Các nhân tố ảnh hưởng sự hài lòng của sinh viên về môn học Giáo dục quốc phòng và an ninh: Nghiên cứu ở trường Đại học An Giang, Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh

226(18): 56 - 64  
TNU Journal of Science and Technology  
FACTORS AFFECTING STUDENTS' SATISFACTION ON DEFENSE  
AND SECURITY EDUCATION SUBJECTS: A RESEARCH AT AN GIANG  
UNIVERSITY, VIETNAM NATIONAL UNIVERSITY HO CHI MINH CITY  
Nguyen Chi Hai*  
An Giang University, Vietnam National University Ho Chi Minh City  
ARTICLE INFO  
ABSTRACT  
The research on factors affecting student satisfaction about the subject of  
National Defense and Security Education in order to contribute to the  
quality of the subject. It also builds a team of lecturers with high ethical  
quality, professional conscience and professional qualifications, with  
modern teaching methods and styles. At the same time, it also strengthens  
the sense of responsibility of learners, helps students improve themselves,  
and creates conditions for learners to reflect their own aspirations and  
opinions about teaching and learning activities. Research data were  
collected from survey results by questionnaires from 392 students of An  
Giang University, VNU-HCM. SPSS 20 and AMOS 24 software were used  
for the analysis and evaluation of the scales. Research results show that the  
majority of students are satisfied with the subject of National Defense and  
Security Education. The SEM model shows that there are six factors  
affecting student satisfaction about the subject of National Defense and  
Security Education, namely the Subject Program; Result evaluation;  
Management organization; Teaching methods; Teaching staff; Infrastructure.  
From the research results, a few proposals are discussed to improve student  
satisfaction about the subject of National Defense and Security Education.  
Received:  
Revised:  
13/10/2021  
18/11/2021  
18/11/2021  
Published:  
KEYWORDS  
National defense and security  
education  
An Giang University  
Satisfaction  
Students  
Factors affecting  
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG SỰ HÀI LÒNG CỦA SINH VIÊN VỀ MÔN HỌC  
GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH: NGHIÊN CỨU Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC  
AN GIANG, ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
Nguyễn Chí Hải  
Trường Đại học An Giang, Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh  
THÔNG TIN BÀI BÁO  
Ngày nhận bài: 13/10/2021  
Ngày hoàn thiện: 18/11/2021  
Ngày đăng: 18/11/2021  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng sự hài lòng của sinh viên về môn học Giáo  
dục quốc phòng và an ninh góp phần xây dựng chất lượng cho môn học, xây  
dựng đội ngũ giảng viên có phẩm chất đạo đức, lương tâm nghề nghiệp và  
trình độ chuyên môn cao, có phương pháp và phong cách giảng dạy tiên tiến,  
hiện đại. Đồng thời, cũng tăng cường tinh thần trách nhiệm của người học,  
giúp các em hoàn thiện bản thân, tạo điều kiện để người học phản ánh nguyện  
vọng, chính kiến của bản thân về hoạt động dạy và học. Số liệu nghiên cứu  
được thu thập từ kết quả khảo sát bởi bảng hỏi từ 392 sinh viên của Trường  
Đại học An Giang, Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Phần mềm  
SPSS 20, AMOS 24 được sử dụng cho quá trình phân tích, đánh giá thang đo.  
Kết quả nghiên cứu cho thấy phần lớn sinh viên khá hài lòng với môn học  
Giáo dục quốc phòng và an ninh. Mô hình SEM cho thấy có sáu nhân tố ảnh  
hưởng sự hài lòng của sinh viên về môn học Giáo dục quốc phòng và an ninh  
là Chương trình môn học; Đánh giá kết quả; Tổ chức quản lý; Phương pháp  
dạy học; Đội ngũ giảng viên; Cơ sở vật chất. Từ kết quả nghiên cứu, một số đề  
xuất được thảo luận nhằm cải thiện sự hài lòng của sinh viên về môn học Giáo  
dục quốc phòng và an ninh.  
TỪ KHÓA  
Giáo dục quốc phòng và an ninh  
Trường Đại học An Giang  
Sự hài lòng  
Sinh viên  
Nhân tố ảnh hưởng  
56  
226(18): 56 - 64  
TNU Journal of Science and Technology  
1. Giới thiệu  
Giáo dục quốc phòng và an ninh không chỉ đơn thuần là môn học về kỹ thuật quân sự mà còn  
là một hệ thống kiến thức tổng hợp cả về chính trị, quốc phòng và an ninh, nhằm trang bị cho  
người học những kiến thức, kỹ năng cơ bản nhất phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc  
nói chung và góp phần giáo dục về ý thức, trách nhiệm qua đó hình thành phẩm chất, đạo đức  
người lao động, người chiến sĩ trong tương lai của thế hệ trẻ đang học tập trong các nhà trường.  
