Bảo đảm an ninh nguồn nước ở Việt Nam

NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
BẢO ĐẢM AN NINH NGUỒN NƯỚC Ở VIỆT NAM  
Nguyễn Hồng Thao*  
* PGS. TS. Phó Chủ tịch, Ủy viên Luật quốc tế của Liên hợp quốc.  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Nước được coi là một nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng đối với sự  
tồn tại của con người và sự phát triển kinh tế, xã hội của từng nước cũng  
như cộng đồng quốc tế. Vấn đề an ninh và quản lý nguồn nước ngày càng  
trở nên quan trọng trong một thế giới phẳng, phụ thuộc và cạnh tranh lẫn  
nhau. Việt Nam là quốc gia được ưu ái về nguồn nước. Tuy nhiên, với sự  
phát triển dân số và kinh tế, an ninh nguồn nước của Việt Nam cũng đang  
bị đe dọa và cần phải có các biện pháp quản lý hữu hiệu.  
Từ khóa: An ninh nguồn nước,  
bảo đảm an ninh nguồn nước.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 21/12/2020  
: 05/01/2021  
:09/01/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
Keywords: Water  
security; security assurance of  
water resource  
resource  
Fresh water is considered an extremely important resource for the human  
existence and the socio-economic development of each country as well  
as the international community. Water security and management are  
becoming increasingly important in a flat, interdependent, and competitive  
world. Vietnam is a country favored with water resources. However, with  
its population and economic growth, water security in Vietnam is also  
under threat and effective management measures are needed.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 21 Dec. 2020  
: 05 Jan. 2021  
: 09 Jan. 2021  
Approved  
Nước là một trong những thành phần đặc  
biệt quan trọng của hệ sinh thái, là một trong  
những yếu tố vật chất của môi trường, đồng  
thời là một nguồn tài nguyên vô cùng quan  
trọng đối với sự tồn tại của con người và sự  
phát triển kinh tế, xã hội của từng nước cũng  
như cộng đồng quốc tế. Trong khi nước bao  
phủ 70% bề mặt Trái Đất thì chỉ có 3% là nước  
ngọt, trong đó 1/3 có thể tiếp cận, gồm nước  
sông, ao, hồ, kênh, rạch, mương, đầm và nước  
ngầm ở trong lòng đất1. Phần còn lại tồn tại  
dưới dạng băng ở Bắc cực và Nam cực.  
Thứ nhất, phân bổ tự nhiên của các  
nguồn nước ngọt giữa các quốc gia trên thế  
giới không đồng đều. Hầu hết các nguồn nước  
ngọt trên thế giới đều được chia sẻ bởi hai  
hay ba quốc gia trở lên và do đó mâu thuẫn,  
tranh chấp giữa các quốc gia về quản lý, sử  
dụng nguồn nước xảy ra là điều không tránh  
khỏi, nhất là tại các lưu vực sông lớn như  
lưu vực sông Nile, lưu vực sông Indus, lưu  
vực sông Hằng, lưu vực sông Jordan, lưu vực  
sông Tygirs, sông Euphrates và lưu vực sông  
Mê Công.  
1. An ninh nguồn nước  
Thứ hai, nguồn nước ngọt ở khắp mọi nơi  
trên thế giới đang ngày càng bị ô nhiễm, có  
nơi, có lúc bị ô nhiễm nghiêm trọng do hoạt  
An ninh nguồn nước ngày càng trở nên  
gay gắt với thế giới do bốn yếu tố chính:  
1. Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh, Tài nguyên nước và hiện trạng sử dụng, 2013, tr. 5-6.  
Số 02(426) - T1/2021  
9
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
động sản xuất và sinh hoạt của con người  
không được xử lý hoặc không được xử lý đúng  
yêu cầu của các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật  
bảo vệ môi trường và do hoạt động của các  
hiện tượng tự nhiên.  
lượng dòng chảy trung bình nhiều năm của các  
sông vào khoảng 830-840 tỷ m3 3.  
