Chính sách pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay đối với các tội phạm về hối lộ

CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN NAY  
ĐỐI VỚI CÁC TỘI PHẠM VỀ HỐI LỘ1  
VŨ VIỆT TƯỜNG*  
Bài viết khái quát và phân tích những thay đổi trong chính sách pháp luật hình sự Việt Nam về  
các tội phạm về hối lộ, đồng thời chỉ ra đặc điểm pháp lý của loại tội phạm này. Từ đó, đề xuất một  
số giải pháp hoàn thiện các quy định trong Bộ luật hình sự (BLHS) hiện hành về tội phạm hối lộ để  
phù hợp với tình hình mới.  
Từ khóa: Tội phạm về hối lộ, chính sách hình sự, Bộ luật hình sự năm 2015.  
Ngày nhận bài: 06/4/2021; Biên tập xong: 13/4/2021; Duyệt đăng: 15/4/2021  
The article generalizes and analyzes Vietnamese criminal law policy on bribery crimes as  
well as points out its legal features Thereby, solutions to finalize the provisions of the 2015  
Penal Code on bribery crimes to be appropriate in the new situation are bought out.  
Keywords: Bribery crimes, criminal law policy, the 2015 Penal Code.  
1.  
hình sự Việt Nam đối với các tội phạm về chính sách pháp luật hình sự; chính sách pháp  
Khái niệm chính sách pháp luật yếu tố5: Chính sách phòng ngừa tội phạm;  
hối lộ  
1.1. Quan điểm về chính sách pháp luật  
hình sự  
Chính sách pháp luật là một phần của  
chính sách xã hội nói chung, là hoạt động của  
các chủ thể tương ứng trong lĩnh vực pháp  
luật2. Các quan điểm, mục tiêu, chiến lược,  
định hướng… là cơ sở của chính sách pháp  
luật. Vì vậy, chính sách pháp luật là hoạt động  
của các chủ thể nhằm xây dựng hệ thống quy  
phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã  
hội theo định hướng, tư tưởng của Đảng và  
các quan hệ phát sinh trong quá trình chấp  
hành, điều hành của Nhà nước3.  
luật tố tụng hình sự và chính sách pháp luật thi  
hành án hình sự. Trong đó, chính sách pháp  
luật hình sự (PLHS) là phương hướng có tính  
chất chỉ đạo trong hoạt động lập pháp và áp  
dụng pháp luật hình sự, đảm bảo sự ổn định  
của hệ thống pháp luật hình sự, tăng cường  
bảo vệ các quyền và tự do đã được ghi nhận  
trong các văn bản luật, cũng như các lợi ích  
hợp pháp của xã hội và của Nhà nước bằng  
pháp luật hình sự. Bên cạnh đó, chính sách  
PLHS còn góp phần nâng cao hiệu quả trong  
hoạt động đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.  
1.2. Quan điểm tội phạm về hối lộ trong  
pháp luật hình sự Việt Nam  
Pháp luật hình sự Việt Nam không có định  
nghĩa tội phạm về hối lộ mà có khái niệm tội  
phạm về chức vụ“là những hành vi xâm phạm  
hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức do người  
có chức vụ thực hiện trong khi thực hiện công vụ,  
nhiệm vụ”6. Cùng với đó, hành vi tham nhũng  
được định nghĩa là“hành vi của người có chức  
Chính sách hình sự là một phần của chính  
sách pháp luật, là những định hướng, chủ  
trương trong việc sử dụng pháp luật hình sự và  
lĩnh vực đấu tranh chống tội phạm và phòng  
ngừa tội phạm4. Chính sách hình sự gồm 04  
1ꢀ Bài viết này là một phần của Luận án tiến sĩ “Các  
tội phạm về hối lộ trong luật hình sự Việt Nam” do  
NCS. Vũ Việt Tường đang thực hiện tại Khoa Luật, * Thạc sĩ, Nghiên cứu sinh, Khoa Luật, Đại học Quốc  
Đại học Quốc gia Hà Nội.  
gia Hà Nội  
2ꢀ Võ Khánh Vinh, (1996), Tìm hiểu trách nhiệm hình 5ꢀ Một số nội dung chủ yếu của chính sách hình sự trong  
sự đối với các tội phạm về chức vụ, Nxb Chính trị giai đoạn hiện nay. Nguồn truy cập: hꢁp://tailieu.ꢁbd.  
quốc gia, tr.4.  
gov.vn:8080/index.php/tin-tuc/tin-tuc-ho-tro-boi-  
3ꢀ Chính sách pháp luật hình sự Việt Nam đối với các tội duong/item/489-ma-t-sa-na-i-dung-cha-ya-u-ca-a-  
phạm về chức vụ, Luận án tiến sĩ tại Học viện Khoa cha-nh-sa-ch-ha-nh-sa-trong-giai-doa-n-hia-n-nay,  
học xã hội, (2019).  
truy cập ngày 5/3/2021  
4ꢀ Đào Trí Úc (2000), Luật hình sự Việt Nam, Quyển 1 - 6ꢀ Xem: Khoản 1 Điều 352 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ  
Những vấn đề chung, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 17. sung năm 2017.  
