. Chính vì vꢃy,  
- Có thiệt hại thực tế xảy ra và có lỗi  
Bản chất của bồi thường nói chung là sự bù  
đắp thiệt hại. Trong quan hệ bồi thường dân  
sự nói chung và bồi thường trong bảo hiểm  
tài sản nói riêng, nếu có thiệt hại thực tế xảy  
ra đꢄi với tài sản thì bên bị thiệt hại mới có  
quyền yêu cầu bên gây ra thiệt hại bồi thường.  
Đồng thời, vì bên bị thiệt hại có quyền yêu cầu  
bên gây ra thiệt hại bồi thường thiệt hại nên  
sau khi doanh nghiệp bảo hiểm đã thực hiện  
xong trꢁch nhiệm bồi thường cho bên được  
bảo hiểm thì việc chuyển giao quyền yêu cầu  
đòi bồi hoàn trong bảo hiểm sẽ diễn ra. Khi  
đó, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ trở thành bên  
4 Khoản 1 Điều 3 Luꢃt KDBH.  
5 Điều 364 BLDS.  
Số 15(439) - T8/2021  
17  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
sau khi doanh nghiệp bảo hiểm đã bồi thường  
bảo hiểm, tức đã thực hiện xong trꢁch nhiệm  
trả tiền bảo hiểm, họ được quyền đòi lại sꢄ tiền  
họ đã trả do lỗi của người thứ ba gây ra.  
Do vꢃy, có thể nói rằng, doanh nghiệp bảo  
hiểm hoàn thành trꢁch nhiệm bồi thường trước  
cho bên được bảo hiểm khi có thiệt hại do bên  
thứ ba gây ra đꢄi với tài sản được bảo hiểm là  
một trong các cơ sở hình thành việc chuyển  
quyền yêu cầu đòi (người thứ ba) bồi thường  
trong bảo hiểm tài sản.  
3. Các quy định của pháp luật về chuyển  
yêu cầu đòi bồi hoàn trong bảo hiểm tài sản  
và kiến nghị hoàn thiện  
3.1. Xác định lỗi và trách nhiệm bồi  
thường thiệt hại của người thứ ba  
muꢄn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra. Lỗi  
vô ý là trường hợp mꢀt người không thấy trước  
hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại,  
mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại  
sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có  
khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại  
sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được”.  
Việc phân định lỗi cꢄ ý hay vô ý là cơ sở cho  
việc xꢁc định mức bồi thường thiệt hại. Điều  
này cũng phù hợp với khoản 2 Điều 585 BLDS  
về nguyên tắc bồi thường thiệt hại: “Người  
chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể  
được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi  
hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả  
năng kinh tế của mình”. Như vꢃy, lỗi vô ý là  
mꢀt trong cꢁc yếu tꢄ có thể xét giảm mức bồi  
thường. Tuy nhiên, việc xꢁc định lỗi của người  
thứ ba trên thực tế không hề đơn giản. Chẳng  
hạn, trong cꢁc trường hợp hỏa hoạn gây thiệt  
hại đꢄi với tài sản, dù cꢁc cơ quan chức năng  
đã xꢁc định được nguyên nhân là do sự cꢄ về  
điện gây chꢁy nhưng nguyên nhân là do khꢁch  
quan hay lỗi vô ý chủ quan thì rất khó xꢁc định  
vì người thứ ba luôn phủ nhꢃn yếu tꢄ lỗi với  
nhiều lý do hoặc cho rằng sự việc xảy ra là  
bất khả khꢁng nhằm chꢄi bỏ trꢁch nhiệm bồi  
thường. Ngoài ra, việc xꢁc định lỗi của người  
thứ ba không chỉ là xꢁc định có lỗi hay không  
mà còn là việc xꢁc định mức đꢀ lỗi gây ra đꢄi  
với tꢂng thiệt hại thực tế của tài sản được bảo  
hiểm để xꢁc định cụ thể mức bồi thường, điều  
này đã gây tranh cãi khꢁ nhiều trong thực tế vì  
phꢁp luꢃt chưa có quy định cụ thể.  
