Một số vấn đề về di sản dùng vào việc thờ cúng theo quy định bộ luật dân sự 2015
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ DI SẢN DÙNG VÀO VIỆC THỜ CÚNG
THEO QUY ĐỊNH BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015
Trừ Thị Cẩm Tú, Nguyễn Thị Như*
Khoa Luật, Trường Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh
GVHD: ThS. Lê Thị Minh Thư
TÓM TẮT
Người Việt Nam từ xưa đến nay vốn coi trọng việc thờ tự, có thể nói đây là trách nhiệm quan
trọng của con cháu nhằm thể hiện sự tôn kính, biết ơn đối với những người đã có công sinh
thành, dưỡng dục. Thờ cúng không chỉ có ý nghĩa về mặt vật chất mà còn có giá trị về mặt
tinh thần. Vì vậy, đối với di sản dùng vào việc thờ cúng các gia đình, dòng tộc có những quy
ước rất chặt chẽ và đồng thời Nhà nước cũng có những quy định pháp luật cụ thể công nhận
và bảo vệ quyền của cá nhân được để lại di sản dùng vào việc thờ cúng. Trong phạm vi bài
viết này, nhóm tác giả phân tích quy định pháp luật về di sản dùng vào thờ cúng, đồng thời
nêu ra một số thực trạng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về di sản dùng vào việc thờ
cúng ở nước ta hiện nay.
Từ khóa: di chúc, di sản, kê biên, quản lý di sản, thờ cúng.
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Quy định pháp luật về di sản dùng vào việc thờ được phát sinh từ di chúc của người chết
để lại, theo ý nguyện của người lập di chúc. Những phần di sản để dùng vào việc thờ cúng
được ghi rõ trong di chúc. Ngoài ra, thì di sản dùng vào việc thờ cúng có thể được hình
thành do những người thừa kế tự thỏa thuận khi không có đề cập trong di chúc, hoặc di
chúc không có. Vấn đề về di sản dùng vào việc thờ cúng không chỉ mới xuất hiện gần đây.
Từ ngày xưa, vấn đề này đã được ghi nhận ở Điều 390 Quốc triều hình luật1. Đến những
năm 90 thì pháp luật quy định cho phép cá nhân có quyền lập di chúc dành một phần tài sản
của mình dùng vào việc thờ cúng. Lúc này vấn đề về di sản dùng vào việc thờ cúng lại được
cụ thể hóa tại Điều 21 Pháp lệnh thừa kế năm 19902. Tuy nhiên, vấn đề về di sản dùng vào
1 Điều 360 Quốc triều hình luật:
Cha mẹ làm chúc thư phân chia tài sản, thiết lập hương hoả trong chúc thư.
Nếu cha mẹ không làm chúc thư thì anh, em hay tộc trưởng phân chia gia sản để 1/20 điền sản làm hương hoả.
2 Điều 21 Pháp lệnh thừa kế 1990:
Nếu người lập di chúc có để lại di sản dùng vào việc thờ cúng thì di sản đó coi như di sản chưa chia. Khi việc thờ cúng không
được thực hiện theo di chúc, thì những người thừa kế của người để lại di sản dùng vào việc thờ cúng có quyền hưởng di sản
đó.
1860
việc thờ cúng trong pháp lệnh thừa kế 1990 vẫn chưa thực sự chặt chẽ. Nội dung của Điều
21 pháp lệnh thừa kế thể hiện ý chí của người lập di chúc muốn để lại di sản của mình dùng
vào việc thờ cúng nhưng vấn đề thực hiện mong muốn đó vẫn không được đảm bảo tuyệt
đối. Để khắc phục hạn chế trên Bộ luật Dân sự (BLDS) 1995, Bộ luật Dân sự 2005 và Điều
645 Bộ luật Dân sự 2015 có những quy định cụ thể hơn về vấn đề này. Tuy nhiên, trong quá
trình xây dựng luật và ban hành pháp luật về vấn đề này còn nhiều bất cập, vướng mắc
giữa quy định pháp luật và áp dụng vào thực tiễn.