18 Khoa học Kiểm sát  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
VŨ VIỆT TƯỜNG  
vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó hối lộ cho công chức, công chức9 nhận hối lộ  
vì vụ lợi”7. Người có chức vụ, quyền hạn là  
người do được bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp  
đồng khác hoặc do một hình thức khác, có  
hưởng lương hoặc không hưởng lương, được  
giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhất định  
và có quyền hạn nhất định trong khi thực  
hiện nhiệm vụ, công vụ đó8.  
Như vậy, hối lộ là việc dùng lợi ích vật  
chất hoặc các lợi ích khác tác động đến người  
có chức vụ, quyền hạn để người đó làm sai  
lệch hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức  
nhằm mang lại lợi ích cho mình.  
Từ các quy định trong BLHS năm 2015,  
sửa đổi, bổ sung năm 2017 (gọi tắt là BLHS  
năm 2015) về các tội nhận hối lộ, tội đưa hối  
lộ, tội môi giới hối lộ, có thể hiểu, tội phạm  
về hối lộ là những hành vi do người có năng  
lực trách nhiệm thực hiện một cách cố ý bằng  
những hình thức dùng lợi ích vật chất hay  
lợi ích khác tác động đến người có chức vụ,  
quyền hạn làm hay không làm một việc nhằm  
mang lại lợi ích cho mình hay cho chủ thể  
khác mà xâm phạm đến hoạt động đúng đắn  
của cơ quan, tổ chức.  
2. Khái quát quá trình xây dựng và hình  
thành chính sách pháp luật hình sự Việt  
Nam về tội phạm về hối lộ sau năm 1945 đến  
nay  
2.1. Từ năm 1945 đến Bộ luật hình sự năm  
1985  
Nhìn lại lịch sử ghi nhận, phát triển của  
BLHS Việt Nam sau năm 1945 có thể thấy  
chính sách PLHS đối với các tội phạm về hối  
lộ cũng đã có sự sửa đổi, bổ sung phù hợp  
với tình hình, có sự điều chỉnh theo phương  
hướng chỉ đạo của Đảng và Nhà nước trong  
cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm  
tham nhũng và tội phạm có chức vụ.  
Văn bản pháp luật hình sự đầu tiên của  
Việt Nam quy định về tội phạm chức vụ là  
Sắc lệnh số 223/SL ngày 17/11/1946 quy định  
hướng dẫn cho Tòa án trừng trị một số tội  
phạm liên quan đến tài sản. Sắc lệnh chưa mô  
thì bị phạt tù từ 05 năm đến 20 năm và phạt  
bạc gấp đôi tang vật hối lộ. Tiếp đó là Sắc  
lệnh số 267/SL ngày 15/6/1956 và Pháp lệnh  
năm 1970 về trừng trị các tội phạm xâm phạm  
tài sản xã hội chủ nghĩa và tài sản công dân  
nhưng không có quy định riêng tội phạm về  
hối lộ. Cho đến năm 1981, Ủy ban thường vụ  
Quốc hội ban hành Pháp lệnh trừng trị các tội  
hối lộ, khi đó, tội đưa hối lộ và môi giới hối lộ  
được quy định trong một điều luật độc lập.  
BLHS năm 1985 qua 04 lần sửa đổi, bổ  
sung vào các năm 1989, 1991, 1992, 1997 đã  
quy định các tội phạm về hối lộ theo hướng  
tăng nặng khung hình phạt để nghiêm trị  
tội này trên thực tế. Các tội phạm về chức  
vụ gồm 11 điều (từ Điều 219 đến Điều 229),  
trong đó có Tội nhận hối lộ (Điều 226), Tội  
đưa hối lộ và làm môi giới hối lộ (Điều 227).  
Như vậy, BLHS năm 1985 không phân biệt  
tội phạm nào là tội phạm về tham nhũng và  
tội phạm nào là tội phạm về chức vụ. Luật  
sửa đổi, bổ sung luật hình sự năm 1992 đã bổ  
sung quy định về hành vi “sử dụng công quỹ để  
đưa hối lộ” trong Điều 227 nhưng chính sách  
PLHS đối với loại tội phạm này có sự thay  
đổi vào năm 1993 khi Thông tư liên ngành  
số 02/TTLN ngày 20/3/1993 giữa BNV-BTP-  
TANDTC-VKSNDTC hướng dẫn áp dụng  
một số điều của BLHS quy định Tội nhận hối  
lộ (Điều 226) và Tội đưa hối lộ trong trường  
hợp người phạm tội sử dụng công quỹ để  
đưa hối lộ (điểm e khoản 2 Điều 227) được coi  
là các tội có tính chất tham nhũng. Đến năm  
1997, đã sửa đổi từ “sử dụng công quỹ” thành  
“dùng tài sản xã hội chủ nghĩa” để đưa hối lộ.  
Lý do của sự thay đổi này là có sự điều chỉnh  
trong Pháp lệnh chống tham nhũng năm 1998  
của Ủy ban thường vụ quốc hội khi quy định,  
hành vi tham nhũng đã liệt kê loại tài sản để  
tham ô và của hối lộ là tài sản xã hội chủ nghĩa  
(Điều 3).  