Việt Nam có khoảng trên 7.160 hồ chứa  
thủy lợi, với tổng dung tích ước tính khoảng  
70 tỷ m3. Nguồn nước ngầm có trữ lượng  
khoảng 189,3 triệu m3/ngày đêm (tiềm năng  
có thể khai thác trung bình khoảng 61,2 triệu  
m3/ngày đêm, tập trung ở khu vực Đồng bằng  
Bắc Bộ, Nam Bộ và khu vực Tây Nguyên.  
Lượng mưa trung bình năm của Việt Nam vào  
khoảng 1.940-1.960mm (tương đương với  
khoảng 640 tỷ m3/năm), nằm trong số quốc  
gia có lượng nước mưa lớn trên thế giới4.  
Thứ ba, biến đổi khí hậu làm trái đất nóng  
lên, tình trạng khô hạn, sa mạc hóa lan rộng.  
Sự tan băng ở Bắc cực, Nam cực làm nước  
biển dâng gây nhiễm mặn, thu hẹp các vùng  
nước ngọt ven biển.  
Thứ tư, dân số gia tăng trong khi việc tìm  
kiếm bổ sung nguồn nước ngọt chưa được chú  
ý đúng mức. 2,2 tỷ người hiện thiếu nước sạch  
uống được. 700 triệu người có thể phải di dời  
vì thiếu nước2.  
Hiện tại, tổng lượng nước được khai  
thác, sử dụng hàng năm của Việt Nam là 80,6  
tỷ m3/ 830 tỉ m3 (10% tổng lượng nước của cả  
nước), trong đó hơn 80% (khoảng 65 tỉ m3/  
năm) sử dụng cho nông nghiệp. Hệ thống tưới  
tiêu mới đủ cung cấp nước cho 4,2/11 triệu ha  
canh tác5. Hiện 20% người dân chưa được sử  
dụng nước sạch, 17,2 triệu người vẫn sử dụng  
nguồn nước không đạt tiêu chuẩn nước sạch  
của Bộ Y tế6.  
Mục tiêu phát triển bền vững của Liên  
hợp quốc được thông qua năm 2015 nhấn mạnh  
Mục tiêu 6: Nước sạch và vệ sinh và Mục tiêu  
12: Tiêu dùng và sản xuất có trách nhiệm.  
2. An ninh nguồn nước ở Việt Nam  
Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, Việt  
Nam có 3.450 sông, suối có chiều dài từ 10 km  
trở lên nằm trong 108 lưu vực, trong đó có 13  
lưu vực sông có diện tích lớn hơn 10.000 km2  
và 7 là lưu vực sông liên quốc gia; tổng diện  
tích lưu vực khoảng 1.168 nghìn km2, trong  
đó 837 nghìn km2 diện tích lưu vực (chiếm  
71,7%) nằm ở nước ngoài, ở phần đầu nguồn;  
chỉ có 331 nghìn km2 diện tích lưu vực (chiếm  
28,3%) là nằm trong lãnh thổ Việt Nam; tổng  
Tới năm 2045, nhu cầu dùng nước cho  
dân sinh, công nghiệp sẽ lên đến khoảng 130-  
150 tỷ m3/năm, chiếm tới gần 50% lượng nước  
sản sinh trên lãnh thổ, gần 90% nguồn nước  
mùa khô (khoảng 170 tỉ m3)7.  
Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản  
pháp lý về quản lý nguồn nước như Luật Tài  
3. Bộ Tài Nguyên và Môi trường, Cục Quản lý Tài nguyên nước, An ninh nguồn nước ở Việt Nam - Bài  
1: Mưa nhiều mà nước vẫn thiếu, phân bố không đều, http://dwrm.gov.vn/index.php?language=vi&n-  
v=news&op=Hoat-dong-cua-Cuc-Tin-lien-quan/An-ninh-nguon-nuoc-o-Viet-Nam-Bai-1-Mua-nhieu-ma-  
nuoc-van-thieu-phan-bo-khong-deu-9330, truy cập ngày 17/1/2021  
4. Bộ Tài Nguyên và Môi trường, Cục Quản lý Tài nguyên nước, An ninh nguồn nước ở Việt Nam - Bài 1: Mưa  
nhiều mà nước vẫn thiếu, phân bố không đều, tlđd.  
5. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Báo cáo Môi trường quốc gia 2012, Chương I; Tổng quan về nước mặt ở  
resource/cf06c0fc-6ba4-4dcd-8cb6-1d46c98f4cba/download/part-1-overview-of-vietnam-surface-water.pdf,  
truy cập ngày 17/1/2021.  
6. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Báo cáo Môi trường quốc gia 2012, Chương I; Tổng quan về nước mặt ở  
Việt Nam, tlđd, tr.3.  
7. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Báo cáo Môi trường quốc gia 2012, Chương I; Tổng quan về nước mặt ở  
Việt Nam, tlđd, tr.3.  
10  
Số 02(426) - T1/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
nguyên nước năm 20128, Luật Thủy lợi năm  
20179, Luật Bảo vệ môi trường năm 201910,  
Luật sửa đổi, bổ sung của một số điều của  
Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều  
năm 202011, và các Nghị định thi hành. Bên  
cạnh đó, Quy hoạch tài nguyên nước quốc gia  
đang được xây dựng trình phê duyệt12, trong  
đó quy hoạch lưu vực sông Bằng Giang - Kỳ  
Cùng, Sê San, Srê Pốk dự kiến vào đầu năm  
2021, sông Hồng - Thái Bình, Mekong (Cửu  
Long) tháng 12/2021, 8 lưu vực khác đang  
xây dựng nhiệm vụ. Tuy nhiên, hiện nay, Việt  
Nam gặp 8 thách thức lớn về an ninh nguồn  
nước sau đây:  
Thứ ba, ô nhiễm nguồn nước do các hoạt  
động sản xuất, sinh hoạt gia tăng xả thải. Hạn  
hán làm sa mạc hóa, xâm thực mặn tại các  
lưu vực như Sông Lam (Nghệ An), Sông Cả  
(Thanh Hóa); sông Vu Gia- Thu Bồn (Quảng  
Nam). Ô nhiễm ảnh hưởng đến chi phí xử lý  
nước sạch, thiếu nước cung cấp cho sinh hoạt  
và sản xuất. Ô nhiễm và cạn kiệt nguồn nước  
gây ra các bất đồng nội bộ giữa các địa phương  
trên cùng lưu vực sông, sử dụng sông và các  
nguồn nước với các mục đích sử dụng khác  
nhau như mâu thuẫn trong việc chuyển nước từ  
sông Vu Gia sang sông Thu Bồn (phục vụ Nhà  
máy Thủy điện Đăkmi 4, tỉnh Quảng Nam)  
làm giảm lượng chảy về hạ lưu của sông Vu  
Gia - là nguồn cung cấp nước chính cho thành  
phố Đà Nẵng; hoặc Hồ thủy điện A Vương  
đáp ứng cho nhu cầu sử dụng nước của 2 tỉnh  
Quảng Nam và Đà Nẵng nhưng có thời điểm  
khác biệt về nhu cầu giữ nước và xả nước gây  
mâu thuẫn cho vận hành.  
Thứ nhất, nguồn nước phân bổ không  
đều theo không gian và thời gian, mùa mưa  
lũ thì nước nhiều gây lũ, lụt; mùa khô thì hạn  
hán, xâm nhập mặn. Quy hoạch thủy lợi, hệ  
thống tưới tiêu, tích trữ nước, quản trị nước  
còn hạn chế, không có kế hoạch và phương  
tiện đủ để điều chuyển nước từ nơi này sang  
nơi khác.  
Thứ tư, Việt Nam hạn chế về quyền chủ  
động đối với nguồn nước, tài nguyên nước do  
phụ thuộc nặng nề vào nguồn nước ngoài biên  
giới. Vấn đề hợp tác quản lý các sông liên quốc  
gia nhất là lưu vực sông Mekong khá khó khăn.  
Thứ hai, tác động lớn của thiên tai và biến  
đổi khí hậu. Hàng năm Việt Nam chịu 7-15 cơn  
bão như năm 2020 bão chồng bão, sạt lở đất,  
làm ô nhiễm và đe dọa nguồn nước, chất lượng  
nước và tác động đến các hồ chứa, đập thủy  
điện. Việt Nam là một trong số 5 nước bị ảnh  
hưởng nặng nhất của biến đổi khí hậu và nước  
biển dâng, gây hạn hán, xâm mặn, hạn chế diện  
tích canh tác và lưu vực sông, nhất là tại đồng  
bằng sông Mekong (Cửu Long)13.  