2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ DI SẢN DÙNG VÀO VIỆC THỜ CÚNG
Việc thờ cúng tổ tiên được thực hiện trên cơ sở quan niệm mang tính chất đạo đức và văn
hoá, tôn trọng và biết ơn công sinh thành, dưỡng dục; con người có nguồn cội, tổ tông vì vậy
con, cháu phải biết ơn những thế hệ đã sinh ra mình. Cũng chính vì lẽ đó, đối với những di
sản dùng vào việc thờ cúng có những quy ước chặt chẽ của gia đình, dòng tộc, đồng thời
Nhà nước cũng có những quy định pháp luật cụ thể công nhận và bảo vệ quyền của cá nhân
được để lại di sản dùng vào việc thờ cúng, cụ thể như sau:
2.1 Quyền quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng
Quyền quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng được quy định tại khoản 1 Điều 475 Bộ luật
Dân sự 2015 như sau: “Trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc
thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho người đã được chỉ
định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực
hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của những người thừa kế thì những người
thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ
cúng. Trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những
người thừa kế cử người quản lý di sản thờ cúng. Trường hợp tất cả những người thừa kế
theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý
hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật”. Theo đó,
người lập di chúc chỉ định một người cụ thể quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng và thực
hiện việc thờ cúng. Nhưng nếu như người được chỉ định quản lý di sản dùng vào việc thờ
cúng không thực hiện nghĩa vụ theo di chúc hoặc theo thỏa thuận của những người thừa
kế khác thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho
người khác để quản lý để thờ cúng. Ngoài ra, nếu người để lại di chúc không chỉ định trong
di chúc ai là người quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng và thực hiện nghĩa vụ thờ cúng thì
những người thừa kế cử một người quản lý di sản thờ cúng.
2.2 Di sản thờ cúng không thể bị kê biên
Di sản được dùng vào việc thờ cúng là một phần thuộc di sản của người đã mất để lại, do đó
theo quy định tại khoản 2 Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015 “Trường hợp toàn bộ di sản của
người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một
phần di sản dùng vào việc thờ cúng”, thì lúc này nếu như toàn bộ di sản của người chết
Nếu những người thừa kế đều đã chết, thì di sản thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người thừa
kế theo pháp luật quy định tại Điều 25 và Điều 26 của Pháp lệnh này.
1861
không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di
sản dùng vào việc thờ cúng mặc dù người lập di chúc đã định đoạt một phần di sản dùng
vào việc thờ cúng. Tuy nhiên, một khi được lập trong phạm vi cho phép, các tài sản thuộc di
sản dùng vào việc thờ cúng không thể bị kê biên theo yêu cầu của chủ nợ của người chết
hay chủ nợ các chi phí mai táng và những chi phí phát sinh gắn với cái chết của người đó.
Nguyên tắc này không được áp dụng trước khi thừa kế được mở vì lúc đó di chúc chưa có
hiệu lực, cũng không áp dụng cho các tài sản dùng vào việc thờ cúng đồng thời là vật bảo
đảm nghĩa vụ dân sự trước ngày mở thừa kế. Di sản dùng vào việc thờ cúng không thể bị kê
biên theo yêu cầu của các chủ nợ của người thừa kế hoặc người quản lý tài sản đó vì nó
không phải là tài sản thuộc sở hữu của họ.
2.3 Quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng
Theo đó, việc chỉ định người quản lý di sản thờ cúng tại khoản 1 Điều 645 Bộ luật Dân sự
2015 quy định như sau: “Nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không
theo thỏa thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di
sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng. Trường hợp người để lại
di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người thừa kế cử người quản
lý di sản thờ cúng”. Như vậy, có hai trường hợp đặt ra với vấn đề chỉ định thừa kế hoặc do
người lập di chúc chỉ định trong di chúc nhưng không thực hiện đúng di chúc hoặc không
theo thỏa thuận của những người thừa kế; hoặc do người lập di chúc không chỉ định người
quản lý phần di sản dung vào việc thờ cúng. Người thừa kế, theo luật quy định có quyền chỉ
định người quản lý phần di sản đó, tuy nhiên không chỉ rõ các điều kiện thỏa mãn để có thể
thực hiện quyền đó.