Như vậy, đến năm 1993, không phải mọi  
hành vi đưa hối lộ và môi giới hối lộ bị coi  
là hành vi có tính chất tham nhũng. Chính  
sách hình phạt đối với các tội danh trên đã có  
tả hành vi hối lộ nhưng có quy định rằng đưa sự thay đổi từ năm 1992. Hình phạt cao nhất  
7ꢀ Xem: Khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống tham 9ꢀ Công chức thời điểm này được hiểu bao gồm: Nhân  
nhũng năm 2018.  
viên trong Chính phủ, trong các Ủy ban hành chính  
8ꢀ Xem: Khoản 2 Điều 3 Luật Phòng, chống tham các cấp, các cơ quan do nhân dân bầu lên, trong bộ  
nhũng năm 2018.  
đội và tất cả những người phụ trách một công vụ.  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 19  
CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN NAY...  
dành cho tội nhận hối lộ là tử hình nhưng vụ). Ngoài ra, BLHS năm 2015 đã rút gọn tên  
lại không định lượng của nhận hối lộ bị áp từ tội làm môi giới hối lộ (Điều 290 BLHS  
dụng hình phạt này. Đến năm 1997, Luật sửa năm 1999) thành Tội môi giới hối lộ (Điều 356  
BLHS năm 2015).  
đổi, bổ sung một số điều của Luật hình sự đã  
đưa hình phạt tử hình áp dụng với tội làm  
môi giới hối lộ và định lượng của hối lộ bị  
áp dụng hình phạt tử hình tại 02 tội trên là từ  
50.000.000 đồng trở lên, có nhiều tình tiết tăng  
nặng và gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.  
Việc quy định hình phạt tử hình đối với các  
tội phạm về hối lộ nhằm mục tiêu răn đe đối  
với các cá nhân đã lợi dụng chức vụ, quyền  
hạn để làm lợi cho bản thân khi đất nước thực  
Từ quy định của hai BLHS trên cho thấy,  
pháp luật hình sự Việt Nam từ trước đến  
nay chỉ có nhận hối lộ là thụ động và bị coi  
là tham nhũng, các tội sau không được xếp  
vào tội tham nhũng. Điều này là do quan  
điểm về tham nhũng của Việt Nam. Vào thời  
điểm ban hành BLHS năm 1999, các nhà lập  
pháp Việt Nam căn cứ vào Pháp lệnh phòng,  
chống tham nhũng năm 1999 chỉ ra rằng,  
hiện chính sách đổi mới. Điều này cũng thể tham nhũng phải liên quan đến các hoạt động  
hiện tinh thần “kiên quyết đấu tranh với các tệ lợi dụng chức vụ vì động cơ vụ lợi của người  
nạn quan liêu, tham nhũng đang là những trở nắm giữ chức vụ và người có quyền hạn. Điều  
ngại lớn làm triệt tiêu các động lực phát triển, là 277 BLHS năm 1999 đã định nghĩa người có  
nguồn gốc của nhiều tệ nạn xã hội, làm xói mòn chức vụ “là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp  
lòng tin của nhân dân với Đảng và chế độ”10.  
2.2. Bộ luật hình sự năm 1999 đến Bộ luật  
hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017  
Chính sách pháp luật hình sự đối với các  
tội phạm về hối lộ trong BLHS năm 1999 đã có  
sự sửa đổi, bổ sung quan trọng: (1) Tách biệt  
tội đưa hối lộ với tội làm môi giới hối lộ; (2)  
Bãi bỏ hình phạt tử hình khỏi phạm vi hình  
phạt của các tội phạm về hối lộ; (3) Các điều  
khoản quy định tội phạm về hối lộ được quy  
định trong Chương XXI (các tội phạm về chức  
vụ) với 03 tội danh: Tội nhận hối lộ (Điều  
279), Tội đưa hối lộ (Điều 289), Tội làm môi  
giới hối lộ (Điều 290). Tuy nhiên, những tội  
danh này được quy định trong hai phần khác  
nhau của Chương XXI, mặc dù chúng đều là  
hoạt động liên quan đến hối lộ. Đối với tội  
nhận hối lộ được quy định tại Mục A (các tội  
phạm về tham nhũng), trong khi tội đưa hối  
lộ và môi giới hối lộ được quy định trong Mục  
B (các tội phạm khác về chức vụ).  
đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương  
hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một  
công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong  
khi thực hiện công vụ”. Do chỉ gắn liền với yếu  
tố “công vụ” nên các tội phạm tham nhũng  
tại Việt Nam có điểm đặc biệt bởi yếu tố chủ  
thể là người có chức vụ, quyền hạn. Bởi các  
tội đưa hối lộ, làm môi giới hối lộ có thể được  
thực hiện bởi bất cứ chủ thể nào nên không  
bị xếp vào nhóm tội phạm về tham nhũng.  
Nhưng các tội danh này vẫn được phân loại  
là “các tội phạm khác về chức vụ” vì lý do các  
tội phạm này gắn liền với hoạt động thực thi  
công vụ của những người có chức vụ và đều  
có ảnh hưởng đến sự công bằng, ổn định và  
hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước.  