Thứ năm, khả năng tiếp cận nguồn nước  
sạch, an toàn cho sản xuất, sinh hoạt của người  
dân, tại các vùng sâu, vùng xa, địa bàn có điều  
kiện địa lý, điều kiện kinh tế - xã hội còn khó  
khăn. Hiện nay, tỷ lệ người dân đô thị được  
cung cấp nước sạch qua hệ thống cấp nước tập  
trung đến năm 2020 đạt khoảng 90%, dân số  
class_id=1&_page=1&mode=detail&document_id=162986.  
9. Luật Thủy lợi 2017, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/tai-nguyen-moi-truong/Luat-08-2017-QH14-Thuy-  
loi-2017-322933.aspx.  
hop-nhat-13-VBHN-VPQH-2019-Luat-Bao-ve-moi-truong-424601.aspx  
vienphapluat.vn/van-ban/tai-nguyen-moi-truong/Luat-Phong-chong-thien-tai-Luat-De-dieu-sua-doi-2020-so-  
60-2020-QH14-373522.aspx.  
12. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 1748/QĐ-TTg ngày 04/12/2019.  
13. Socialist Republic of Vietnam, Vietnam National Climate Change Strategy (NCCS), Chinhphu.vn (2011),  
leId=10051283, truy cập ngày 17/01/2021.  
Số 02(426) - T1/2021  
11  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
nông thôn sử dụng nguồn nước ăn uống hợp vệ  
sinh ước đạt 90,2%14.  
tài nguyên nước ngày càng quyết liệt. Trong  
tương lai gần, 20-30 năm, tài nguyên nước  
của Việt Nam sẽ vào giai đoạn khan hiếm nếu  
không có các biện pháp quản lý và phát triển  
bền vững. Từ các phân tích trên cho thấy, cần  
phải thay đổi nhận thức Việt Nam là một nước  
được ưu đãi về tài nguyên thiên nhiên, nhất  
là tài nguyên nước và chuyển nhanh, chuyển  
mạnh sang tiếp cận quản lý tổng hợp và phát  
triển bền vững tài nguyên nước, bảo đảm an  
ninh tài nguyên nước trong mọi tình huống.  
Thứ sáu, vấn đề bảo vệ nguồn sinh  
thủy. Việc phá hoại rừng nguyên sinh, rừng  
đầu nguồn làm ảnh hưởng lớn đến khả năng  
giữ nước của các lưu vực sông.  
Thứ bảy, hiệu quả sử dụng nước thấp, chưa  
tiết kiệm, năng lực khai thác công trình thủy lợi  
chưa đáp ứng yêu cầu; lượng nước thất thoát  
trong thủy lợi khoảng 30%, trong cấp nước sinh  
hoạt 25,5%; chưa có quy hoạch tổng thể về sử  
dụng nguồn nước; chưa có kế hoạch và kinh phí  
thay thế các hồ tích nước cũ, mất an toàn15.  
Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm  
vụ phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2016-2020  
và phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh  
tế - xã hội 5 năm 2021-2025, chuẩn bị cho  
Đại Hội Đảng lần thứ XIII đặt ra phương  
hướng: Chủ động ứng phó với biến đổi khí  
hậu, phòng, chống thiên tai, tăng cường quản  
lý tài nguyên và bảo vệ môi trường17.  
Thứ tám, sự gia tăng dân số nhanh chóng,  
kinh tế phát triển mạnh, nhu cầu khai thác và  
sử dụng nước cả nước mặt và nước ngầm cho  
dân sinh, kinh tế trong nước gia tăng, trong khi  
việc quản lý nguồn nước mặt, nước ngầm còn  
nhiều bất cập, gây nhiều vấn đề môi trường,  
nguồn nước và rủi ro khi thiên tai. Tới năm  
2045, 2/3 dân số Việt Nam (hiện dân số Việt  
Nam khoảng gần 100 triệu người) sẽ tập trung  
ở 3 lưu vực sông chính là sông Hồng - Thái  
Bình, Mekong (Cửu Long) và Đồng Nai, làm  
tình trạng thiếu nước cho sản xuất và sinh hoạt  
thêm nghiêm trọng. Ví dụ, như sự cố nước  
sạch sông Đà nhiễm dầu đầu tháng 10/2019 đã  
cảnh báo về an ninh nguồn nước và quy trình  
cấp nước an toàn ở Việt Nam hiện nay16.  
