Bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi (người chưa thành niên) phạm tội trong các quy định về hình phạt và biện pháp phi hình phạt dưới góc độ so sánh luật

BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI (NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN)...  
PHẠM TỘI TRONG CÁC QUY ĐỊNH VỀ HÌNH PHẠT VÀ BIỆN PHÁP  
PHI HÌNH PHẠT DƯỚI GÓC ĐỘ SO SÁNH LUẬT  
ĐỖ THỊ ÁNH HỒNG*  
Hiện nay, ở các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, vấn đề bảo vệ quyền  
của người chưa thành niên (NCTN) phạm tội đang ngày càng được chú trọng nhằm bảo đảm các em  
được đối xử một cách công bằng, được tạo cơ hội và hướng dẫn để chịu trách nhiệm đối với hành vi  
của mình, tránh mắc phải những sai phạm tương tự trong tương lai. Bài viết nghiên cứu về vấn đề  
bảo đảm quyền của NCTN phạm tội theo pháp luật quốc tế, pháp luật hình sự một số nước trên thế  
giới dưới góc độ so sánh; qua đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam về vấn đề này.  
Từ khóa: Hình phạt, phi hình phạt, người chưa thành niên, luật tố tụng hình sự.  
Ngày nhận bài: 10/8/2020; Biên tập xong: 25/8/2020; Duyệt đăng: 02/10/2020.  
Currently, the protection of rights of juvenile delinquency is increasingly focused to ensure  
that they are fairly treated, given opportunities and instructions to take responsibility for their  
actions, to avoid making similar mistakes. The article sheds light on ensuring rights of juvenile  
delinquency under international laws, some nations’ criminal law in terms of law comparison;  
thereby experience for Vietnam are shown.  
Keywords: Punishments, non-punishments, juvenile, criminal procedure law.  
1. Khái niệm người chưa thành niên  
và bảo đảm quyền của người chưa thành  
niên phạm tội  
tuổi, thanh niên (Youth) là người từ 15 đến  
24 tuổi, người trẻ tuổi (Young persons) bao  
gồm trẻ em, NCTN và thanh niên1.  
1.1. Khái niệm người chưa thành niên  
Ở Việt Nam, Hiến pháp năm 2013, Bộ  
luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung  
năm 2017 (BLHS năm 2015), Bộ luật tố tụng  
hình sự (BLTTHS) năm 2015, Bộ luật dân sự  
năm 2015; Bộ luật lao động năm 2012, Luật  
Trẻ em năm 2016, Luật xử lý vi phạm pháp  
luật năm 2012 và một số văn bản pháp luật  
khác có liên quan đã xác định thống nhất  
tuổi của NCTN là dưới 18 tuổi và quy định  
riêng những chế định pháp luật đối với  
NCTN trong từng lĩnh vực pháp luật cụ  
thể. Bên cạnh đó, khái niệm NCTN khác  
Công ước quốc tế về quyền trẻ em  
được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông  
qua ngày 20/11/1989, tại Điều 1 quy định:  
“Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có  
nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp  
luật pháp áp dụng đối với trẻ em có quy  
định tuổi thành niên sớm hơn”. Bên cạnh  
đó, các điều ước quốc tế khác như Quy  
tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc  
về áp dụng pháp luật với NCTN (United  
Nations Standard Minimum Rules for the  
Administration of Juvenile Justice /Beijing  
Rules) ngày 29/11/1985; Hướng dẫn của  
Liên Hợp quốc về phòng ngừa phạm pháp  
ở NCTN (United Nations Guidelines for  
the Prevention of Juvenile delinquency/  
Riyadh Guidelines) ngày 14/12/1990 cũng  
có quy định về NCTN. Theo quan niệm  
quốc tế thì trẻ em (Child) là người dưới 18  
tuổi, NCTN (Juvenile) là người từ 15 đến 18  
* Thạc sĩ, Viện Luật So sánh, Trường Đại học Luật  
Hà Nội  
1ꢀ ThS. Đoàn Ngọc Hải, Quyền của người chưa  
thành niên phạm tội theo pháp luật quốc tế và pháp  
luật Việt Nam, Tạp chí Toà án nhân dân điện tử,  
hꢁps://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/quyen-  
cua-nguoi-chua-thanh-nien-pham-toi-theo-  
phap-luat-quoc-te-va-phap-luat-viet-nam, ngày  
truy cập 01/09/2020  
Số 05 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 61  
BẢOĐẢMQUYỀNCỦANGƯỜIDƯỚI18TUỔI(NGƯỜICHƯATHÀNHNIÊN)...  
với khái niệm trẻ em. Theo Điều 1 Luật Trẻ bảo đảm cho họ khỏi “sự xâm hại, sự vi phạm  
em năm 2016 thì “Trẻ em là người dưới 16 quyền từ các cơ quan, các chủ thể thực hiện việc  
tuổi” trong khi khoản 1 Điều 21 Bộ luật dân xem xét, xử lý hành vi phạm tội của người chưa  
sự năm 2015 quy định “Người chưa thành thành niên”4.  
niên là người chưa đủ 18 tuổi”.  
Trên cơ sở các văn bản pháp luật quốc tế  
Do vậy, trong quy định của pháp luật nêu trên, hệ thống tư pháp NCTN ở nhiều  
quốc gia trên thế giới đã được quan tâm  
nghiên cứu và ngày càng hoàn thiện. Việc  
bảo đảm quyền của NCTN phạm tội phải  
phù hợp với thông lệ quốc tế, đồng thời phù  
hợp với điều kiện kinh tế – xã hội và văn  
hóa hiện có của từng quốc gia. Sự phù hợp  
này thể hiện trên cả hai phương diện đó là  
xây dựng pháp luật và thực thi pháp luật5.  