Chất lượng giáo dục quốc phòng và an ninh cho sinh viên Trường Đại học An Giang là chất  
lượng tổng hợp của các yếu tố, các bộ phận chủ đạo cơ bản cấu thành quá trình này trong sự tác động  
làm chuyển biến sâu sắc về nhân sinh quan nhận thức, phẩm chất, năng lực, trình độ, tư duy toàn  
diện của các cá nhân sinh viên theo mục tiêu, cấu trúc, chương trình, nội dung của toàn bộ môn học  
Giáo dục quốc phòng và an ninh đã được quy định trong pháp luật hiện hành của Việt Nam.  
Trong những năm qua, quá trình tổ chức dạy và học môn Giáo dục quốc phòng và an ninh đạt  
kết quả khá cao, nguyên nhân do Bộ môn Giáo dục quốc phòng luôn chú trọng đổi mới hình thức,  
phương pháp giảng dạy, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả môn học. Tuy nhiên, bên cạnh  
những kết quả đạt được, về chất lượng, về hiệu quả công tác giáo dục quốc phòng và an ninh ở  
Trường Đại học An Giang trong thời gian qua cũng còn những hạn chế nhất định cần được nhận  
định, việc đánh giá thường xuyên về chất lượng giảng dạy, sự phù hợp của chương trình, năng lực  
của đội ngũ giảng viên, phương pháp giảng dạy, sự đầu tư về cơ sở vật chất [1]. Đặc biệt, chúng ta  
cần quan tâm xem sự phản hồi của người học về những nội dung trên là một nhân tố quan trọng để  
đánh giá chất lượng của môn học, sự phản hồi đó chính là sự hài lòng của sinh viên về môn học.  
Theo Oliver, sự hài lòng là phản ứng của người tiêu dùng đối với việc được đáp ứng những  
mong muốn. Định nghĩa này có hàm ý rằng sự thỏa mãn chính là sự hài lòng của người tiêu dùng  
trong việc tiêu dùng sản phẩm hoặc dịch vụ do nó đáp ứng những mong muốn của họ, bao gồm  
cả mức độ đáp ứng trên mức mong muốn và dưới mức mong muốn [2]. Theo Zeithaml and  
Bitner, cho rằng sự hài lòng của khách hàng là sự đánh giá của khách hàng về một sản phẩm hay  
một dịch vụ đã đáp ứng được nhu cầu và mong đợi của họ [3]. Như vậy, sự hài lòng của sinh viên  
về chất lượng môn học là sự đánh giá toàn diện về hoạt động giáo dục mà họ được cung cấp, nó  
đáp ứng sự mong đợi của sinh viên. Sự hài lòng của sinh viên được cảm nhận thông qua các hoạt  
động dạy và học nhằm đem đến cho sinh viên sự thỏa mãn và họ được đánh giá sau khi sử dụng.  
Hiện nay, ở Việt Nam đã có một vài nghiên cứu về sự hài lòng của sinh viên về chất lượng  
giáo dục đại học. Theo Nguyễn Thị Ngọc Xuân, các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh  
viên về chất lượng giáo dục của trường đại học đã đề xuất mô hình có 5 yếu tố bao gồm tiếp cận  
dịch vụ giáo dục, cơ sở vật chất, môi trường giáo dục, hoạt động giáo dục, kết quả giáo dục [4].  
Theo Phạm Thị Lan Phượng và cộng sự đã đề xuất mô hình sự hài lòng của sinh viên về chất  
lượng của trường đại học tại thành phố Hồ Chí Minh gồm 6 nhân tố thư viện, kí túc xá, căn-tin,  
tư vấn học tập, tư vấn và giới thiệu việc làm, tổng thể cơ sở vật chất và sự hỗ trợ của các phòng  
ban [5]. Theo tác giả Trần Thị Kim Chi đã đề xuất mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài  
lòng của sinh viên về chất lượng tại Trường Đại học Lạc Hồng gồm 5 nhân tố quy trình thực hiện  
dịch vụ, năng lực phục vụ, đội ngũ giảng viên/cố vấn học tập, các hoạt động phong trào và cơ sở  
vật chất [6].  
Theo Trần Khánh Mai, tác giả đã nhận định rằng thực trạng môn Giáo dục quốc phòng và an  
ninh còn biểu hiện một số mặt tồn tại, khiếm khuyết nhất định trong tổ chức hoạt động dạy và  
học, đánh giá chất lượng môn học cần được tác động điều chỉnh kịp thời, đề xuất các giải pháp  
bao gồm đội ngũ giảng viên, hoạt động tổ chức, chương trình, nội dung giáo dục, đánh giá kết  
quả học tập môn học nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập hiện nay [7].  