Tội nhận hối lộ và tội đưa hối lộ theo BLHS  
năm 1999 đã tăng mức định lượng tối thiểu để  
truy cứu trách nhiệm hình sự từ 500.000 đồng  
lên 2.000.000 đồng, sửa đổi một số tình tiết là  
yếu tố định khung hình phạt. Riêng đối với  
Tội nhận hối lộ tại Điều 279 đã có sự thay đổi  
tình tiết “biết rõ của hối lộ là tài sản xã hội chủ  
nghĩa” bằng tình tiết “biết rõ của hối lộ là tài sản  
của nhà nước” đã làm cho bản chất của loại tội  
phạm này thay đổi đáng kể. Điều này đã loại  
trừ của hối lộ là tài sản của các tổ chức, doanh  
nghiệp…  
Cách sắp xếp này được giữ nguyên trong  
quy định tại BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung  
năm 2017 khi quy định các tội phạm về hối  
lộ trong Chương XXIII. Các tội phạm về chức  
vụ, trong đó: Tội nhận hối lộ (Điều 354) thuộc  
Mục 1 (Các tội phạm tham nhũng); Tội đưa  
hối lộ (Điều 364); Tội môi giới hối lộ (Điều  
365) thuộc Mục 2 (Các tội phạm khác về chức  
Năm 2013, Ban Chỉ đạo Trung ương về  
phòng, chống tham nhũng (Trưởng ban chỉ  
đạo là đồng chí Tổng Bí thư) được thành lập  
với quan điểm chỉ đạo của Đảng, của đồng  
chí Tổng Bí thư “không có vùng cấm, không  
10ꢀ Trích phát biểu Bế mạc Hội nghị lần thứ tư Ban  
chấp hành Trung ương Đảng Khóa VIII của Tổng Bí  
thư Lê Khả Phiêu.  
20 Khoa học Kiểm sát  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
VŨ VIỆT TƯỜNG  
có ngoại lệ, bất kể người đó là ai” tạo bước đột là những hoạt động trong khuôn khổ của Hiến  
phá trong công tác phòng, chống tham nhũng pháp, pháp luật, được quy định cụ thể trong  
và tạo ra sự thay đổi trong chính sách PLHS chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách  
đối với tội phạm về hối lộ trong BLHS năm nhiệm của từng cơ quan, tổ chức và của mỗi  
2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.  
cá nhân đảm nhiệm công vụ, chức vụ. Nếu có  
hành vi xâm phạm đến tính đúng đắn của cơ  
quan, tổ chức thì tùy mức độ nguy hiểm cho  
xã hội của hành vi mà bị xử lý bởi khung hình  
phạt khác nhau.  
Để phù hợp với nội dung trong dự luật  
Phòng, chống tham nhũng được ban hành  
sau đó 01 năm, quan niệm về người có chức  
vụ, quyền hạn đã có sự thay đổi đáng kể so  
với quy định tại Pháp lệnh phòng, chống  
Thứ hai, mặt khách quan của các tội phạm  
tham nhũng năm 1998, sau này là Luật phòng, về hối lộ. Dấu hiệu khách quan là yếu tố đặc  
chống tham nhũng năm 2005. Cụ thể, chủ biệt quan trọng để xác định hành vi phạm tội  
thể thực hiện hành vi của Tội nhận hối lộ tại nhận hối lộ và cũng là dấu hiệu để phân biệt  
Điều 354 BLHS năm 2015 đã mở rộng, không tội nhận hối lộ với tội đưa hối lộ, môi giới hối  
chỉ bao gồm những người có chức vụ, quyền lộ và các loại tội phạm về chức vụ khác. Mặt  
hạn thực hiện công vụ mà bao gồm cả những khách quan của các tội phạm về hối lộ có thể  
người có chức vụ, quyền hạn thực hiện nhiệm là hành vi hành động hoặc không hành động  
vụ trong các cơ quan, tổ chức ngoài nhà nước. nhằm xâm hại đến hoạt động bình thường  
Cụ thể: “Người có chức vụ, quyền hạn trong các của các cơ quan, tổ chức, gây thiệt hại cho lợi  
doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước mà nhận ích của Nhà nước, của xã hội, các quyền và  
hối lộ, thì bị xử lý theo quy định tại Điều này”11.  
Mặc dù các tội phạm về hối lộ nói riêng, tội  
phạm về chức vụ nói chung đã được bổ sung,  
hoàn thiện, nhưng về mặt lập pháp hình sự,  
BLHS mới chỉ mô tả dấu hiệu chung cho các  
tội phạm về chức vụ là lợi dụng chức vụ, quyền  
hạn để phạm tội, song về mặt thực tế, nội dung  
của pháp luật hình sự về các tội phạm về hối  
lộ đã được áp dụng linh hoạt trong thực tiễn  
điều tra, truy tố và xét xử. Với vai trò là công  
cụ hữu hiệu trong công tác đấu tranh phòng,  
chống tội phạm, BLHS đã xây dựng những  
quy định cụ thể làm cơ sở pháp lý cho việc  
xác định tội phạm về hối lộ.  