Trong phạm vi bài viết, tác giả tập trung  
nghiên cứu, phân tích chuyên sâu về cơ chế  
bảo đảm quyền của NCTN phạm tội thông  
qua việc ban hành văn bản pháp luật chuyên  
biệt về tư pháp NCTN và thông qua nguyên  
tắc nhân đạo trong áp dụng hình phạt và xử  
lý chuyển hướng NCTN phạm tội ở một số  
quốc gia, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm  
cho Việt Nam.  
2. Bảo đảm quyền của người chưa thành  
niên phạm tội dưới góc độ so sánh luật  
2.1. Bảo đảm quyền của người chưa thành  
niên phạm tội bằng việc ban hành văn bản  
pháp luật chuyên biệt về tư pháp người chưa  
thành niên  
Trong pháp luật quốc tế, quyền của trẻ em  
nói chung và quyền của NCTN phạm tội nói  
riêng được quy định tại Công ước về quyền  
trẻ em (United Nations Convention on the  
rights of the child) được Liên hợp quốc thông  
qua ngày 20/11/1989 và có hiệu lực từ ngày  
02/9/1990 (đã được Việt Nam phê chuẩn vào  
năm 1990). Điều 40 của Công ước yêu cầu  
các quốc gia thành viên phải thúc đẩy việc  
thành lập một hệ thống tư pháp NCTN riêng  
và đặc biệt là ban hành các đạo luật quy định  
quốc tế và pháp luật Việt Nam có những  
điểm tương đồng rõ rệt về khái niệm NCTN,  
đó là: NCTN là người dưới 18 tuổi, chưa  
phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh  
thần, chưa có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ  
pháp lý như người đã thành niên.  
1.2. Khái niệm Bảo đảm quyền của người  
chưa thành niên phạm tội  
Trên phương diện ngôn ngữ học, theo  
Từ điển tiếng Việt - Nxb Đà Nẵng 2004 thì  
“quyền” được định nghĩa là “điều mà pháp  
luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng,  
được làm, được đòi hỏi”2. Trên phương diện  
pháp lý, “quyền của người chưa thành niên  
phạm tội” là tất cả những điều mà pháp luật  
hình sự, tố tụng hình sự quy định cho người  
chưa thành niên, được làm, được đòi hỏi khi  
tham gia tố tụng hình sự. Trên phương diện  
ngôn ngữ học, thuật ngữ “bảo đảm” được  
hiểu theo nghĩa là một động từ “làm cho chắc  
chắn thực hiện được, giữ gìn được hoặc có đầy đủ  
những gì cần thiết”3. Dựa vào định nghĩa các  
khái niệm “quyền” và “bảo đảm” trên phương  
diện ngôn ngữ học nói trên, có thể đưa ra  
khái niệm “Bảo đảm quyền của người chưa  
thành niên phạm tội là việc Nhà nước quy  
định trong văn bản pháp luật những khả  
năng mà người chưa thành niên được hưởng,  
được làm, được yêu cầu cơ quan nhà nước  
đối với mình, những người thân thích của  
họ khi họ tham gia quan hệ pháp luật nhằm  
đảm bảo việc tham gia vào các quan hệ pháp  
luật của người chưa thành niên được tự do,  
an toàn và đúng pháp luật. Vấn đề bảo đảm  
quyền của người chưa thành niên còn nhằm  
4 ꢀThS. Đoàn Ngọc Hải, tlđd.  
2 Từ điển Tiếng Việt, Viện ngôn ngữ hoc, Nxb Đà Nẵng, 5ꢀ Quy tắc chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về  
2004, tr. 815 .  
quản lý tư pháp người chưa thành niên (Quy tắc  
3 ꢀTừ điển Tiếng Việt, Viện ngôn ngữ hoc, Nxb Đà Nẵng, Bắc Kinh) do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông  
2004, tr.40.  
qua theo Nghị quyết ngày 29/10/1985  
62 Khoa học Kiểm sát  
Số 05 - 2020  
ĐỖ THỊ ÁNH HỒNG  
riêng cho NCTN vi phạm pháp luật hình sự. Australia đều có đạo luật về tư pháp NCTN  
Bên cạnh Công ước có tính ràng buộc, tập hoặc tư pháp thanh thiếu niên hoặc đạo luật  
về tội phạm NCTN.  
hợp các quy tắc, hướng dẫn đã được cộng  
đồng quốc tế thông qua cũng quy định chi  
tiết việc áp dụng pháp luật đối với NCTN,  
ví dụ như: (i) Quy tắc chuẩn tối thiểu của  
Liên hợp quốc về quản lý tư pháp NCTN  
(Quy tắc Bắc Kinh) do Đại hội đồng Liên  
hợp quốc thông qua theo Nghị quyết ngày  
29/10/1985; (ii) Quy tắc chuẩn tối thiểu của  
Liên hợp quốc về phòng ngừa vi phạm pháp  
luật của NCTN, được Đại hội đồng Liên  
hợp quốc thông qua theo Nghị quyết ngày  
14/12/1990 (hướng dẫn Riyadh); (iii) Quy  
tắc chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về các  
biện pháp không giam giữ (Quy tắc Tokyo)  
ngày 14/12/1990. Các văn bản này đều quy  
định các quốc gia thành viên phải xây dựng  
luật lệ chuyên biệt áp dụng cho NCTN phạm  
tội. Hơn thế nữa, những luật lệ, quy định đặc  
biệt này phải đảm bảo rằng NCTN được đối  
xử bằng lòng tôn trọng, phẩm giá và giá trị  
con người.  