Nguyễn Văn Hòa và các cộng sự đã phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cũng như cơ hội và thách  
thức trong tổ chức đào tạo môn học Giáo dục quốc phòng an ninh tại Trung tâm Giáo dục quốc  
phòng và an ninh thuộc Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh. Trên cơ sở đó đề xuất 05  
giải pháp phù hợp với thực tiễn công tác giảng dạy và huấn luyện tại Trung tâm, góp phần nâng  
cao chất lượng đào tạo môn học Giáo dục quốc phòng và an ninh [8].  
57  
226(18): 56 - 64  
TNU Journal of Science and Technology  
Như vậy, các công trình nghiên cứu trước đây chưa một công trình nào nghiên cứu định lượng  
về yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên đối với môn học Giáo dục quốc phòng và an  
ninh. Để giải thích vấn đề này, chúng tôi đặt ra 2 câu hỏi. Sinh viên Trường Đại học An Giang có  
hài lòng với môn học Giáo dục quốc phòng và an ninh không? Những yếu tố ảnh hưởng đến sự hài  
lòng của sinh viên Trường Đại học An Giang đối với môn học Giáo dục quốc phòng và an ninh?.  
Trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước đây, chúng tôi đề xuất mô hình các yếu tố ảnh hưởng  
đến sự hài lòng của sinh viên đối với môn học Giáo dục quốc phòng và an ninh: Một nghiên cứu  
tại Trường Đại học An Giang, ĐHQG-TPHCM có 6 nhân tố bao gồm Chương trình môn học;  
Phương pháp giảng dạy; Đội ngũ giảng viên; Cơ sở vật chất; Tổ chức quản lý; Đánh giá kết quả.  
Chương trình môn học  
Phương pháp giảng dạy  
Đội ngũ giảng viên  
Cơ sở vật chất  
Sự hài lòng của sinh viên về môn học  
Giáo dục quốc phòng và an ninh  
Tổ chức quản lý  
Đánh giá kết quả  
Hình 1. Mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên  
về môn học Giáo dục quốc phòng và an ninh  
2. Phương pháp nghiên cứu  
Chúng ta có thể đánh giá mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên về môn  
học Giáo dục quốc phòng và an ninh dựa trên việc xem xét khung lý thuyết và sử dụng nhóm trọng  
tâm thảo luận với sinh viên và giảng viên ở Trường Đại học An Giang. Trong các cuộc thảo luận  
nhóm tập trung, những người tham gia đã được cung cấp danh sách những nhân tố ảnh hưởng đến  
sự hài lòng của sinh viên về môn học Giáo dục quốc phòng và an ninh; và họ được yêu cầu đưa ra ý  
kiến để bổ sung vào những yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên về môn học Giáo dục  
quốc phòng và an ninh; chúng tôi đã đánh giá sự phù hợp của các thang đo. Sự đồng thuận đạt được  
ở cuối giai đoạn thảo luận cho phép chúng tôi xây dựng mô hình ở Hình 1.  
2.1. Lấy mẫu  
Dựa trên những kết quả thảo luận sơ bộ, một bảng câu hỏi đã được phát triển để có cách nhìn  
tổng quan về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên về môn học Giáo dục quốc  
phòng và an ninh. Thời gian lấy mẫu từ tháng 2 đến tháng 4 năm 2021 tại Trường Đại học An  
Giang, sinh viên trả lời trực tiếp trên bảng hỏi. Cuộc khảo sát bao gồm 36 mục Likert. Các câu  
hỏi về nhân khẩu học để tìm thông tin về giới tính, khoa của sinh viên đang học, và 7 thang đo  
của mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên về môn học Giáo dục quốc  
phòng và an ninh. Thang đo Likert được sử dụng với dãy giá trị từ 1 đến 5 để đo lường mức độ  
cảm nhận của đối tượng khảo sát (1) hoàn toàn không đồng ý, (2) không đồng ý, (3) trung lập, (4)  
đồng ý, (5) hoàn toàn đồng ý.  