Người quản lý di sản thờ cúng có hai nghĩa vụ: nghĩa vụ thực hiện việc thờ cúng và nghĩa vụ
quản trị tài sản thừa kế. Về nghĩa vụ thực hiện việc thờ cúng người quản lý di sản thờ cúng
phải thực hiện các việc lễ giỗ đầy đủ, đúng quy định và thời gian. Trong trường hợp di chúc
hoặc thỏa thuận của người thừa kế còn quy định những hình thức thờ cúng nào khác thì
phải thực hiện đầy đủ. Người quản lý phải chịu tất cả các chi phí tổ chức lễ giỗ. Về nghĩa
vụ quản trị tài sản thừa kế, người quản lý di sản thờ cúng tuy không có quyền sở hữu đối
với các di sản dùng cho việc thờ cúng, nhưng họ vẫn có quyền quản trị nó như tài sản của
mình: giữ gìn, chăm sóc, sửa chữa,... Người quản lý tham gia vào các thủ tục như hành
chính, tư pháp để đảm bảo tính toàn vẹn cho những tài sản có liên quan. Người quản lý phải
tự mình quản trị những tài sản đó mà không được đúng đẩy cho người khác. Trong trường
hợp bất khả kháng không thể trực tiếp quản lý được những tài sản này thì vợ, con hoặc một
người thân sẽ tạm thời thay thế với tư cách là người được ủy quyền.
2.4 Chấm dứt việc dùng một phần di sản vào việc thờ cúng
Các trường hợp chấm dứt việc dùng một phần di sản vào việc thờ cúng theo khoản 1 Điều
645 Bộ luật Dân sự 2015: “Trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã
chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó
trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật”. Đây là trường hợp dự liệu duy
nhất của pháp luật về việc chấm dứt tính chất của di sản thờ cúng. Lúc này, người đang
1862
thừa hưởng di sản thờ cúng một cách hợp pháp được hưởng một quy chế đặc biệt và trở
thành chủ sở hữu của di sản thờ cúng, đồng thời di sản thừa cúng đó trở lại thành một di
sản bình thường.
3 MỘT SỐ BẤT CẬP
3.1 Một số bất cập của quy định pháp luật về di sản dùng vào việc thờ cúng
Thứ nhất, người được giao quản lý di sản thờ cúng nhưng họ không thực hiện hoặc thực
hiện không đầy đủ nghĩa vụ này, hoặc làm biến dạng các di sản dùng vào việc thờ cúng, làm
mất tính tôn nghiêm nơi thờ cúng.
Bộ luật Dân sự không quy định một cách rõ ràng, cụ thể về quyền và nghĩa vụ của người
quản lý di sản thờ cúng. Vì vậy không có căn cứ nào để xác nhận người quản lý có vi phạm
nghĩa vụ thờ cúng hay không. Quyền lợi khi họ thực hiện nghĩa vụ thờ cúng chưa xác định.
Hiện nay, để xác định một người có thờ cúng hay không chỉ có thể đối chiếu việc người đó
đã thực hiện đúng với di chúc hoặc với những thoả thuận của người thừa kế. Đặt trường
hợp người lập di chúc không xác định cụ thể về quyền và nghĩa vụ và những người thừa
kế cũng không thoả thuận về vấn đề này thì dựa vào tiêu chí nào để xác định họ đã vi
phạm nghĩa vụ thờ cúng.
Trong trường hợp có những di sản đã được gia tộc, dòng họ dùng vào việc thờ cúng qua
nhiều đời (mặc định truyền lại cho con trai, cháu trai đích tôn) để thực hiện nghĩa vụ thờ
cúng, chăm lo. Dẫn đến việc phần di sản đó không được đưa vào di chúc. Vậy khi xảy ra
mâu thuẫn trong họ tộc thì sẽ xử lý như thế nào. Quyền sở hữu đối với di sản thờ cúng tại
Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định như sau:“Trường hợp người lập di chúc có thể
để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế
và được giao cho người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng;
nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của
những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ
cúng cho người khác quản lý để thờ cúng”.