Bên cạnh đó, ở châu Mỹ, Canada cũng  
ban hành Luật Tư pháp hình sự NCTN  
(NCTN) (Youth Criminal Justice Act - YCJA).  
Ngoài ra, Mỹ cũng có Bộ luật về tội phạm  
NCTN của Liên bang – Federal Juvenile  
Delinquency Code và nhiều bang của Mỹ  
cũng có các quy định riêng áp dụng đối với  
NCTN phạm tội, ví dụ như Các quy tắc về  
tố tụng hình sự NCTN của bang Minnesota,  
bang Massachuseꢁs, bang Missouri, bang  
Ohio, bang Georgia, bang Cincinnati, bang  
Connecticut…  
Ở Châu Âu, Anh và xứ Wales cũng có  
các đạo luật quy định về quyền tư pháp của  
NCTN như7: Đạo luật Bảo vệ trẻ em năm 1999  
(Protection of Children Act 1999); Đạo luật  
về Tư pháp và Tòa án năm 2000 (Criminal  
Justice and Court Services Act 2000)8.  
Ở Đông Nam Á, Singapore có Luật trẻ  
em và thiếu niên 1946 (sửa đổi năm 2001) và  
các quy định về NCTN phạm tội trong Bộ  
luật hình sự và Luật cải tạo người phạm tội  
(Probation of Offenders Act); Malaysia có  
Luật trẻ em 2001 (sửa đổi năm 2006) và các  
quy định về NCTN phạm tội trong Bộ luật  
hình sự…  
Ở Việt Nam, Luật trẻ em 2016, Chương  
XII BLHS năm 2015, Chương XXVIII  
BLTTHS năm 2015, từ Điều 50 đến Điều 53  
Luật thi hành án hình sự năm 2010 và Luật  
tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 đều có  
những quy định đặc thù về người dưới 18  
tuổi phạm tội.  
Nhằm nội luật hoá các quy định trong  
pháp luật quốc tế, rất nhiều quốc gia trên thế  
giới đã xây dựng khung pháp lý riêng, quy  
định về tư pháp đối với NCTN, ví dụ như:  
Ở châu Úc, Đạo luật về trẻ em, thanh  
thiếu niên và gia đình (Children, young  
persons and Their Families Act - CYF) được  
New Zealand thông qua vào năm 1989. Văn  
bản này hiện vẫn đang được coi là căn cứ  
và khuôn khổ hướng dẫn lập pháp cho việc  
xây dựng các chương trình can thiệp vào  
cuộc sống của NCTN và gia đình họ. Đạo  
luật về trẻ em, thanh thiếu niên và gia đình  
được thực hiện nhằm mục đích giảm thiểu  
số lượng NCTN bị xử lý tại các phiên xét xử  
chính thức cũng như giảm thiểu số lượng các  
em bị áp dụng hình phạt tù giam6. Tương tự,  
Australia cũng là một trong những quốc gia  
có hệ thống tư pháp hình sự NCTN rất được  
quan tâm và phát triển. Tất cả các bang ở  
Như vậy, có thể thấy, xu thế chung của rất  
nhiều quốc gia trên thế giới là tạo ra hệ thống  
tư pháp NCTN riêng biệt và chuyên biệt và  
đa số những quy định về NCTN phạm tội  
đã được tập hợp thống nhất trong Luật về  
7ꢀhttp://www.loc.gov/law/help/child-rights/  
uk.php, ngày truy cập 06/08/2020  
6ꢀ Maxwell,Kingi,Robertson,Morris&Cunningham, 8ꢀhttp://www.legislation.gov.uk/ukpga/1999/14/  
2004  
contents, ngày truy cập 06/08/2020  
Số 05 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 63  
BẢOĐẢMQUYỀNCỦANGƯỜIDƯỚI18TUỔI(NGƯỜICHƯATHÀNHNIÊN)...  
tư pháp NCTN (hoặc các văn bản có tên 69 BLHS năm 1999 quy định nguyên tắc: “Việc  
xử lý NCTN phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục,  
giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh  
và trở thành công dân có ích cho xã hội”. Điều 91  
BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)  
vẫn giữ đường lối xử lý thể hiện tính nhân  
văn này, đồng thời bổ sung thêm nội dung  
“đảm bảo lợi ích tốt nhất của người dưới 18  
tuổi”. “Việc bổ sung nguyên tắc này đã thể hiện sự  
nỗ lực trong việc nội luật hóa cũng như ghi nhận  
một cách đầy đủ hơn nguyên tắc xử lý người dưới  
18 tuổi phạm tội đã được quy định trong Công  
ước quốc tế”.10 Nguyên tắc xử lý người dưới  
18 tuổi phạm tội theo khoản 1 Điều 91 BLHS  
năm 2015 đòi hỏi trong mọi hoạt động xử lý  
người dưới 18 tuổi phạm tội cần lưu ý trước  
tiên đến lợi ích của nhóm đối tượng này. Đây  
là một nguyên tắc mang tính nhân đạo, có ý  
nghĩa “định hướng cho cán bộ tiến hành tố  
tụng khi quyết định lựa chọn biện pháp xử lý  
cụ thể đối với NCTN, nhằm tìm ra biện pháp  
phù hợp nhất đối với các em”.  