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi đã được sử dụng. Tổng số có 392 sinh viên được khảo  
sát, bao gồm 198 sinh viên nam chiếm tỷ lệ 50,5% và 194 sinh viên nữ chiếm 49,5%. Sinh viên  
58  
226(18): 56 - 64  
TNU Journal of Science and Technology  
năm thứ nhất là 69 chiếm tỷ lệ 17,6%, sinh viên năm thứ 2 là 106 chiếm tỷ lệ 27%, sinh viên năm  
thứ ba là 113 chiếm tỷ lệ 28,8%, sinh viên năm thứ tư là 104 chiếm tỷ lệ 26,5%. Sinh viên từ 8  
khoa của Trường Đại học An Giang, trong đó khoa Nông nghiệp - Tài nguyên thiên nhiên là 31  
chiếm tỷ lệ 7,9%, khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh là 61 sinh viên chiếm tỷ lệ 15,6%, khoa Sư  
phạm 28 sinh viên chiếm tỷ lệ 7,1%, khoa Luật và Khoa học chính trị là 66 sinh viên chiếm tỷ lệ  
16,8%, khoa Kỹ thuật - Công nghệ - Môi trường là 49 sinh viên chiếm tỷ lệ 12,5%, khoa Công  
nghệ thông tin là 64 sinh viên chiếm tỷ lệ 16,3%, khoa Du lịch và Văn hóa - Nghệ thuật là 38 sinh  
viên chiếm tỷ lệ 9,7%, khoa Ngoại ngữ là 55 sinh viên chiếm tỷ lệ 14,0%, số liệu về mẫu khảo sát  
được thể hiện ở Bảng 1.  
Bảng 1. Đặc điểm nhân khẩu học của mẫu khảo sát  
Đặc điểm nhân khẩu học  
Số mẫu  
392  
198  
194  
392  
69  
106  
113  
104  
392  
31  
Phần trăm  
100%  
50,5  
49,5  
100%  
17,6  
27,0  
28,8  
26,5  
100%  
7,9  
1. Giới tính  
Nam  
Nữ  
2. Sinh viên đang học năm  
Thứ nhất  
Thứ hai  
Thứ ba  
Thứ tư  
3. Sinh viên thuộc khoa  
Khoa Nông nghiệp - Tài nguyên thiên nhiên  
Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh  
Khoa Sư phạm  
61  
28  
15,6  
7,1  
Khoa Luật và Khoa học chính trị  
Khoa Kỹ thuật - Công nghệ - Môi trường  
Khoa Công nghệ thông tin  
Khoa Du lịch và Văn hóa - Nghệ thuật  
Khoa Ngoại ngữ  
66  
49  
64  
38  
16,8  
12,5  
16,3  
9,7  
55  
14,0  
2.2. Phân tích dữ liệu  
Sinh viên trả lời trực tiếp trên bảng hỏi, kết quả cuộc khảo sát được mã hóa và phân tích bởi  
phần mềm SPSS Phiên bản 20, AMOS phiên bản 24. Việc đo lường sự hài lòng của sinh viên về  
môn học Giáo dục quốc phòng và an ninh, các bước tiến hành phân tích bao gồm 4 bước.  
Đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach s Alpha. Hệ số Alpha được phát triển  
bởi Cronbach nhằm đo lường tính nhất quán nội tại (internal consistency) của các biến trong cùng  
một nhóm. Theo đó, hệ số Cronbach s Alpha có thể được dùng để đánh giá độ tin cậy của thang  
đo và loại các biến không phù hợp ra khỏi mô hình [9].  
Phân tích nhân tố khám phá (exploratory factor analysis - EFA) nhằm đánh giá giá trị hội tụ  
và giá trị phân biệt của từng biến trong các nhóm nhân tố;  
Phân tích nhân tố khẳng định (confirmatory factor analysis - CFA) nhằm kiểm định tính đại  
diện của các biến quan sát (mesured variables) đối với các nhân tố (constructs);  
Kiểm định giả thuyết và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đối với sự hài lòng bằng  
mô hình cấu trúc tuyến tính (structural equation modeling - SEM).  
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận  
3.1. Kết quả kiểm định độ tin cậy của thang đo  
Hệ số Cronbach s Alpha là một ph p kiểm định về mức độ chặt chẽ mà các thang đo tương  
quan với nhau. Các nhà nghiên cứu về thang đo [10]-[12] cho rằng, hệ số Cronbach s Alpha > 0,6  
là có thể sử dụng được, thang đo tốt nhất trong khoảng từ 0,8 đến 1. Ngoài ra, các biến có hệ số  
tương quan biến tổng < 0,3 sẽ bị loại khỏi mô hình nghiên cứu.  
Kết quả xử lý dữ liệu tại bảng 2 đã cho thấy, 7 thang đo đều đạt được độ tin cậy cao.  
Cronbach s Alpha > 0,8 và Hệ số tương quan biến tổng > 0,3. Nó thể hiện sự phù hợp của thang đo.  