Ví dụ: mảnh đất nhà thờ của dòng họ do gia đình trưởng tộc quản lý, ông nội quản lý sau đó
truyền lại cho cha và cha truyền lại cho con trai cả. Tuy nhiên, con trai cả lại không sinh
được con trai thì lúc này trong gia tộc, dòng họ xảy ra mẫu thuẫn rằng yêu cầu chuyển
quyền quản lý di sản thờ cúng ấy cho cháu trai khác trong họ. Cần có sự đồng thuận của
người con trai cả ấy nhưng nếu người đó không đồng ý sẽ giải quyết như nào để thuận cả
lý lẫn tình theo pháp luật. Hoặc con cái của người cha thuộc hàng thừa kế thứ nhất đều
muốn thừa kế phần đất ấy lúc này, pháp luật sẽ giải quyết ra sao.
Thứ hai: trường hợp có nhiều người tham gia quản lý, có người trong diện thừa kế, có
ngườikhông trong diện thừa kế, chia nhau quản lý di sản thừa kế mỗi người một khoảng thời
gian. Bộ luật Dân sự 2015 chưa ghi nhận về vấn đề này nên dẫn đến nhiều tranh chấp phát
sinh trong thực tế.
Ví dụ: người thừa kế theo di chúc cuối cùng chết, ở thời điểm này ông A đang là người quản
lý hợp pháp di sản (ông A là người trong diện thừa kế), sau đó, di sản lại chuyển cho ông B
quản lý, Ông B quản lý được một thời gian ngắn sau đó xảy ra tranh chấp, lúc này thời hiệu
khởi kiện chia thừa kế đã hết.Câu hỏi đặt ra lúc này là di sản sẽ thuộc về ai [5].
1863
Thứ ba, quyền định đoạt di sản thờ cúng. Bộ luật Dân sự 2015 chỉ quy định về nghĩa vụ quản
lý đối với di sản của người thừa kế mà không đề cập đến các quyền định đoạt khác cho vay,
tặng hay thế chấp, chuyển nhượng. Mặc dù biết di sản dùng vào việc thờ cúng là nhằm giữ
gìn, bảo tồn giá trị văn hoá cũng như tôn trọng, bảo vệ ý chí của người để lại di sản. Tuy
nhiên, việc hạn chế hoàn toàn quyền định đoạt di sản thờ cúng là không phù hợp. Điều này
có ý nghĩa là khi một người được thừa kế di sản thờ cúng (ví dụ là đất hương hỏa) và sau
khi được đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất
đai thì người đó sẽ trở thành người có quyền sử dụng đất (có thể chuyển quyền cho
người khác). Di sản sẽ được quản lý trong suốt thế hệ người quản lý đó nhưng khi người đó
chết và di sản thờ cúng ấy sẽ được định đoạt như thế nào khi người quản lý đó không phải
chủ sở hữu của di sản và không được đưa di sản vào di chúc của người quản lý. Và trong
những trường hợp mà di sản thờ cúng gây ra thiệt hại thì ai sẽ là người chịu trách nhiệm khi
chỉ có người quản lý di sản mà không có người sở hữu.
Thứ tư, di sản thờ cúng có thời điểm kết thúc hay không. Nếu sử dụng qua nhiều đời sẽ
không còn được nguyên trạng nữa thì cơ chế nào cho phép người quản lý di sản thờ cúng
tôn tạo, xây dựng mới nhà thờ cũng như tất cả các đồ thờ cúng và vấn đề sở hữu di sản thờ
cúng sẽ xử lý ra sao.
Tóm lại, có thể nói rằng những bất cập này một phần do các quy định của pháp luật hiện
hành về di sản thờ cúng chưa được đầy đủ, thiếu tính cụ thể và khả năng áp dụng trực
tiếp trên thực tế, chưa có hướng dẫn hoặc tổng kết kinh nghiệm từ Tòa án Nhân dân tối cao
nên gây khó khăn cho nhân dân trong việc nhận thức pháp luật và cho cơ quan xét xử trong
việc đưa ra phán quyết. Thực tế này dẫn đến việc phát sinh nhiều tranh chấp liên quan
đến di sản thờ cúng và sự không thống nhất trong quá trình giải quyết của các Tòa án
hiện nay.
3.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về di sản dùng vào việc thờ cúng
Kiến nghị về phương hướng giải quyết các mâu thuẫn trong quá trình giải quyết di sản dùng
vào việc thờ cúng như sau:
Một là, nhà làm luật nên luật hoá cụ thể hơn về quyền và nghĩa vụ của người chịu trách
nhiệm quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng trong pháp luật Việt Nam nói chung và Bộ luật
Dân sự 2015 nói riêng.