3. Đặc điểm pháp lý trong chính sách  
pháp luật hình sự của các tội phạm về hối lộ  
Nhằm đảm bảo không bỏ lọt tội phạm,  
không làm oan người vô tội, PLHS Việt Nam  
cũng đã xây dựng hệ thống lý luận về các yếu  
tố cấu thành của từng tội phạm về hối lộ để  
định tội một cách chính xách, trên cơ sở đó,  
các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng các  
điều luật của BLHS trong điều tra, truy tố, xét  
xử. Đặc điểm pháp lý của các tội phạm về hối  
lộ theo BLHS năm 2015 như sau:  
lợi ích hợp pháp của công dân. Thiệt hại có  
thể là gây ra hậu quả về vật chất hoặc phi vật  
chất. Riêng đối với tội môi giới hối lộ thì hậu  
quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu  
thành tội phạm.  
Hành vi khách quan của tội nhận hối lộ  
là: Người phạm tội nhận hối lộ phải là người  
có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn của  
mình trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc  
sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích khác (lợi ích  
vật chất hoặc phi vật chất) của người đưa hối  
lộ. Với những người có chức vụ, quyền hạn  
nhận quà biếu sau khi đã làm đúng nhiệm vụ  
của mình không được coi là nhận hối lộ vì quà  
biếu được coi như sự biết ơn, có trước có sau,  
là tấm lòng và phong tục của người Việt Nam.  
Hành vi khách quan của tội đưa hối lộ thể  
hiện hành vi đưa lợi ích một cách bất chính  
cho người có chức vụ, quyền hạn. Hành vi  
đưa của hối lộ có thể diễn ra trước hoặc sau  
khi người có chức vụ, quyền hạn làm theo  
yêu cầu của người đưa. Hành vi đưa của hối  
lộ có thể trực tiếp hoặc qua trung gian dưới  
bất cứ hình thức nào như quà tặng, thăm hỏi,  
hiếu hỉ… tại bất kì địa điểm nào. Hành vi đưa  
hối lộ chỉ cấu thành tội phạm khi của hối lộ  
là tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác có giá trị  
từ 2.000.000 đồng trở lên. Đối với trường hợp  
đưa lợi ích phi vật chất, việc xác định giá trị  
lợi ích phi vật chất không có tính bắt buộc.  
Hành vi khách quan của tội môi giới hối lộ  
Thứ nhất, khách thể của các tội phạm về hối lộ  
là các quan hệ xã hội đảm bảo sự hoạt động đúng  
đắn và uy tín của cơ quan, tổ chức.  
Hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức  
11ꢀ Xem: Khoản 6 Điều 354 BLHS năm 2015.  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 21  
CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN NAY...  
thể hiện ở hành vi làm trung gian giữa người nhiệm vụ tại các cơ quan trong và ngoài nhà  
nhận hối lộ và người đưa hối lộ. Hành vi môi nước. Đồng thời, người có chức vụ, quyền  
giới hối lộ chỉ cấu thành tội phạm nếu người  
môi giới nhận thức được hành vi của mình  
là để người đưa và người nhận trao đổi, thỏa  
thuận về việc đưa nhận hối lộ. Nếu người làm  
trung gian hoàn toàn không nhận thức được  
hoặc biết được hai bên đã bàn bạc thỏa thuận  
về việc đưa, nhận hối lộ thì không phải chịu  
trách nhiệm. Cần xác định hành vi môi giới  
hối lộ với hành vi lợi dụng chức vụ, quyền  
hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi  
(Điều 358); hành vi lợi dụng ảnh hưởng đối  
với người có chức vụ, quyền hạn để trục lợi  
(Điều 366) hoặc hành vi lừa đảo chiếm đoạt  
tài sản (Điều 174).  
Thứ ba, chủ thể của tội phạm. Với các tội  
phạm về hối lộ không có chủ thể đặc biệt mà  
bao gồm cả người có chức vụ, quyền hạn và  
người làm trong các doanh nghiệp, tổ chức  
ngoài Nhà nước khi đạt độ tuổi nhất định  
và có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.  
Riêng đối với chủ thể nhận hối lộ là người có  
chức vụ, quyền hạn thì chức vụ, quyền hạn  
ấy phải liên quan trực tiếp đến việc giải quyết  
công việc của người đưa hối lộ. Trường hợp  
người có chức vụ nhưng chức vụ, quyền hạn  
của họ không liên quan đến việc giải quyết  
công việc theo yêu cầu của người đưa hối  
lộ thì không coi là tội nhận hối lộ mà phạm  
vào tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh  
hưởng đối với người khác để trục lợi, quy  
định tại Điều 358 BLHS năm 2015.  
hạn ở khu vực ngoài nhà nước có thể trở  
thành đối tượng tác động của các Tội đưa hối  
lộ (Điều 364), Tội môi giới hối lộ (Điều 365).  