Thứ hai, khoản 5 Điều 6 Công ước quốc  
tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966  
quy định: “Không được phép tuyên hình phạt tử  
hình đối với người phạm tội dưới 18 tuổi”; Điều  
37(a) Công ước Liên hợp quốc về Quyền trẻ  
em cũng quy định: “Hình phạt tử hình hoặc tù  
chung thân sẽ không được áp dụng với những  
người dưới 18 tuổi ở thời điểm thực hiện hành vi  
phạm tội”.  
tương tự). Tuy nhiên, vẫn còn một số ít các  
quốc gia, trong đó có Việt Nam, chưa có luật  
chuyên biệt về tư pháp NCTN, các quy định  
còn nằm trong các luật khác nhau, trùng lặp  
và thiếu tính đồng bộ. Vì vậy, Việt Nam cần  
xây dựng luật chuyên biệt về tư pháp NCTN  
trên cơ sở thống nhất các quy định đang nằm  
rải rác trong các văn bản khác nhau nhằm  
tạo điều kiện thuận lợi cho công tác áp dụng  
pháp luật trong lĩnh vực này và bảo đảm  
quyền của NCTN phạm tội.  
2.2. Bảo đảm quyền của người chưa thành  
niên phạm tội thông qua nguyên tắc nhân  
đạo trong áp dụng hình phạt và xử lý chuyển  
hướng người chưa thành niên phạm tội  
Thứ nhất, Điều 40 Công ước về quyền trẻ  
em có nêu ra một nguyên tắc chung mang  
tính định hướng có liên quan tới NCTN  
phạm tội như sau: “Mọi trẻ em bị cáo buộc,  
buộc tội hoặc bị coi là vi phạm luật hình sự đều  
có quyền được đối xử phù hợp với sự phát triển  
ý thức về nhân phẩm và phẩm chất của trẻ. Sự  
phát triển ý thức đó giúp tăng thêm ý thức tôn  
trọng các quyền con người và quyền tự do cơ  
bản của người khác; giúp xem xét khía cạnh lứa  
tuổi của trẻ và mong muốn của chúng về sự tái  
hoà nhập cộng đồng”. Bên cạnh đó, Quy tắc  
Bắc Kinh một lần nữa nhấn mạnh việc xây  
dựng hệ thống các quy định áp dụng đối với  
NCTN cần chú trọng đến quyền, lợi ích của  
NCTN, đồng thời đảm bảo mọi quyết định  
xử lý NCTN phải phù hợp với hoàn cảnh và  
tương xứng với tính chất, mức độ của hành  
vi phạm tội mà các em đã thực hiện.  
Phù hợp với các quy định quốc tế trên,  
hầu hết các quốc gia cũng đã quy định  
không áp dụng hình phạt tù chung thân và  
tử hình đối với NCTN phạm tội, ví dụ như:  
Khoản 2 Điều 58 BLHS Liên bang Nga năm  
1995 quy định: “Không áp dụng tù chung thân  
đối với người chưa đủ 18 tuổi”. Khoản 2 Điều  
60 BLHS Liên bang Nga cũng quy định: “Tử  
hình không áp dụng đối với người chưa đủ 18  
tuổi”. Bên cạnh đó, Điều 48 BLHS Cộng hòa  
Tuân thủ theo các khuyến nghị trên, ở Việt  
Nam, so với BLHS năm 1999 và BLHS năm  
1985, BLHS năm 2015 có nhiều quy định mới  
tiến bộ hơn, nhân đạo hơn trong chính sách xử  
lý NCTN phạm tội, “bảo đảm lợi ích tốt nhất  
cho các em trên tinh thần bảo đảm yêu cầu  
đấu tranh phòng, chống tội phạm trong lứa Hà Nội, tháng 04/2016, tr.8  
10ꢀ TS. Trương Quang Vinh, “Chính sách hình sự  
tuổi thanh thiếu niên”9. Cụ thể, khoản 1 Điều  
được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội  
9ꢀ Bộ Tư pháp, Tài liệu hội nghị quán triệt, phổ biến được quy định trong Bộ luật hình sự năm 2015”,  
Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 109/2015/QH13, Tạp chí Luật học, tháng 04/2016, tr.81  
64 Khoa học Kiểm sát  
Số 05 - 2020  
ĐỖ THỊ ÁNH HỒNG  
nhân dân Trung Hoa năm 1979 cũng quy phạm tội, hình thành cho họ ý thức lao động,  
ý thức về hành vi phạm tội cũng như hậu quả  
mà họ gây nên. Điều này hoàn toàn hợp lý  
bởi NCTN là một đối tượng đặc biệt trong  
hoạt động tư pháp, các hình phạt đưa ra đối  
với đối tượng này phải đảm bảo tính chất vừa  
nhân đạo, vừa giáo dục, giúp đỡ hơn là trừng  
phạt. Điều 89 BLHS Liên bang Nga quy định  
về các loại hình phạt đối với NCTN gồm phạt  
tiền, tước quyền tiến hành hoạt động nhất  
định, lao động cải tạo, lao động bắt buộc,  
phạt giam, phạt tù có thời hạn. Như vậy, so  
với BLHS Việt Nam, BLHS Liên bang Nga  
tương đồng ở hai loại hình phạt: Phạt tiền và  
phạt tù có thời hạn. Các hình phạt tước quyền  
tiến hành hoạt động nhất định, lao động bắt  
buộc, lao động cải tạo, phạt giam thì BLHS  
Việt Nam không quy định.  