Để bảo đảm an ninh nguồn nước, phục vụ  
cho nhu cầu hiện đại hóa, phát triển kinh tế - xã  
hội, bảo đảm nhu cầu an ninh quốc phòng, chúng  
tôi cho rằng, cần thực hiện một giải pháp sau:  
- Tăng cường tuyên truyền, giáo dục, nâng  
cao nhận thức, ý thức trách nhiệm và nâng  
cao hiệu quả thực thi pháp luật về quản lý tài  
nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến  
đổi khí hậu; thực hiện hạch toán giá trị của tài  
nguyên đất, nước, khoáng sản, đa dạng sinh học,  
cảnh quan thiên nhiên, ô nhiễm và suy thoái môi  
trường vào hệ thống tài khoản quốc gia.  
3. Kết luận và kiến nghị  
Trong bối cảnh chính trị, kinh tế khó  
lường, sức ép dân số tăng cao và biến đổi khí  
hậu hiện nay, sự cạnh tranh tài nguyên bao gồm  
- Thể chế hóa đầy đủ các nguyên tắc thị  
trường trong chi phí để đánh giá tác động môi  
14. Dự thảo Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2016 - 2020 và  
phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025, chuẩn bị cho Đại Hội Đảng lần thứ XIII.  
vu-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-5-nam-2016-2020-va-phuong-huong-nhiem-vu-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-5-  
nam-2021-2025-621157/, truy cập ngày 17/1/2021.  
15. Hiệu quả sử dụng nước ở Việt Nam bằng 1/10 trung bình thế giới, Thời báo Tài chính, 17/8/2020, http://  
thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/xa-hoi/2020-08-17/hieu-qua-su-dung-nuoc-o-viet-nam-bang-1-10-trung-  
binh-the-gioi-91076.aspx, truy cập ngày 17/1/2021.  
16. Sự cố nguồn nước sạch sông Đà nhiễm dầu: Khởi tố vụ án gây ô nhiễm môi trường, Người Lao Động,  
moi-truong-20191017225745895.htm, truy cập ngày 17/1/2021.  
17. Xem chú thích 15.  
12  
Số 02(426) - T1/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
trường, xử lý, khắc phục hậu quả, cải tạo và  
phục hồi môi trường, nghĩa vụ đóng góp để  
đầu tư trở lại cho bảo vệ môi trường; thực thi  
hiệu quả nguyên tắc bên gây ô nhiễm phải trả  
tiền, nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp  
trong và ngoài nước và mọi cư dân trong bảo vệ  
nguồn nước sạch, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả.  
- Tăng cường nguồn lực đầu tư cho hạ  
tầng về nước, nhất là nước sinh hoạt, hồ chứa  
cho các vùng thường xuyên bị khô hạn, các dự  
án biến đổi khí hậu và quản lý tài nguyên nước  
đặc biệt là quan trắc tài nguyên nước mặt, nước  
dưới đất; Xác định các thực hiện giải pháp tích  
trữ nguồn nước dựa vào xu thế tự nhiên, điều  
hòa, phân phối, khai thác, sử dụng, bảo vệ tài  
nguyên nước, có kế hoạch và phương tiện đủ  
để điều chuyển nước từ nơi này sang nơi khác.  