Để khắc phục hạn chế nêu trên, cꢁc tꢁc giả  
cho rằng, cần đẩy mạnh việc công bꢄ cꢁc ꢁn lệ  
liên quan đến chuyển quyền yêu cầu đòi bồi  
hoàn trong bảo hiểm tài sản theo hướng chia  
sẻ bớt nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà doanh  
nghiệp bảo hiểm phải gꢁnh chịu cho cꢁc bên  
liên quan nếu cꢁc bằng chứng về nguyên nhân  
gây ra thiệt hại là do sự kiện bất khả khꢁng  
chưa có tính thuyết phục. Điều này sẽ đảm  
bảo sự công bằng cho doanh nghiệp bảo hiểm  
nói riêng và giữa cꢁc bên tham gia quan hệ  
bảo hiểm nói chung cũng như góp phần nâng  
cao tính chủ đꢀng, tinh thần trꢁch nhiệm trong  
phòng, chꢄng thiệt hại xảy ra đꢄi với tài sản.  
- Xác định lỗi của người thứ ba đối với thiệt  
hại của người được bảo hiểm  
Chế định chuyển quyền yêu cầu người thứ  
ba bồi hoàn trong bảo hiểm tài sản chỉ có thể  
được ꢁp dụng khi người thứ ba phải thực hiện  
hành vi có lỗi gây thiệt hại đến tài sản được  
bảo hiểm theo quy định của khoản 1 Điều 49  
Luꢃt KDBH: “Trong trường hợp người thứ ba  
có lỗi gây thiệt hại cho người được bảo hiểm và  
doanh nghiệp bảo hiểm đã trả tiền bồi thường  
cho người được bảo hiểm thì người được bảo  
hiểm phải chuyển quyền yêu cầu người thứ  
ba bồi hoàn khoản tiền mà mình đã nhận bồi  
thường cho doanh nghiệp bảo hiểm”. Nghĩa  
là trꢁch nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp  
bảo hiểm dựa trên cơ sở hợp đồng bảo hiểm  
đã được ký kết giữa doanh nghiệp bảo hiểm  
với bên được bảo hiểm, còn trꢁch nhiệm bồi  
thường thiệt hại của người thứ ba phụ thuꢀc  
vào yếu tꢄ lỗi gây ra thiệt hại về tài sản đꢄi với  
bên được bảo hiểm và để thực hiện chuyển  
quyền yêu cầu người thứ ba bồi hoàn thì người  
thứ ba phải có lỗi. Tuy nhiên, Luꢃt KDBH chỉ  
nêu vấn đề có lỗi mꢀt cꢁch chung chung mà  
không xꢁc định cụ thể yếu tꢄ lỗi. Do vꢃy, cần  
phải căn cứ BLDS để xꢁc định yếu tꢄ lỗi. Điều  
364 BLDS quy định: “Lỗi trong trꢁch nhiệm  
dân sự bao gồm lỗi cꢄ ý, lỗi vô ý. Lỗi cꢄ ý là  
trường hợp mꢀt người nhꢃn thức rõ hành vi của  
mình sẽ gây thiệt hại cho người khꢁc mà vẫn  
thực hiện và mong muꢄn hoặc tuy không mong  
18  
Số 15(439) - T8/2021  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
Theo quy trình chuyển giao quyền yêu cầu  
đòi bồi hoàn, sau khi doanh nghiệp bảo hiểm  
đã thực hiện xong trꢁch nhiệm bồi thường cho  
bên được bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm  
sẽ trở thành bên thế quyền hay chủ thể mới  
có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ đꢄi với  
người thứ ba thực hiện hành vi có lỗi gây ra  
thiệt hại cho tài sản được bảo hiểm bồi hoàn lại  
cho mình sꢄ tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm  
đã trả trước đó cho bên được bảo hiểm. Có thể  
hình dung quy trình chuyển yêu cầu bồi hoàn  
trong bảo hiểm tài sản gồm cꢁc bước sau:  
Bước 1: Xꢁc định mức đꢀ và nguyên nhân  
tꢂn thất, lỗi của người thứ ba.  