59  
226(18): 56 - 64  
TNU Journal of Science and Technology  
Bảng 2. Kết quả kiểm định thang đo Cronbach's Alpha  
Thang đo  
Chương trình môn học  
Phương pháp giảng dạy  
Đội ngũ giảng viên  
Cơ sở vật chất  
Tổ chức quản lý  
Đánh giá kết quả  
Sự hài lòng  
Mã hóa Biến quan sát Cronbach's Alpha Hệ số tương quan biến tổng  
CHT  
PHP  
GIV  
5
5
5
5
4
5
5
0,886  
0,833  
0,850  
0,897  
0,931  
0,938  
0,952  
0,695 - 0,819  
0,592 - 0,667  
0,575 - 0,783  
0,692 - 0,818  
0,787 - 0,876  
0,761 - 0,899  
0,813 - 0,893  
VAC  
TOC  
ĐAG  
HAL  
3.2. Phân tích nhân tố khám phá EFA cho các thang đo  
Kết quả kiểm định KMO và Bartlett s trong bảng kiểm định KMO và Bartlett s cho thấy, giá  
trị KMO = 0,871, chứng tỏ nhân tố khám phá này là phù hợp. Kiểm định Bartlett s, giá trị Sig.=  
0,000 (< 0,05), chứng tỏ các biến có tương quan với nhau trong các nhân tố.  
Thông số Eigenvalues ≥ 1 được giữ lại trong mô hình phân tích. Kết quả phân tích cho thấy  
giá trị Eigenvalue = 1,286 (≥ 1) và trích được 7 nhân tố mang ý nghĩa tóm tắt thông tin tốt nhất.  
Chỉ số tổng bình phương hệ số tải nhân tố tích lũy (Cumulative) là 73,515% ≥ 50% cho thấy mô  
hình EFA là phù hợp.  
Bảng 3. Bảng nhân tố ma trận xoay  
Nhân tố  
1
2
3
4
5
6
7
DAG4  
DAG5  
DAG3  
DAG2  
DAG1  
CHT5  
CHT3  
CHT1  
CHT4  
CHT2  
VAC5  
VAC4  
VAC1  
VAC2  
VAC3  
TOC3  
TOC4  
TOC2  
TOC1  
HAL2  
HAL4  
HAL1  
HAL5  
HAL3  
GIV5  
GIV3  
GIV2  
GIV1  
GIV4  
PHP4  
PHP5  
PHP2  
PHP1  
PHP3  
0,947  
0,903  
0,888  
0,794  
0,753  
0,856  
0,735  
0,713  
0,689  
0,688  
0,851  
0,848  
0,751  
0,739  
0,711  
0,893  
0,884  
0,818  
0,775  
0,761  
0,756  
0,748  
0,734  
0,628  
0,844  
0,704  
0,666  
0,662  
0,581  
0,747  
0,727  
0,683  
0,656  
0,627  
60  
226(18): 56 - 64  
TNU Journal of Science and Technology  
Kết quả ma trận xoay tại Bảng 3 cho thấy, 34 biến quan sát được phân thành 7 nhân tố, tất cả  
các biến quan sát đều có hệ số tải nhân tố Factor Loading lớn hơn 0,5 và không còn các biến xấu.  
Do đó cả 7 nhân tố được giữ lại trong mô hình nghiên cứu.  
3.3. Phân tích nhân tố khẳng định CFA  
Phân tích nhân tố khẳng định CFA là một kỹ thuật thống kê của mô hình cấu trúc tuyến tính  
(SEM). Phương pháp CFA và mô hình cấu trúc tuyến tính SEM được sử dụng để kiểm định các  
thang đo, mức độ phù hợp mô hình. Kết quả CFA được đánh giá thông qua các chỉ tiêu bao gồm  
tính đơn hướng; độ tin cậy; tính hội tụ; và tính phân biệt.  
Về tính đơn hướng, kết quả phân tích nhân tố khẳng CFA cho 8 thang đo có các chỉ số Chi-  
square/df = 1,767 (< 2) là tốt; CFI = 0,962 (> 0,9) là tốt; hệ số RMSEA = 0,044 (< 0,6) là tốt;  
pclose = 0,976 (> 0,05) [13], [14]. Hệ số GFI = 0,883, AGFI = 0,861 (> 0,8) là chấp nhận được  
[15], [16]. Kết quả phân tích nhân tố CFA khẳng định tính đơn hướng của thang đo trong mô  
hình nghiên cứu.  
Kiểm định tính hội tụ (convergent validity), tính phân biệt (discriminant validity) và sự tin cậy  
(reliability), ở Bảng 4. Cho chúng ta thấy, tất cả giá trị độ tin cậy tổng hợp (CR) > (0,7) nghĩa là  
độ tin cậy của các thang đo là phù hợp với mô hình; Tất cả giá trị phương sai trung bình được  
trích (AVE) > (0,5) nên tính hội tụ của các thang đo là phù hợp với mô hình; Tất cả giá trị  
phương sai riêng lớn nhất (MSV) < Phương sai trung bình được trích (AVE) nên tính phân biệt  
được đảm bảo [14].  