Đặc biệt, khoản 6 Điều 364 đã bổ sung hành vi  
hối lộ công chức nước ngoài để mở rộng đối  
tượng tác động của tội đưa hối lộ bao gồm cả  
hoạt động thực hiện công vụ của công chức  
nước ngoài, tổ chức quốc tế tại Việt Nam. (2)  
Mở rộng của hối lộ bao gồm cả các lợi ích phi vật  
chất. Bất kỳ lợi ích nào được đưa, nhận một  
cách bất chính nhằm thay đổi hoạt động đúng  
đắn của cơ quan, tổ chức đều bị xem là “của  
hối lộ”. Các của hối lộ phi vật chất như tặng  
thưởng, nâng điểm thi, hứa hẹn, cho đi học,  
hối lộ tình dục12… (3) Bên thứ ba được hưởng  
lợi. Việc mở rộng tội đưa hối lộ khi quy định  
chủ thể được thụ hưởng của hối lộ là chính  
bản thân người có chức vụ, quyền hạn hoặc  
cho người khác hoặc tổ chức khác tại Điều 364  
đã tạo cơ sở pháp lý đầy đủ và trực tiếp cho  
việc xử lý hành vi đưa hối lộ.  
Ngoài ra, chính sách PLHS đối với tội  
phạm về hối lộ tại BLHS năm 2015 có quy định  
nhằm xử lý nghiêm đối với người lợi dụng  
hoặc lạm dụng chức vụ, quyền hạn, nhiệm vụ  
để phạm tội nhưng cũng có chính sách khoan  
hồng, tạo điều kiện cho người phạm tội được  
lập công chuộc tội. Cụ thể:  
(1) Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.  
Quy định tại khoản 3, 4 Điều 354 BLHS năm  
2015 không áp dụng thời hiệu truy cứu trách  
nhiệm hình sự đối với tội nhận hối lộ. Điều  
này thể hiện tội nhận hối lộ cần phải trừng trị  
nghiêm khắc như đối với các tội xâm phạm an  
ninh quốc gia.  
Thứ tư, mặt chủ quan của tội phạm. Mặt chủ  
quan của tội phạm về hối lộ được thực hiện  
do lỗi cố ý trực tiếp, tức là người phạm tội  
thấy trước hành vi của mình là nguy hiểm  
cho xã hội và mong muốn cho hậu quả xảy ra.  
Mục đích nhận hối lộ của người phạm tội là  
dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm  
của tội nhận hối lộ.  
(2) Hình phạt. Tội nhận hối lộ chỉ có hình  
phạt chính là phạt tù. Hình phạt tiền, phạt cải  
tạo không giam giữ là hình phạt chính bên  
cạnh hình phạt tù đối với tội đưa hối lộ và  
tội môi giới hối lộ. Mặc dù hình phạt cao nhất  
của tội nhận hối lộ là tử hình nhưng BLHS đã  
quy định rằng người bị kết án tử hình về tội  
nhận hối lộ mà sau khi bị kết án, chủ động  
4. Thực tiễn áp dụng chính sách pháp  
luật hình sự đối với tội phạm về hối lộ trong  
hoạt động xét xử vụ án hình sự ở Việt Nam  
BLHS hiện hành quy định nhóm tội về hối  
lộ đã có sự sửa đổi, bổ sung nhằm phù hợp  
với Công ước của Liên hợp quốc về chống  
tham nhũng năm 2003 (UNCAC) như: (1) Mở  
rộng chủ thể của tội phạm và chủ thể bị tác động  
của tội phạm. Chủ thể của tội nhận hối lộ bao  
12ꢀ Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (2020),  
Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30/12/2020  
hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình  
sự trong xét xử tội phạm tham nhũng và tội phạm khác  
gồm cả chủ thể có chức vụ, quyền hạn và có về chức vụ.  
22 Khoa học Kiểm sát  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
VŨ VIỆT TƯỜNG  
nộp lại ít nhất ¾ tài sản nhận hối lộ và hợp bị cáo, năm 2016 có 10 vụ/22 bị cáo17. Riêng  
tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc Tội làm môi giới hối lộ theo Điều 290 BLHS  
năm 1999 chiếm con số khiêm tốn trong vòng  
10 năm với 21 vụ/56 bị can. Năm 2007 không  
có trường hợp nào bị đưa ra xét xử về tội này,  
số vụ án hằng năm bị khởi tố không quá 5 vụ/  
năm. Riêng năm 2015 có 02 vụ nhưng có 14 bị  
cáo bởi có nhiều đồng phạm trong vụ án này.  
Thực tiễn áp dụng chính sách PLHS trong  
đấu tranh phòng, chống các tội phạm về hối  
lộ cho thấy, mặc dù có sự chuyển biến và đạt  
kết quả nhưng sự bất cập trong quy định về  
cấu thành cuả một số tội phạm có liên quan  
đến tội nhận hối lộ và đưa hối lộ vì chưa  
phản ánh đúng tình hình và phương thức,  
thủ đoạn hoạt động của tội phạm. BLHS được  
ban hành mới vào năm 2015 nhưng lại được  
sửa đổi, bổ sung năm 2017 và thời hạn có hiệu  
lực vào ngày 01/01/2018 nên chưa có thống kê  
đầy đủ sau 05 năm áp dụng BLHS liên quan  
đến thực hiện chính sách pháp luật hình sự  
đối với tội phạm về hối lộ trong hoạt động xét  
xử. Tuy nhiên, từ thông tin về tình hình khởi  
tố vụ án và xét xử thì sau khi có sự điều chỉnh  
tội phạm về hối lộ trong BLHS năm 2015 cho  
thấy, đã có nhiều chủ thể trong khu vực tư bị  
khởi tố, xét xử và mở rộng chủ thể bị xét xử  
bởi tội nhận hối lộ bao gồm cả các chủ thể có  
nhiệm vụ.  
phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập  
công lớn thì sẽ không thi hành án tử hình13.  