suꢄt của người thứ ba gây ra thiệt hại đꢄi với tài  
sản được bảo hiểm. Sở dĩ, phải có sự tham gia  
xuyên suꢄt của người thứ ba vì điều này sẽ giúp  
người thứ ba biết được mức đꢀ thiệt hại đꢄi với  
tài sản do lỗi của mình gây ra. Ngoài ra, sự tham  
gia của người thứ ba cũng giúp cho việc giꢁm  
định, xꢁc định mức đꢀ lỗi được minh bạch và  
chính xꢁc hơn. Tuy nhiên, việc đề nghị người  
thứ ba tham gia trong quꢁ trình giꢁm định và ký  
xꢁc nhꢃn biên bản làm việc cũng gặp nhiều khó  
khăn vì quy định của phꢁp luꢃt hiện hành chưa  
có sự ràng buꢀc nghĩa vụ của người thứ ba phải  
tham gia trong quꢁ trình giꢁm định tꢂn thất đꢄi  
với tài sản được bảo hiểm bị thiệt hại.  
Trên thực tế, khi doanh nghiệp bảo hiểm  
thực hiện quyền yêu cầu người thứ ba bồi hoàn  
thì người thứ ba thường đưa ra cꢁc lý do để từ  
chꢄi trꢁch nhiệm bồi hoàn như sau:  
(i) Không có lỗi trong việc gây ra thiệt hại.  
(ii) Doanh nghiệp bảo hiểm, bên được bảo  
hiểm đã không thông bꢁo cho người thứ ba  
biết và cùng tham gia trong quꢁ trình giꢁm  
định nhằm xꢁc định nguyên nhân và đꢁnh giꢁ  
mức đꢀ thiệt hại đꢄi với tài sản được bảo hiểm.  
(iii) Không kiểm soꢁt được công tꢁc giꢁm  
định nên không chấp nhꢃn mức trꢁch nhiệm  
theo kết quả bꢁo cꢁo giꢁm định.  
(iv) Không chấp nhꢃn sꢄ tiền doanh nghiệp  
bảo hiểm đã bồi thường cho bên được bảo  
hiểm vì cho rằng sꢄ tiền bồi thường bảo hiểm  
cao hơn so với mức đꢀ thiệt hại thực tế mà  
người thứ ba đã gây ra đꢄi với tài sản được  
bảo hiểm v.v..  
Việc đưa ra cꢁc lý do này nhằm mục đích  
từ chꢄi trꢁch nhiệm hoặc đẩy mꢀt phần trꢁch  
nhiệm về phía doanh nghiệp bảo hiểm, bên  
được bảo hiểm nhằm giảm trừ mức bồi thường  
thiệt hại tꢄi đa nếu phải bồi hoàn cho doanh  
nghiệp bảo hiểm6. Để khắc phục tình trạng  
trꢄn trꢁnh trꢁch nhiệm bồi hoàn của bên thứ  
ba, cꢁc tꢁc giả cho rằng, cần phải hoàn thiện  
cꢁc quy định của Luꢃt KDBH như sau:  
Bước 2: Doanh nghiệp bảo hiểm tiến hành  
bồi thường cho bên được bảo hiểm.  
Bước 3: Bên được bảo hiểm chuyển quyền  
yêu cầu người thứ ba bồi hoàn cho doanh  
nghiệp bảo hiểm.  
Bước 4: Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền  
yêu cầu người thứ ba thực hiện hành vi có lỗi  
gây ra thiệt hại cho tài sản được bảo hiểm bồi  
hoàn lại cho mình sꢄ tiền mà doanh nghiệp bảo  
hiểm đã trả trước đó cho bên được bảo hiểm.  