Bảng 4. Kết quả kiểm định độ tin cậy, tính hội tụ, và tính phân biệt  
Cấu trúc các nhân tố  
Đánh giá kết quả (DAG)  
Chương trình môn học (CHT)  
Cơ sở vật chất (VAC)  
Số lượng biến  
CR  
AVE  
0,747  
0,615  
0,641  
0,775  
0,800  
0,540  
0,504  
MSV  
0,102  
0,279  
0,152  
0,193  
0,279  
0,253  
0,181  
MaxR(H)  
0,968  
0,903  
0,907  
0,939  
0,958  
0,885  
0,837  
5
5
5
4
5
5
5
0,936  
0,888  
0,899  
0,932  
0,952  
0,853  
0,835  
Tổ chức quản lý (TOC)  
Sự hài lòng của sinh viên (HAL)  
Đội ngũ giảng viên (GIV)  
Phương pháp giảng dạy (PHP)  
Như vậy, kết quả kiểm định Validity và Reliability thể hiện ở Bảng 4. Các chỉ số kiểm định đã  
thể hiện được độ tinh cậy tổng hợp, giá trị hội tụ, giá trị phân biệt được đảm bảo ở các thang đo,  
qua đó các thang đo đã chứng minh được sự phù hợp của mô hình.  
3.4. Kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM)  
Kết quả xử lý dữ liệu được tiếp tục thực hiện để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài  
lòng của sinh viên đối với chất lượng dịch vụ giáo dục đại học ở Việt Nam. Kết quả xử lý được  
trình bày ở Bảng 5, và Hình 2.  
Bảng 5. Kết quả kiểm định mối quan hệ giữa các khái niệm nghiên cứu  
Mối quan hệ tác động  
HAL <--- CHT  
HAL <--- PHP  
Hệ số hồi quy  
0,286  
Sig  
Hệ số hồi quy chuẩn hóa  
0,000  
0,000  
0,000  
0,002  
0,000  
0,000  
0,276  
0,222  
0,191  
0,130  
0,232  
0,258  
0,294  
0,214  
0,193  
0,269  
HAL <--- GIV  
HAL <--- VAC  
HAL <--- TOC  
HAL <--- DAG  
0,238  
Mô hình có Chi-square/df = 1,767, cfi = 0,962, gfi = 0,883, agfi = 0,861, rmsea = 0,044,  
pclose = 0,976. Kết quả nghiên cứu Bảng 5, thể hiện giá trị Sig của các thang đo CHT = 0,000 (<  
0,05), PHP = 0,000 (< 0,05), GIV = 0,000 (< 0,05), VAC = 0,002 (< 0,05), TOC = 0,000 (<  
0,05), DAG = 0,000 (< 0,05). Kết quả này thể hiện là mối quan hệ tác động giữa các nhân động  
lập và nhân tố phụ thuộc là có ý nghĩa.  
61  
226(18): 56 - 64  
TNU Journal of Science and Technology  
Kết quả kiểm định mối quan hệ giữa các khái niệm ở Bảng 5, các hệ số hồi quy đã chuẩn hóa  
càng lớn thì biến độc lập tương ứng tác động càng mạnh đến biến phụ thuộc sự hài lòng của sinh  
viên (HAL). Các nhân tố có tác động đến chất lượng dịch vụ giáo dục đại học gồm CHT = 0,276,  
DAG = 0,258, TOC = 0,232, PHP = 0,222, GIV = 0,191, VAC = 0,130.  
Hình 2. Kết quả nghiên cứu mô hình SEM  
Kết quả nghiên cứu R2 (Adjusted R Square) của HAL = 0,560, nó có ý nghĩa là mô hình hồi  
quy này là phù hợp. Mô hình hồi quy giải thích là các biến độc lập ảnh hưởng đến 56% sự biến  
thiên của biến phụ thuộc sự hài lòng của sinh viên (HAL) trong mô hình.  
Kết quả nghiên cứu cho thấy, các thang đo đều đạt được độ tin cậy và có giá trị cho ph p đánh  
giá mô hình. Phát hiện của nghiên cứu thể hiện có 6 nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh  
viên về môn học Giáo dục quốc phòng và an ninh bao gồm Chương trình môn học; Đánh giá kết  
quả; Tổ chức quản lý; Phương pháp dạy học; Đội ngũ giảng viên; Cơ sở vật chất.  