Trái lại, BLHS Thụy Điển lại quy định về  
hình phạt áp dụng cho người đã thành niên  
phạm tội cũng được áp dụng cho cả NCTN  
phạm tội. Với hai đối tượng này, hình phạt  
được tuyên có thể giống nhau nhưng mức độ  
áp dụng khác nhau. Điều 3 Chương I BLHS  
Thụy Điển quy định các hình phạt đối với tội  
phạm gồm phạt tiền, phạt tù, buộc phải chịu  
thử thách, bản án có điều kiện, bắt buộc chữa  
bệnh. Nhìn nhận một cách khách quan, bắt  
buộc chữa bệnh với tư cách là một hình phạt  
thì không được hợp lý, bởi lẽ bản chất của  
bắt buộc chữa bệnh là giúp người phạm tội  
loại bỏ, hạn chế được bệnh lý, giúp người đó  
khỏe mạnh; còn mục đích của việc áp dụng  
hình phạt đối với NCTN phạm tội là giáo  
dục, trừng trị, giúp họ loại bỏ những hành  
vi, những suy nghĩ xấu để trở thành người  
lương thiện, có ích cho xã hội12.  
định: “Tử hình chỉ được áp dụng đối với những  
người phạm tội nghiêm trọng nhất, trừ người  
phạm tội là người chưa đủ 18 tuổi khi xét xử”.  
Mặc dù vậy, vẫn còn một số ít quốc gia  
duy trì hình phạt tử hình đối với NCTN  
phạm tội, ví dụ: Iran là quốc gia đứng đầu  
danh sách về số vụ thi hành án tử hình đối  
với NCTN phạm tội. Nguyên nhân có thể là  
do Iran có tới 98,5% dân số theo Đạo Hồi. Vì  
lẽ đó, pháp luật Iran là một trong những hệ  
thống pháp luật hà khắc nhất trên thế giới,  
không có sự phân biệt giữa hình phạt dành  
cho người thành niên phạm tội và NCTN  
phạm tội. Điều này là hoàn toàn trái với pháp  
luật và tập quán quốc tế. Ngoài ra, ở Mỹ trước  
đây có tới 44 Bang áp dụng hình phạt tử hình  
và điều đặc biệt hơn là hình phạt này có thể  
áp dụng đối với bị cáo 16 tuổi, nếu như bị cáo  
thực hiện tội phạm giết người man rợ hoặc  
phạm tội đặc biệt nghiêm trọng11. Tuy nhiên,  
hiện nay, sau nhiều tranh cãi, Tòa án Tối cao  
Liên bang Mỹ đã bỏ phiếu thống nhất bỏ hình  
phạt tử hình đối với những người phạm tội  
giết người nhưng chưa đủ 18 tuổi.  
Đặt trong sự so sánh với quy định của các  
quốc gia về trách nhiệm hình sự của NCTN  
phạm tội có thể thấy: pháp luật hình sự Việt  
Nam nhân đạo và đã có sự tương đồng với  
xu thế chung của thế giới trong việc lựa  
chọn, xây dựng, áp dụng nguyên tắc xử lý  
đối với NCTN phạm tội, thể hiện sự tương  
thích giữa các quốc gia (ở mức độ tương đối)  
trong quy định về trách nhiệm hình sự của  
NCTN phạm tội.  
Thứ ba, đối với NCTN phạm tội, hệ thống  
hình phạt chính được áp dụng thường ít hơn  
và nhẹ hơn so với người đã thành niên phạm  
tội. Ví dụ, theo quy định của BLHS Liên bang  
Nga, hệ thống hình phạt chính áp dụng cho  
NCTN phạm tội hết sức phong phú chủ yếu  
nhằm mục đích giáo dục và cải tạo NCTN  
Bên cạnh đó, pháp luật hình sự của Anh  
quy định về hình phạt áp dụng đối với NCTN  
phạm tội bao gồm phạt tù, phạt tiền, hình phạt  
hạn chế tự do. Đáng chú ý nhất là hình phạt  
12ꢀ ThS. Hoàng Minh Đức, “Chính sách hình sự đối  
với người chữa thành niên phạm tội của một số  
National Research Council - Institute of nước trên thế giới và liên hệ ở Việt Nam”, Tạp chí  
11ꢀ  
Medicine, Juvenile Crime – Juvenile Justice (2001), Khoa học giáo dục Cảnh sát nhân dân số 67 (tháng  
National Academy Press. (tr.154).  
10/2015)  
Số 05 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 65  
BẢOĐẢMQUYỀNCỦANGƯỜIDƯỚI18TUỔI(NGƯỜICHƯATHÀNHNIÊN)...  
hạn chế tự do không tước tự do hoàn toàn đối tuổi”. Cụ thể, các hình phạt được áp dụng  
với người phạm tội trong khoảng thời gian  
nhất định mà chỉ hạn chế, cụ thể: người bị kết  
án sẽ bị hạn chế một số quyền, đặc biệt chịu  
sự giám sát, kiểm soát, giáo dục của chính  
quyền và nhân dân địa phương.  