Trên thực tế, để đòi lại được toàn bꢀ sꢄ tiền  
mà doanh nghiệp bảo hiểm đã trả trước đó cho  
bên được bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm  
phải chứng minh người thứ ba đã thực hiện  
hành vi có lỗi và gây ra thiệt hại đꢄi với tài sản  
được bảo hiểm.  
Mꢀt trong cꢁc bước đầu tiên để chứng minh  
người thứ ba đã thực hiện hành vi có lỗi và  
gây ra thiệt hại đꢄi với tài sản được bảo hiểm  
là giꢁm định, mꢀt giai đoạn quan trọng trong  
quꢁ trình xem xét giải quyết hồ sơ yêu cầu bồi  
thường trong quan hệ bảo hiểm tài sản. Do  
vꢃy, quꢁ trình trên cần có sự tham gia đầy đủ  
và ký xꢁc nhꢃn biên bản làm việc giữa cꢁc bên  
liên quan như doanh nghiệp bảo hiểm, đơn vị  
giꢁm định đꢀc lꢃp, bên được bảo hiểm và đặc  
biệt là người thứ ba gây ra thiệt hại đꢄi với tài  
sản được bảo hiểm nhằm đảm bảo tính minh  
bạch và khꢁch quan trong công tꢁc giải quyết  
bồi thường. Đặc biệt, cần có sự tham gia xuyên  
Thứ nhất, sửa đꢂi khoản 1 Điều 48 theo  
hướng: Bꢂ sung yêu cầu bắt buꢀc cꢁc bên  
6 Điều 363 BLDS về bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bị vi phạm có lỗi: “Trường hợp vi phạm nghĩa  
vụ và có thiệt hại là do mꢀt phần lỗi của bên bị vi phạm thì bên vi phạm chỉ phải bồi thường thiệt hại tương  
ứng với mức đꢀ lỗi của mình”.  
Số 15(439) - T8/2021  
19  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
liên quan tham gia giꢁm định tꢂn thất, xử lý  
bồi thường. Theo đó, khoản 1 Điều 48 Luꢃt  
KDBH cần được sửa đꢂi như sau:  
bảo lưu quyền yêu cầu hoặc không chuyển  
giao quyền yêu cầu thì doanh nghiệp bảo  
hiểm có quyền khấu trừ tiền bồi thường theo  
mức đꢀ lỗi của người được bảo hiểm. Do  
đó, mꢀt khi bên được bảo hiểm đã nhꢃn đủ  
tiền bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm từ  
doanh nghiệp bảo hiểm nhưng không bảo  
lưu quyền yêu cầu hoặc không chuyển giao  
quyền yêu cầu thì khả năng doanh nghiệp  
bảo hiểm thực hiện được quyền khấu trừ sꢄ  
tiền bồi thường sẽ khó xảy ra trên thực tế, trừ  
khi doanh nghiệp bảo hiểm lại phải khởi kiện  
bằng mꢀt vụ tranh chấp khꢁc giữa doanh  
nghiệp bảo hiểm và bên được bảo hiểm để  
đòi lại mꢀt phần hoặc toàn bꢀ khoản tiền bảo  
hiểm đã bồi thường do người được bảo hiểm  
không bảo lưu quyền khiếu nại hoặc không  
thực hiện việc chuyển quyền. Như vꢃy, quy  
định về thời điểm thực hiện quyền yêu cầu  
đòi bồi hoàn theo phꢁp luꢃt kinh doanh bảo  
hiểm hiện hành đã vô tình đưa doanh nghiệp  
bảo hiểm vào thế bị đꢀng trong việc ꢁp dụng  
chế tài đꢄi với người được bảo hiểm khi họ  
không thực hiện chuyển quyền.  