- Cần đẩy mạnh xây dựng và thực thi đúng  
quy hoạch quản lý tài nguyên nước hiệu quả,  
tiết kiệm, an toàn và bền vững và trong tổng thể  
quản lý và phát triển bền vững các nguồn tài  
nguyên khác, phù hợp các mục tiêu phát triển  
bền vững theo Chương trình nghị sự phát triển  
bền vững 2030 của Liên hợp quốc; quản lý tài  
nguyên nước cần bảo đảm thống nhất theo lưu  
vực sông, theo nguồn nước, giữa nước mặt và  
nước dưới đất; nước trên đất liền và nước vùng  
cửa sông, nội thủy, lãnh hải, giữa thượng lưu và  
hạ lưu, kết hợp với quản lý theo địa bàn hành  
chính; nhanh chóng xây dựng và phê duyệt Quy  
hoạch tài nguyên nước quốc gia18, đặc biệt sớm  
hoàn thành quy hoạch 13 lưu vực sông lớn; xây  
dựng giải pháp tổng thể quản lý việc sử dụng  
nước hiệu quả, tiết kiệm trong các ngành kinh tế  
và phát triển đô thị, bảo đảm phát triển bền vững.  
- Tăng cường các biện pháp bảo vệ nguồn  
sinh thủy nhất là rừng nguyên sinh, rừng đầu  
nguồn để tăng cường khả năng giữ nước của  
các lưu vực sông.  
- Chủ động phòng, chống, hạn chế tác  
động của triều cường, ngập lụt, sạt lở, xâm  
nhập mặn do nước biển dâng đối với vùng ven  
biển, nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long,  
đồng bằng Sông Hồng, ven biển miền Trung.  
- Xậy dựng và thực thi hiệu quả hệ thống  
pháp luật tài nguyên môi trường; Tích cực tham  
gia các công ước quốc tế về môi trường nước  
như Công ước của Liên hợp quốc về Luật sử  
dụng các nguồn nước liên quốc gia cho các  
mục đích phi giao thông thủy.  
- Tích cực triển khai công tác điều tra cơ  
bản, đánh giá xác định thực trạng tài nguyên  
nước về số lượng, chất lượng; phục vụ lập  
quy hoạch tài nguyên nước quốc gia và quy  
hoạch quản lý tổng hợp lưu vực các sông lớn,  
hệ thống thủy lợi, hệ thống tưới tiêu, tích trữ  
nước, quản trị nước trên toàn quốc, tính toán  
cân bằng nước cho thời kỳ 2021-2030, tầm  
nhìn năm 2050 trong bối cảnh biến đổi khí hậu  
và khai thác nước gia tăng tại thượng nguồn;  
Xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên nước quốc  
gia như Trung tâm dữ liệu Đồng bằng sông  
Cửu Long; xây dựng đề án chủ động ứng phó  
với biến đổi khí hậu, chuyển đổi sản xuất quy  
mô lớn để thích ứng với điều kiện tự nhiên ở  
các vùng thường xuyên bị hạn hán như Nghị  
quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 của  
Chính phủ về Phát triển bền vững đồng bằng  
sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu.  
- Đẩy mạnh hợp tác với các quốc gia  
thượng nguồn và các tổ chức quốc tế trong việc  
bảo vệ và sử dụng có hiệu quả tài nguyên nước  
ở lưu vực các dòng sông xuyên biên giới, nhất là  
sông Mekong và Sông Hồng; Việt Nam cần thực  
hiện đồng bộ các giải pháp, cơ chế từ hợp tác,  
thuyết phục, đấu tranh nhằm đảm bảo khai thác,  
sử dụng công bằng, hợp lý nguồn nước các sông  
liên quốc gia, đảm bảo việc xây dựng, vận hành  
các công trình thủy điện lớn ở các quốc gia  
thượng nguồn có thể điều tiết hài hòa dòng chảy  
cho hạ du cả trong mùa lũ và mùa cạn để hạn  
chế tác động, rủi ro; Việt Nam cần thúc đẩy cơ  
chế tham vấn, trao đổi chia sẻ thông tin, phối hợp  
trong điều tiết nguồn nước trong mùa khô và về  
lâu dài thông qua các cơ chế hợp tác Ủy hội sông  
Mekong, Mekong - Lan Thương hướng tới xây  
dựng thể chế chung trong khai thác nguồn nước  
18. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 1748/QĐ-TTg ngày 4/12/2019.  
Số 02(426) - T1/2021  
13  
pdf 5 trang Thùy Anh 10960 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bảo đảm an ninh nguồn nước ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_dam_an_ninh_nguon_nuoc_o_viet_nam.pdf