Thêm vào đó, BLHS của Cộng hòa Liên  
bang Đức quy định hình phạt áp dụng đối  
với NCTN phạm tội bao gồm phạt tù, phạt  
tiền, phạt tài sản. Phạt tài sản là một quy định  
mới trong BLHS Cộng hòa Liên bang Đức so  
với các quốc gia khác. Quy định về phạt tài  
sản nếu áp dụng đối với NCTN phạm tội ở  
Việt Nam thì rất khó khả thi, bởi lẽ pháp luật  
Việt Nam quy định độ tuổi được phép tham  
đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được  
quy định cụ thể tại Mục 4 Chương XII –  
“Những quy định đối với người dưới 18 tuổi  
phạm tội”. Khi áp dụng hình phạt đối với  
người dưới 18 tuổi phạm tội, Tòa án phải  
bảo đảm 07 nguyên tắc xử lý hình sự đối với  
người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định  
tại Điều 91 của BLHS, trong đó có nguyên  
tắc “Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với  
người dưới 18 tuổi phạm tội”. Như vậy, đối  
với người dưới 18 tuổi phạm tội, Tòa án chỉ  
được áp dụng hình phạt chính mà không  
được áp dụng hình phạt bổ sung. Mặc dù  
có sự thay đổi về tên gọi nhưng BLHS năm  
gia quan hệ lao động là 18 tuổi trở lên, trong 2015 vẫn giữ nguyên hệ thống hình phạt áp  
một số ít trường hợp độ tuổi này là 15 tuổi trở  
lên. Do đó, trên thực tế, rất nhiều NCTN chưa  
có tài sản vì họ chưa lao động nên chưa tạo ra  
được tài sản cho bản thân. Một số trường hợp  
có tài sản do được tặng cho, thừa hưởng di  
sản thừa kế nhưng rất hạn chế.  
Ở châu Á, BLHS Cộng hòa nhân dân  
Trung Hoa cũng quy định hệ thống hình  
phạt chính áp dụng đối với NCTN bao gồm  
quản chế, phạt giam hình sự, phạt tù. BLHS  
Lào quy định các hình phạt chính áp dụng  
đối với NCTN phạm tội bao gồm phê bình  
công khai, phạt cải tạo không giam giữ, tù  
giam. Điểm tương đồng của BLHS Lào và  
dụng với người chưa thành niên phạm tội  
như BLHS năm 1999 gồm: cảnh cáo, phạt  
tiền, cải tạo không giam giữ và tù có thời  
hạn. BLHS năm 2015 chỉ thay đổi về phạm vi  
áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ,  
cụ thể: Theo quy định tại BLHS năm 1999,  
hình phạt cải tạo không giam giữ được áp  
dụng với người phạm tội ít nghiêm trọng  
hoặc phạm tội nghiêm trọng. Đối chiếu với  
quy định về độ tuổi chịu TNHS tại Điều 12  
BLHS năm 1999 thì hình phạt này chỉ có thể  
được áp dụng đối với NCTN từ đủ 16 tuổi  
đến dưới 18 tuổi phạm tội, còn người từ đủ  
14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội thì không  
BLHS Việt Nam về quy định hình phạt chính thể được áp dụng hình phạt cải tạo không  
áp dụng cho NCTN phạm tội là hình phạt  
cải tạo không giam giữ. BLHS Lào cũng quy  
định phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với  
NCTN phạm tội, chỉ trong những trường  
hợp nhất định theo quy định của pháp luật  
mới được xem là hình phạt chính.  
Ở Việt Nam, BLHS năm 1999 quy định  
4 loại hình phạt có thể áp dụng đối với  
NCTN phạm tội là cảnh cáo, phạt tiền, cải  
tạo không giam giữ và phạt tù; trong đó, chỉ  
có hình phạt tù là hình phạt tước tự do của  
người bị kết án. BLHS năm 2015 có sự thay  
đổi về tên gọi chủ thể phạm tội là người  
chưa thành niên” theo BLHS năm 1999 sang  
giam giữ do người từ đủ 14 tuổi đến dưới  
16 tuổi chỉ phải chịu TNHS về tội phạm  
rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt  
nghiêm trọng (Điều 12 BLHS năm 1999).  
Điều này là không phù hợp với các chuẩn  
mực trong Công ước quốc tế về quyền trẻ  
em mà Việt Nam đã tham gia, đồng thời  
không phù hợp với mục đích “chủ yếu nhằm  
giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát  
triển lành mạnh và trở thành công dân có  
ích cho xã hội” được nêu trong nguyên tắc  
xử lý NCTN phạm tội (Điều 69 BLHS) bởi  
do những đặc điểm về tâm sinh lý, về nhận  
thức, về khả năng giáo dục, cải tạo… nhóm  
tên gọi chủ thể phạm tội là “người dưới 18 người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi cần  
66 Khoa học Kiểm sát  
Số 05 - 2020  
ĐỖ THỊ ÁNH HỒNG  
được áp dụng những chế tài hình sự nhẹ tắc hướng dẫn về điều kiện và việc đối xử  
hơn so với nhóm người từ đủ 16 tuổi đến với NCTN bị tước quyền tự do một cách đầy  
dưới 18 tuổi. Khắc phục nhược điểm này, đủ, toàn diện. Các quy tắc này được áp dụng  
BLHS năm 2015 quy định đối tượng có thể với tất cả những NCTN bị đưa vào các cơ sở  
quản lý giáo dục tập trung (trại giam, trại cải  
tạo, trung tâm giáo dục, bảo vệ hoặc phục  
hồi) theo quyết định của bất kỳ cơ quan tư  
pháp, hành chính hoặc cơ quan công quyền  
nào. Trọng tâm của Quy tắc 1991 là nhằm  
đảm bảo việc tước quyền tự do không dẫn  
đến việc vi phạm hoặc tước các quyền khác  
mà những người dưới 18 tuổi được hưởng  
theo Công ước quốc tế của Liên hợp quốc về  
quyền trẻ em.  