Hai là, bổ sung lại quy định về quản lý di sản thờ cúng trong Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015
một cách rõ ràng, chuẩn xác hơn trong trường hợp có nhiều người tham gia quản lý (có
người trong diện thừa kế, có người không trong diện thừa kế) chia nhau quản lý di sản thừa
kế mỗi người một khoảng thời gian.
Ba là, quyền định đoạt di sản thờ cúng chưa được nhắc đến trong Bộ luật Dân sự 2015.
Thiết nghĩ đây cũng là quyền lợi cơ bản của người tham gia quản lý di sản thờ cúng từ đó
nhà làm luật nên bổ sung vào luật để đảm bảo quyền lợi của người quản lý di sản.
Bốn là, Nhà nước cần đưa ra quy định cụ thể về thời điểm kết thúc của di sản thời cúng,
cũng như cơ chế tôn tạo lại di sản thời cúng sẽ diễn ra như thế nào.
Tuy chưa có thống kê chính xác được đưa ra về số vụ tranh chấp dân sự liên quan đến di
sản thờ cúng nhưng ta có thể thấy những vụ việc liên quan đến di sản dùng vào việc thờ
cúng ngày càng đa dạng, phức tạp, khó giải quyết, đòi hỏi cơ quan tư pháp hết sức linh
1864
động, vận dụng khéo léo các quy định của pháp luật. Để áp dụng thống nhất và đúng với
tinh thần pháp luật về di sản dùng vào việc thờ cúng, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cần
phải hướng dẫn cụ thể. Có như vậy ý chí của người chết mới được thực hiện đúng và đảm
bảo được quyền lợi của những người thừa kế theo pháp luật Bên cạnh đó, các nhà làm luật
cũng nên xem xét đến việc sửa đổi, bổ sung về các quy định liên quan đến di sản dung vào
việc thờ cúng, tạo ra khung hành lang pháp lý tốt hơn cho người tham gia cũng như chủ thể
thực hiện lĩnh vực này.
4 KẾT LUẬN
Vấn đề về di sản dùng vào việc thờ cúng là một nội dung khá hấp dẫn được quan tâm từ
xưa đến nay, vì nó điều chỉnh vấn đề này dưới khía cạnh luật pháp vừa nhằm đảm bảo
nguyện vọng của người đã mất, vừa phải giữ được giá trị của di sản và tạo điều kiện cho
người quản lý và sở hữu di sản. Ngoài ra, việc tồn tại pháp luật về di sản dùng vào việc thừa
kế mang ý nghĩa thiêng liêng để giữ gìn nét đẹp văn hoá của dân tộc, thể hiện lòng tôn kính
đối với tổ tiên. Đồng thời di sản cũng được xác định là tài sản nên nó mang nhưng giá trị vật
chất nhất định đối với mỗi di sản. Chính vì vậy, bài báo này ngoài chỉ ra những điểm còn
thiếu sót, những bất cập thực tế về di sản dùng vào việc thờ cúng thường xảy ra thì còn đề
xuất một số định hướng nhằm nhằm để cân bằng giữa giá trị tinh thần và vật chất của con
người và nhằm hoàn thiện pháp luật về di sản nói riêng, pháp luật dân sự nói chung.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Quốc Triều Hình Luật (Luật Hình Triều Lê). NXB. Nhà Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà
Nội.
[2] Lệnh công bố pháp lệnh thừa kế.
[3] Bộ luật Dân sự 2005.
[4] Bộ luật Dân sự 2015.
[5] Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC). Luật sư Tưởng Duy
Lượng (2018).
[6] Pháp luật dân sự và thực tiễn xét xử, NXB. Nhà Chính trị Quốc gia Sự thật. Tr.399-400.
cung,620.html.
1865
Bạn đang xem tài liệu "Một số vấn đề về di sản dùng vào việc thờ cúng theo quy định bộ luật dân sự 2015", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
mot_so_van_de_ve_di_san_dung_vao_viec_tho_cung_theo_quy_dinh.pdf