Chương trình môn học ảnh hưởng trực tiếp đến sự hài lòng của sinh viên về môn học Giáo  
dục quốc phòng và an ninh là 0,276. Để cải thiện nhân tố chương trình đào tạo, trường đại học  
nên cân đối tỷ lệ giữa lý thuyết và thực hành trong chương trình đào tạo. Chương trình đào tạo  
nên hướng đến 3 mục tiêu (kiến thức, kỹ năng, năng lực). Nên xây dựng chương trình đảm bảo  
tính linh hoạt và mềm dẻo phù hợp áp dụng ở các cơ sở giáo dục [17].  
Đánh giá kết quả ảnh hưởng trực tiếp đến sự hài lòng của sinh viên về môn học Giáo dục quốc  
phòng và an ninh là 0,258. Tổ chức quản lý ảnh hưởng trực tiếp đến sự hài lòng của sinh viên về  
môn học Giáo dục quốc phòng và an ninh là 0,232. Tổ chức tốt việc tiếp nhận và dạy học, bố trí  
nơi ăn, ở, bãi tập chu đáo trong suốt quá trình tổ chức học tập tập trung tại cơ sở. Trong quá trình  
tham gia khóa học, sinh viên được biên chế tiệm cận theo mô hình quân đội, thực hiện đúng, đủ  
11 chế độ trong ngày, 3 chế độ trong tuần. Phương pháp dạy học ảnh hưởng trực tiếp đến sự hài  
lòng của sinh viên về môn học Giáo dục quốc phòng và an ninh là 0,222. Đội ngũ giáo viên Giáo  
dục quốc phòng và an ninh Trường Đại học An Giang tiếp tục đẩy mạnh đổi mới phương pháp  
giảng dạy môn học theo hướng tăng hiệu quả thực tiễn đối với sinh viên, coi trọng khắc phục  
những hạn chế do tính đặc thù của môn học [18].  
Đội ngũ giảng viên ảnh hưởng trực tiếp đến sự hài lòng của sinh viên về môn học Giáo dục  
quốc phòng và an ninh là 0,191. Việc nâng cao công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ giảng dạy có  
62  
226(18): 56 - 64  
TNU Journal of Science and Technology  
trình độ cao và giảng dạy tốt. Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy sẽ góp phần nâng  
cao chất lượng dạy học, tạo ra môi trường giáo dục mang tính tương tác giữa người dạy và người  
học [19]. Cơ sở vật chất ảnh hưởng trực tiếp đến sự hài lòng của sinh viên về môn học Giáo dục  
quốc phòng và an ninh là 0,130.  
4. Kết luận  
Mô hình nghiên cứu giả thuyết được kiểm chứng các thang đo thể hiện sự phù hợp của các  
nhân tố. Kết quả nghiên cứu đã kiểm chứng mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của  
sinh viên về môn học Giáo dục quốc phòng và an ninh. Trong đó có sáu nhân tố đại diện theo  
mức độ ảnh hưởng từ mạnh đến yếu bao gồm Chương trình môn học; Đánh giá kết quả; Tổ chức  
quản lý; Phương pháp dạy học; Đội ngũ giảng viên; Cơ sở vật chất. Như vậy, kết quả đạt được  
trong nghiên cứu đã thỏa mãn các mục tiêu đặt ra.  
Trong các đề xuất được thảo luận có thể giúp các nhà quản lý giáo dục hiểu được mối quan hệ  
giữa các nhân tố độc lập với sự hài lòng của sinh viên về môn học Giáo dục quốc phòng và an  
ninh. Qua đó, chúng ta có thể nhận thấy được thông tin về sự hài lòng của người học, nó chính là  
cơ sở để đánh giá tính hiệu quả của môn học, giúp hệ thống kịp thời có những điều chỉnh hợp lý  
để ngày càng tạo ra mức độ hài lòng cao hơn của những chủ thể tham gia hoạt động dạy-học, và  
còn cung cấp số liệu, minh chứng cho công tác tự đánh giá về chương trình đào tạo. Việc xác  
định sự hài lòng của sinh viên về môn học Giáo dục quốc phòng và an ninh có thể góp phần cải  
tiến, nâng cao chất lượng môn học.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO/ REFERENCES  
[1] C. H. Nguyen, “National defense and security education for students in the impact of the industrial  
revolution 4.0,” in Higher Education in the 4th Industrial Revolution, V. V. Thang, Ed. Vietnam  
National University Ho Chi Minh City (in Vietnamese), 2020, pp. 163-169.  
[2] R. L. Oliver, Satisfaction: A Behavioural Perspective on the Consumer. New York: McGraw-Hill, 1997.  