được áp dụng hình phạt cải tạo không giam  
giữ là: 1) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18  
tuổi phạm tội ít nghiêm trọng do cố ý hoặc  
vô ý, phạm tội nghiêm trọng do cố ý hoặc  
vô ý, phạm tội rất nghiêm trọng do vô ý; 2)  
Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm  
tội rất nghiêm trọng do cố ý.  
Như vậy, quy định mới của BLHS năm  
2015 vừa khắc phục được nhược điểm của  
BLHS năm 1999, vừa cho thấy đường lối xử  
lý mang tính chất nhân đạo của Đảng và Nhà  
nước ta đối với người dưới 18 tuổi phạm  
tội13, phù hợp với các yêu cầu của Công ước  
Quốc tế về quyền trẻ em đã được nhà nước  
ta ký kết và tham gia.  
Thứ tư, Điều 37 của Công ước về quyền trẻ  
em quy định NCTN phải được bảo vệ tránh  
khỏi bị tra tấn, phân biệt đối xử hoặc trừng  
phạt tồi tệ, vô nhân đạo cũng như những hành  
vi làm mất phẩm giá. NCTN chỉ bị bắt, bị  
giam giữ và áp dụng hình phạt khi không thể  
áp dụng các biện pháp thay thế. Bên cạnh đó,  
Hướng dẫn Riyadh khuyến nghị việc phòng  
ngừa phạm tội ở NCTN cần được chính thức  
hóa ở mọi cấp chính quyền. Hoạt động phòng  
ngừa cần xác định rõ trách nhiệm của các cơ  
quan, sự phối kết hợp giữa các cơ quan nhà  
nước, tổ chức xã hội và các đoàn thể quần  
chúng, sự tham gia của cộng đồng thông qua  
một loạt các dịch vụ và chương trình hợp tác  
liên ngành giữa các chủ thể trong toàn xã hội  
và sự tham gia của NCTN vào quá trình xây  
dựng tất cả các chính sách phòng ngừa tội  
phạm. Quy tắc của Liên Hợp Quốc về việc bảo  
vệ NCTN bị tước quyền tự do năm 1991 (gọi  
tắt là Quy tắc 1991) cũng đưa ra các nguyên  
Nắm vững được tinh thần trên trong các  
văn bản pháp luật quốc tế, nhiều quốc gia  
đã phát triển những chiến lược xử lý chuyển  
hướng, tạo ra những giải pháp thay thế cho  
việc xử lý NCTN phạm pháp bằng thủ tục  
tố tụng chính thức. Ví dụ ở Canada, Luật Tư  
pháp hình sự người chưa thành niên (YCJA)  
khuyến khích xử lý NCTN phạm pháp mà  
không viện đến hệ thống tư pháp chính thức.  
Các quy định trong Luật này khuyến khích  
cán bộ tư pháp NCTN sử dụng các “Biện  
pháp ngoài tư pháp” đối với NCTN phạm tội  
ít nghiêm trọng. Các biện pháp xử lý chuyển  
hướng mà các cán bộ Công an và Kiểm sát  
viên Canada được phép áp dụng theo Luật  
Tư pháp hình sự NCTN bao gồm: (i) Chấm  
dứt vụ án, không có thêm hành động nào; (ii)  
Nhắc nhở (cảnh cáo không chính thức của  
công an); (iii) Cảnh cáo của công an (chính  
thức hơn); (iv) Cảnh cáo của Công tố viên;  
(v) Hoạt động chuyển dẫn NCTN đến với  
các chương trình hoặc cơ quan tại cộng đồng  
có khả năng giúp họ tránh tái phạm là một  
biện pháp do công an thực hiện. Ngoài ra,  
Luật Tư pháp hình sự NCTN mới còn nhấn  
mạnh việc cho phép và khuyến khích các cơ  
quan công quyền tổ chức các cuộc họp lấy ý  
13ꢀ ThS. Đào Phương Thanh “Một số điểm mới trong kiến trong quá trình đưa ra quyết định đối  
với NCTN phạm tội14.  
những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội  
trong Bộ luật hình sự năm 2015”, Hội thảo khoa học  
về “Những điểm mới trong phần chung của Bộ  
14ꢀ  
“Báo cáo đánh giá luật pháp và thực tiễn thi hành  
luật hình sự năm 2015 so sánh với các quy định pháp luật về xử lý chuyển hướng, tư pháp phục hồi  
của Bộ luật hình sự năm 1999”  
đối với NCTN vi phạm pháp luật ” do Vụ pháp luật  
Số 05 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 67  
BẢOĐẢMQUYỀNCỦANGƯỜIDƯỚI18TUỔI(NGƯỜICHƯATHÀNHNIÊN)...  
Ở Anh và xứ Wales từ năm 198015, các Công an khu vực và các bậc phụ huynh17.  
chương trình xử lý chuyển hướng đã trở  
thành nòng cốt trong xử lý NCTN phạm  
pháp với các biện pháp như cảnh cáo (biện  
pháp xử lý chuyển hướng trước truy tố), xử  
lý trung gian (biện pháp xử lý chuyển hướng  
sau khi tuyên án), lệnh chuyển tuyến (biện  
pháp xử lý chuyển hướng sau khởi tố).  