Như vậy, việc xem xét không bị tử hình chỉ  
áp dụng sau khi có bản án của Tòa án xét xử.  
Trước khi có bản án, các bị can dù có nộp đủ  
số tiền nhận hối lộ để khắc phục hậu quả vẫn  
chỉ được xem là tình tiết giảm nhẹ14.  
(3) Miễn trách nhiệm hình sự. Người phạm  
tội đưa hối lộ và môi giới hối lộ được miễn  
trách nhiệm hình sự khi: (i) Chủ động khai  
báo và; (ii) Người phạm tội đã khai báo trước  
khi hành vi phạm tội bị phát giác.  
Trong 10 năm, từ năm 2006 đến 2016, số vụ  
án bị xét xử về Tội nhận hối lộ theo Điều 279  
BLHS năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 là  
282 vụ/721 bị cáo. Số vụ án có xu hướng giảm  
hơn khi năm 2016, chỉ có 13 vụ/45 bị cáo.15  
Con số này chưa phản ánh được thực trạng  
về xử lý tội phạm về hối lộ của người có chức  
vụ, quyền hạn tại Việt Nam bởi năm 2017,  
Việt Nam đứng thứ 113/176 quốc gia trong  
Bảng xếp hạng Chỉ số cảm nhận Tham nhũng  
(CPI)16. Trong khi đó, nhìn vào số liệu báo cáo  
thì loại tội phạm về hối lộ tại Việt Nam lại có  
xu hướng giảm và mang tính chất ổn định  
trong vòng 10 năm.  
Việc số vụ án bị xét xử ít còn là nguyên  
nhân từ quy định của luật đã giới hạn lại đối  
tượng bị khởi tố về tội nhận hối lộ theo quy  
định tại Điều 279 BLHS năm 1999 chỉ là người  
có chức vụ trong cơ quan nhà nước, không bao  
gồm người có nhiệm vụ tại các tổ chức, doanh  
nghiệp. Tội đưa hối lộ theo Điều 289 BLHS  
năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 cũng  
có xu hướng giảm trong 10 năm từ 2006 đến  
2016. Tổng số vụ án trong 10 năm là 272/490  
vụ, trong đó, thấp nhất là năm 2015 có 9 vụ/13  
5. Một số kiến nghị, đề xuất  
Từ thực trạng quy định pháp luật và từ  
thực tiễn áp dụng chính sách PLHS Việt Nam  
về tội phạm hối lộ, bài viết đề xuất một số kiến  
nghị nhằm làm rõ hơn tại một số quy định về  
tội phạm hối lộ và tạo ra sự tương thích giữa  
pháp luật Việt Nam và UNCAC. Cụ thể:  
Thứ nhất, chuyển tội đưa hối lộ từ phần các tội  
phạm khác về chức vụ lên phần tội phạm về tham  
nhũng. Bởi theo UNCAC, hành vi đưa hối lộ  
và nhận hối lộ đều là tội phạm tham nhũng.  
Hai loại tội này có mối liên hệ với nhau trong  
quá trình thực hiện hành vi phạm tội như  
trường hợp khi cơ quan tố tụng xác định được  
chủ thể đã đưa của hối lộ thì sẽ xác định được  
13ꢀ Xem: Khoản 3 Điều 40 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ  
sung năm 2017  
14ꢀ Xem: Điều 51 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung  
năm 2017.  
15ꢀ Vụ Thống kê – Tổng hợp, Tòa án nhân dân tối cao chủ thể nhận hối lộ.  
(2017), Thống kê số vụ án, số bị cáo bị xét xử về từng tội  
trong nhóm tội phạm có chức vụ tại Việt Nam.  
Thứ hai, xem xét về việc bỏ tội môi giới hối lộ.  
Từ thực tiễn xét xử loại tội phạm này trong 10  
năm qua cũng như khi nghiên cứu pháp luật  
16ꢀTrangTowardsTransparency,Chỉsốcảmnhậnvềtham  
nhũng2016:ViệtNamtăngnhẹvềđiểmsố.Nguồntruycập:  
hꢁps://towardstransparency.vn/chi-cam-nhan-tham- 17ꢀ Vụ Thống kê – Tổng hợp, Tòa án nhân dân tối  
nhung-2016-viet-nam-tang-nhe-ve-diem/  
cao (2017).  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 23  
CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN NAY...  
một số quốc gia cho thấy, rất ít các quốc gia hối lộ, hành vi này vì lợi ích của pháp nhân,  
quy định hành vi môi giới hối lộ thành tội độc  
lập. Chỉ nên coi người môi giới là người giúp  
sức, đồng phạm trong vụ đưa hối lộ hoặc  
nhận hối lộ.  