[3] A. Parasuraman, V. A. Zeithaml, and L. L. Berry, “Alternative Scales for Measuring Service Quality: A  
Comparative Assessment Based on Psychometric and Diagnostic Criteria,” In Handbuch  
Dienstleistungsmanagement, M. Bruhn, H. Meffert, Eds. Gabler Verlag, Wiesbaden, 1998.  
[4] T. N. X. Nguyen, “Factors affecting student satisfaction about the quality of educational services of Tra  
Vinh University,” (in Vietnamese), Journal of Education, vol. 1, no. 5, pp. 133-137, 2018.  
[5] T. L. P. Pham and T. H. Pham, “Student satisfaction about the service quality of the University in Ho  
Chi Minh City,” (in Vietnamese), Ho Chi Minh City University of Education Journal of Science, vol.  
16, no. 4, pp. 101-113, 2019.  
[6] T. K. C. Tran, “A study on factors affecting student s satisfaction with support services at Lac Hong  
University,” (in Vietnamese), Ho Chi Minh City University of Education Journal of Science, vol. 16,  
no. 11, pp. 775-786. 2019.  
[7] K. M. Tran, “Current situation and solutions to improve the quality of National Defense and Security  
Education for students at An Giang University today,” (in Vietnamese), An Giang University Journal  
of Science, vol. 18, no. 6, pp. 95-109, 2017.  
[8] V. H. Nguyen, V. H. Chu, T. S. Nguyen, and T. T. Nguyen, “Solutions to improve the quality of  
training in National Defense and Security Education at the Center for National Defense and Security  
Education at Bac Ninh University of Physical Education and Sports,” (in Vietnamese), Journal of  
Scientific Training and Sports Coaching, no. 2, pp. 24-29, 2021.  
[9] L. J. Cronbach, “Coefficient alpha and the internal structure of tests,” Psychometric/ Psychometrika,  
vol. 16, no. 3, pp. 297-334, 1951.  
[10] J. C. Nunnally, Psychometric theory, 2nd Edition, New York: McGraw-Hill, 1978.  
[11] S. F. Slater and J. C. Narver, “Market Orientation and the Learning Organization,” Journal of  
Marketing, no. 59, pp. 63-74, 1995.  
[12] D. George and P. Mallery, SPSS for Windows step by step: A simple guide and reference 11.0 update  
(4th ed.). Boston: Allyn & Bacon, 2003.  
63  
226(18): 56 - 64  
TNU Journal of Science and Technology  
[13] L. T. Hu and P. M. Bentler, “Cutoff Criteria for Fit Indexes in Covariance Structure Analysis:  
Conventional Criteria versus New Alternatives,” Structural Equation Modeling, no. 6, pp. 1-55, 1999.  
[14] J. Hair, W. Black, B. Babin, and R. Anderson, Multivariate data analysis (7th ed.): Upper Saddle  
River, NJ: Prentice Hall, 2010.  
[15] W. J. Doll, W. Xia, and G. Torkzadeh, “A confirmatory factor analysis of the end-user  
computing satisfaction instrument,” MIS Quarterly, vol. 18, no. 4, pp. 453-461, 1994.  
[16] D. M. T. Le, T. H. L. Tran, and Q. T. Nguyen, “Service quality in higher education: Applying  
HEdPERF scale in Vietnamese universities,” Ho Chi Minh city open University Journal of Science -  
Social Sciences, vol. 11, no. 1, pp. 101-115, 2021.  
[17] V. H. Tran, H. C. Pham, and H. N. Vu, “Service quality and students level of satisfaction in Private  
Colleges in Vietnam,” International Journal of Financial Research, vol. 7, no. 3, pp. 121-128, 2016.  
[18] T. T. T. Tran, D. K. Giap, T. H. D. Nguyen, and T. L. Tran, “Research on Factors Affecting the  
Postgraduate Students  Satisfaction in the Quality of Training Services in Accounting at the Training  
Institutions in Hanoi,” American Journal of Educational Research, vol. 6, no. 5, pp. 512-518, 2018.  
[19] H. N. Tran, V. N. Phan, H. S. Doan, T. A. D. Tran, and G. N. Tran, “Lecturer professional  
development strategies in a higher education institution in Ha Tinh Province at a time of educational  
reforms,” Educational Studies Moscow, vol. 2, no. 1, pp. 128-151, 2020.  
64  
pdf 9 trang Thùy Anh 17680 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các nhân tố ảnh hưởng sự hài lòng của sinh viên về môn học Giáo dục quốc phòng và an ninh: Nghiên cứu ở trường Đại học An Giang, Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_nhan_to_anh_huong_su_hai_long_cua_sinh_vien_ve_mon_hoc_g.pdf