Để khắc phục bất cꢃp nêu trên, cần sửa  
đꢂi khoản 1 Điều 49 Luꢃt KDBH theo  
hướng xꢁc định rõ trường hợp doanh nghiệp  
bảo hiểm đã chấp nhꢃn trả tiền bồi thường  
cho người được bảo hiểm thì người được  
bảo hiểm phải chuyển quyền yêu cầu người  
thứ ba bồi hoàn khoản tiền mà người được  
bảo hiểm được chấp nhꢃn bồi thường cho  
doanh nghiệp bảo hiểm ngay tại thời điểm  
được doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhꢃn  
bồi thường. Theo đó, khoản 1 Điều 49 Luꢃt  
KDBH cần được sửa đꢂi như sau:  
“1. Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh  
nghiệp bảo hiểm hoặc người được doanh  
nghiệp bảo hiểm ủy quyền thực hiện việc  
giꢁm định tꢂn thất để xꢁc định nguyên nhân  
và mức đꢀ tꢂn thất. Chi phí giꢁm định tꢂn  
thất do doanh nghiệp bảo hiểm chịu. Quá  
trình giám định tổn thất, xử lý bồi thường  
phải có sự tham gia của doanh nghiệp bảo  
hiểm, bên được bảo hiểm và bên gây ra thiệt  
hại. Bên được bảo hiểm phải thông báo kịp  
thời cho bên gây ra thiệt hại các thông tin  
liên quan đến việc xử lý bồi thường bảo  
hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm, kể cả các  
thông tin liên quan đến giám định và khắc  
phục tổn thất”.  
Thứ hai, sửa đꢂi khoản 2 Điều 49 Luꢃt  
KDBH theo hướng bꢂ sung trường hợp  
người được bảo hiểm không thông bꢁo kịp  
thời cho người thứ ba cꢁc thông tin liên  
quan đến việc xử lý bồi thường thì thì doanh  
nghiệp bảo hiểm có quyền khấu trừ sꢄ tiền  
bồi thường tùy theo mức đꢀ lỗi của người  
được bảo hiểm. Theo đó, khoản 2 Điều 49  
Luꢃt KDBH cần được sửa đꢂi như sau:  
“2. Trong trường hợp người được bảo  
hiểm từ chꢄi chuyển quyền cho doanh  
nghiệp bảo hiểm, không bảo lưu, không  
thông báo kịp thời cho người thứ ba các  
thông tin liên quan đến việc xử lý bồi thường  
bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm, kể  
cả các thông tin liên quan đến giám định  
và khắc phục tổn thất hoặc từ bỏ quyền  
yêu cầu người thứ ba bồi thường thì doanh  
nghiệp bảo hiểm có quyền khấu trừ sꢄ tiền  
bồi thường tùy theo mức đꢀ lỗi của người  
được bảo hiểm”.  
“Trong trường hợp người thứ ba có lỗi  
gây thiệt hại cho người được bảo hiểm và  
doanh nghiệp bảo hiểm đã chấp nhận trả  
tiền bồi thường cho người được bảo hiểm  
thì người được bảo hiểm phải chuyển quyền  
yêu cầu người thứ ba bồi hoàn khoản tiền  
mà mình được chấp nhận bồi thường cho  
doanh nghiệp bảo hiểm ngay tại thời điểm  
được doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận  
3.2. Xác định thời điểm thực hiện chuyển  
quyền yêu cầu đòi bồi hoàn giữa các bên  
Theo quy định của khoản 1 Điều 49 Luꢃt  
KDBH, doanh nghiệp bảo hiểm phải hoàn  
thành xong trꢁch nhiệm bồi thường cho  
bên được bảo hiểm trước khi trở thành bên  
thế quyền. Tuy nhiên, khoản 2 Điều này lại  
quy định, nếu người được bảo hiểm không  
bồi thường”  
20  
Số 15(439) - T8/2021  
pdf 7 trang Thùy Anh 11100 Free
Bạn đang xem tài liệu "Chế định chuyển yêu cầu đòi bồi hoàn trong pháp luật bảo hiểm tài sản", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfche_dinh_chuyen_yeu_cau_doi_boi_hoan_trong_phap_luat_bao_hie.pdf