và cá nhân thực hiện hành vi là có sự chỉ đạo  
từ pháp nhân thì pháp nhân phải chịu trách  
nhiệm hình sự là thỏa đáng18. Do đó, hình  
phạt dành cho pháp nhân là phạt tiền (chủ  
yếu) và đình chỉ hoạt động (biện pháp cuối  
cùng) là thỏa đáng đối với các pháp nhân  
này. Mặc dù Việt Nam đã tuyên bố bảo lưu  
không truy cứu trách nhiệm hình sự của  
pháp nhân khi tham gia UNCAC và tuyên bố  
không bị ràng buộc về quy định trách nhiệm  
hình sự của pháp nhân trong Công ước của  
Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức  
xuyên quốc gia (Công ước TOC) nhưng Điều  
10 của Công ước quy định các quốc gia thành  
viên phải ban hành những biện pháp phù  
hợp với nguyên tắc pháp lý của nước mình  
để xác định trách nhiệm pháp lý của pháp  
nhân trong việc thực hiện những hành vi  
phạm tội như tham nhũng. Vì vậy, để phục  
vụ cho công cuộc đấu tranh hiệu quả đối với  
tội phạm về hối lộ, Việt Nam cần quy định  
trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với  
tội nhận hối lộ và tội đưa hối lộ. Đây cũng là  
chính sách PLHS đối với tội phạm về hối lộ  
mà Singapore, Trung Quốc đã quy định.  
Tóm lại, chính sách hình sự đối với các tội  
phạm về chức vụ nói chung và tội phạm về  
hối lộ nói riêng đang là vấn đề có khả năng đe  
dọa đến sự ổn định an ninh chính trị và sự tồn  
vong của chế độ. Tuy chính sách PLHS đối với  
các tội phạm về hối lộ trong BLHS hiện hành  
đã có những bước tiến hơn so với chính sách  
PLHS trước đây nhưng tham nhũng đang là  
quốc nạn của nhiều quốc gia, là nạn nội xâm  
nguy hiểm, làm xói mòn niềm tin của người  
dân vào chính quyền. Vì vậy, cần phải vừa  
hoàn thiện chính sách PLHS và vừa nâng  
cao hiệu quả áp dụng chính sách PLHS vào  
các hoạt động tố tụng hình sự đối với các tội  
Thứ ba, xem xét hình phạt và trách nhiệm hình  
sự. Pháp luật cần có hướng dẫn cụ thể về hình  
phạt đối với tội hối lộ trong khu vực tư bởi  
tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi hối lộ  
trong khu vực công khác với hối lộ trong khu  
vực tư khi xét trong hoàn cảnh kinh tế - xã hội  
hiện nay tại Việt Nam. Riêng đối với hành vi  
quy định tại khoản 7 Điều 364 về Tội đưa hối  
lộ, việc người đưa hối lộ chủ động khai báo  
trước khi bị phát giác “có thể được miễn trách  
nhiệm hình sự” sẽ dễ tạo ra sự không thống  
nhất trong việc áp dụng chính sách PLHS do  
phải tùy thuộc vào sự nhân định chủ quan  
của các cơ quan tiến hành tố tụng. Để đảm  
bảo sự thống nhất và đề cao tính nhân đạo  
trong chính sách PLHS đối với tội phạm này,  
BLHS nên bỏ cụm từ “có thể” để khuyến  
khích người phạm tội tự thú, góp phần trong  
công tác đấu tranh, phòng, chống hiệu quả  
đối với loại tội này.  
Thứ tư, bổ sung trách nhiệm hình sự của  
pháp nhân tối với tội đưa hối lộ và nhận hối lộ.  
Từ thực tiễn công tác quản lý nhà nước và  
phát triển kinh tế cho thấy, muốn có lợi thế  
trong sản xuất, kinh doanh, đấu thầu, các  
pháp nhân không thể không đưa hối lộ cho  
người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ  
quan, tổ chức… để nhận được “hỗ trợ chính  
sách”, “hỗ trợ cơ chế” nhằm có những lợi  
thế, ưu đãi riêng thông qua các Hợp đồng  
hay thỏa thuận đầu tư… Ngoài ra, các biện  
pháp hành chính, các chế tài dân sự không  
phát huy hiệu quả và không khắc phục được  
hậu quả thiệt hại do hành vi hối lộ của pháp  
nhân, đặc biệt là trong các vụ có dấu hiệu  
của vi phạm pháp luật cạnh tranh. Mặc dù  
cá nhân thực hiện hành vi phạm tội cũng bị  
khởi tố nhưng pháp nhân cũng là chủ thể phạm về hối lộ trong thời gian tới. Việc hình  
được hưởng lợi từ hành vi đưa hối lộ này.  
Vì vậy, việc chỉ truy cứu trách nhiệm hình  
sự của cá nhân trong trường hợp này là thiếu  
thuyết phục. Thêm vào đó, cá nhân nhân  
sự hóa các hành vi vi phạm cần có tính đồng  
bộ với Luật phòng chống tham nhũng và các  
cam kết trong UNCAC./.  
danh pháp nhân để thực hiện hành vi đưa 18ꢀ Điều 75 BLHS năm 2015  
24 Khoa học Kiểm sát  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
pdf 7 trang Thùy Anh 14820 Free
Bạn đang xem tài liệu "Chính sách pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay đối với các tội phạm về hối lộ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfchinh_sach_phap_luat_hinh_su_viet_nam_hien_nay_doi_voi_cac_t.pdf