Các Đội công tác người chưa thành niên  
phạm pháp (Young Offenders Panels - YOP)  
ở Anh cũng tương tự như mô hình Ban tham  
mưu ở Canada, hoạt động trên nguyên tắc  
phục hồi. Chính vì vậy, người bị hại và đại  
diện cộng đồng được mời tham gia cùng với  
cán bộ hỗ trợ hoặc cán bộ mạng lưới xã hội  
dành cho NCTN phạm tội.  
Ở New Zealand, Đạo luật về trẻ em,  
thanh thiếu niên và gia đình (Children,  
young persons and Their FamiliesAct (CYF))  
được thông qua vào năm 1989 đã đánh dấu  
bước đi đầu tiên của New Zealand trong việc  
hướng tới các tiến trình tư pháp phục hồi đối  
với NCTN vi phạm pháp luật. Mục tiêu của  
các quá trình này là tập trung vào phục hồi  
và tái hòa nhập cho NCTN vi phạm pháp  
luật16. Đạo luật về trẻ em, thanh thiếu niên và  
gia đình đã đưa ra mô hình Họp nhóm gia  
đình nhằm đạt được những mục tiêu kể trên.  
Ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, Tổ hoà  
giải cũng là một mô hình rất hiệu quả, cụ thể:  
Trong khuôn khổ của Dự án Tư pháp trẻ em  
nhằm khuyến khích việc xử lý chuyển hướng,  
Quỹ cứu trợ trẻ em và Bộ Tư pháp đã hỗ trợ  
thành lập các Tổ hòa giải Trẻ em hoạt động  
ở cấp xã. Các Tổ này hòa giải các vụ việc liên  
quan đến trẻ em theo yêu cầu của nạn nhân,  
Ở Việt Nam, chế định “Các biện pháp  
giám sát, giáo dục áp dụng trong trường  
hợp người dưới 18 tuổi phạm tội được miễn  
TNHS” – thực chất là các quy định về xử lý  
chuyển hướng người dưới 18 tuổi phạm tội  
– là chế định mới được bổ sung vào BLHS  
năm 2015. Chế định này gồm 04 điều luật:  
Điều 92 - Điều kiện áp dụng, Điều 93 - Khiển  
trách, Điều 94 - Hòa giải tại cộng đồng, Điều  
95 - Giáo dục tại xã, phường, thị trấn. “Đây  
là quy định nhằm mục đích sớm đưa NCTN  
ra khỏi quy trình tố tụng hình sự và áp dụng  
các biện pháp xử lý khác mang tính giáo dục  
- phòng ngừa xã hội nhằm mục đích chính là  
giúp cho họ nhận rõ được lỗi lầm, có thái độ  
ăn năn hối cải, khắc phục sai phạm”18.  
Như vậy, so với quy định trong các văn  
bản pháp lý quốc tế và so sánh với hệ thống  
pháp luật của một số quốc gia trên thế giới,  
có thể thấy rằng pháp luật hình sự Việt Nam  
đã có một số quy định bảo đảm quyền của  
trẻ em và NCTN phạm tội. Tuy nhiên, cũng  
cần bổ sung thêm các quy định toàn diện về  
các vấn đề khác nhau của tư pháp NCTN  
như phòng ngừa tội phạm NCTN, xử lý theo  
các nguyên tắc dựa trên quyền, thân thiện  
và phục hồi và tái hòa nhập cộng đồng, xây  
dựng cơ chế bảo đảm hiệu lực của các quy  
định về xử lý phi hình phạt đối với NCTN  
phạm tội, đẩy mạnh thiết kế các chương  
trình dựa vào cộng đồng...19./.  
17ꢀ “Báo cáo đánh giá luật pháp và thực tiễn thi hành  
pháp luật về xử lý chuyển hướng, tư pháp phục hồi  
đối với NCTN vi phạm pháp luật ” do Vụ pháp luật  
Hành chính – Bộ Tư pháp phối hợp với các chuyên  
gia của các Bộ, ngành có liên quan, chuyên gia Quỹ  
Hành chính – Bộ Tư pháp phối hợp với các chuyên Nhi đồng Liên hợp quốc tại Việt Nam (UNICEF)  
gia của các Bộ, ngành có liên quan, chuyên gia Quỹ thực hiện, tr.49  
18ꢀ  
Nhi đồng Liên hợp quốc tại Việt Nam (UNICEF)  
thực hiện, tr.36  
Chính phủ, Tờ trình về dự án Bộ luật hình sự  
(sửa đổi), tr. 17  
15ꢀNewbum,TandSouhami,A(2005):“YouthDiversion”. 19ꢀ TS. Đào Lệ Thu, “Pháp luật một số nước ASEAN  
In Tilley, N (ed): Handbook of Crime Prevention and và Nam Á về tư pháp người chưa thành niên”, hội  
Community Safety. Cullompton: Willan.  
thảo khoa học “Nghiên cứu sự cần thiết xây dựng  
16ꢀMaxwell, Kingi, Robertson, Morris&Cunningham, hệ thống tư pháp NCTN ở Việt Nam”, Hà Nội,  
2004  
tháng 07/2017, tr. 26  
68 Khoa học Kiểm sát  
Số 05 - 2020  
pdf 8 trang Thùy Anh 11540 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi (người chưa thành niên) phạm tội trong các quy định về hình phạt và biện pháp phi hình phạt dưới góc độ so sánh luật", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_dam_quyen_cua_nguoi_duoi_18_tuoi_nguoi_chua_thanh_nien_p.pdf