Tài liệu Những điểm mới của bộ luật lao động 2019 về chấm dứt hợp đồng lao động
AMI LAW FIRM
NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA BỘ LUẬT
LAO ĐỘNG 2019 VỀ CHẤM DỨT
HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG
Đà Nẵng, 2021
PHẦN I
HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG
1. Về hình thức Hợp đồng lao động:
1.1. Ghi nhận hình thức Hợp đồng lao
động bằng thông điệp dữ liệu.
pháp lý cho Người sử dụng lao động cũng
như Người lao động có thể dùng thông
điệp dữ liệu để chứng minh cho quan hệ
lao động khi thực hiện giải quyết tranh
chấp tại Hòa giải viên lao động, Tòa án
nhân dân...
Theo quy định tại Bộ luật lao động 2012
thì Hợp đồng lao động có thể được giao
kết bằng văn bản hoặc đối với các Hợp
đồng có thời hạn dưới 03 tháng thì có thể
được giao kết bằng lời nói1.
Theo Điều 10, Điều 36 Luật giao dịch điện
tử 2005 thì “Thông điệp dữ liệu được thể
hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện
tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín,
điện báo, fax và các hình thức tương tự
khác”…. “Trong giao kết hợp đồng, trừ
trường hợp các bên có thỏa thuận khác, đề
nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận giao
kết hợp đồng có thể được thực hiện thông
qua thông điệp dữ liệu”.
Bộ luật lao động 2019 thay đổi về các
trường hợp được giao kết Hợp đồng lao
động bằng lời nói gồm: (i) Hợp đồng lao
động có thời hạn dưới 01 tháng; (ii) Nhóm
người lao động ủy quyền giao kết Hợp
đồng lao động; (iii) Người lao động chưa
đủ 15 tuổi; (iv) Người lao động là người
giúp việc gia đình.
Bộ luật lao động 2019 cũng bổ sung thêm
một hình thức nữa của Hợp đồng lao
động, theo đó, các bên có thể giao kết
thông qua phương tiện điện tử dưới hình
thức thông điệp dữ liệu và Hợp đồng này
cũng có giá trị như hợp đồng lao động
bằng văn bản2.
Như vậy, với sự công nhận Hợp đồng lao
động bằng thông điệp dữ liệu thì ngay từ
thời điểm gửi đề nghị giao kết Hợp đồng
cho Người lao động thông qua thông điệp
dữ liệu và Người lao động trả lời chấp
nhận đề nghị đó thì Hợp đồng lao động
giữa các bên đã được giao kết và có thể
được công nhận theo quy định pháp luật.
Thực tế, loại hình giao dịch bằng Thông
điệp điện tử đã được công nhận từ thời
điểm Luật giao dịch điện tử 2005 có hiệu
lực vào ngày 01/03/2006. Việc công nhận
loại Hợp đồng lao động bằng thông điệp
dữ liệu một phần để phù hợp với các quy
định đã có sẵn trong Luật giao dịch điện
tử 2005, mặt khác để đáp ứng nhu cầu
thực tiễn rất nhiều người sử dụng lao
động đã và đang sử dụng thông điệp dữ
liệu để xác nhận các nội dung về thử việc,
thư mời nhận việc, Hợp đồng lao động…
Đồng thời, điều này củng cố thêm cơ sở
Mặc dù Hợp đồng lao động dưới dạng
thông điệp dữ liệu đã được ghi nhận
nhưng Người sử dụng lao động vẫn nên sử
dụng hình thức Hợp đồng lao động bằng
văn bản để bảo đảm hơn về tính pháp lý.
1.2. Loại Hợp đồng lao động
Theo quy định tại Điều 22 Bộ luật lao
động 2012 thì Hợp đồng lao động được
chia làm 03 loại chính gồm: (i) Hợp đồng
lao động không xác định thời hạn; (ii) Hợp
đồng lao động xác định thời hạn từ 12 đến
36 tháng và (iii) Hợp đồng lao động theo
1 Xem thêm tại Điều 16 Bộ luật lao động 2012.
2 Xem thêm tại Khoản 1 Điều 14 Bộ luật lao động
2019.
mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định
có thời hạn dưới 12 tháng.
•
Gia hạn Hợp đồng lao động cho
Người lao động là thành viên ban
lãnh đạo của tổ chức đại diện Người
lao động tại cơ sở đang trong nhiệm
kỳ mà hết hạn hợp đồng lao động.
Bộ luật lao động 2019 có thay đổi về cơ
cấu các loại hợp đồng nêu trên, cụ thể chỉ
còn 02 loại Hợp đồng lao động là: (i) Hợp
đồng lao động không xác định thời hạn và
(ii) Hợp đồng lao động xác định thời hạn
(thời hạn không quá 36 tháng)3. Sự thay
đổi nêu trên tạo tiền đề cho Người sử
dụng lao động có thể linh động hơn trong
việc thỏa thuận Hợp đồng lao động xác
định thời hạn trong khoảng dưới 36 tháng
để phù hợp với nhu cầu lao động của từng
người sử dụng lao động khác nhau và
Người sử dụng lao động cũng không bị
hạn chế bởi quy định về việc cấm giao kết
hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo
một công việc nhất định có thời hạn dưới
12 tháng để làm những công việc có tính
chất thường xuyên từ 12 tháng trở lên4.
1.3. Thử việc
Bộ luật lao động 2019 cho phép thử việc
lên đến tối đa 180 ngày đối với Người lao
động là người quản lý người sử dụng lao
động theo Luật Người sử dụng lao động và
Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu
tư vào sản xuất, kinh doanh tại người sử
dụng lao động6 (Chủ tịch Hội đồng quản
trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc…).
Ngoài ra, Bộ luật lao động 2019 có thay
đổi về trường hợp không áp dụng thử việc
đối với Hợp đồng lao động có thời hạn
dưới 01 tháng. Quy định này ít hơn so với
quy định cũ là không áp dụng thử việc đối
với Hợp đồng lao động dưới 12 tháng theo
Bộ luật lao động 2012.
Tuy nhiên, cần hiểu rằng việc ký kết Hợp
đồng lao động xác định thời hạn vẫn bị
giới hạn tối đa 02 lần đối với 01 người lao
động. Lần giao kết Hợp đồng lao động thứ
ba bắt buộc Người sử dụng lao động phải
ký kết loại Hợp đồng lao động không xác
định thời hạn với Người lao động5. Khắc
phục bất cập của Bộ luật lao động 2012,
Bộ luật lao động 2019 đã liệt kê cụ thể các
trường hợp Người sử dụng lao động được
ký nhiều Hợp đồng lao động loại xác định
thời hạn với một Người lao động, bao
gồm:
•
Hợp đồng lao động đối với người
được thuê làm giám đốc trong người
sử dụng lao động có vốn nhà nước;
Hợp đồng lao động với người cao
tuổi;
Hợp đồng lao động với Người lao
động nước ngoài (thời hạn Hợp đồng
lao động không vượt quá thời hạn
cấp Giấy phép lao động);
•
•
3 Điều 20 Bộ luật lao động 2019.
4 Khoản 3 Điều 22 Bộ luật lao động 2012.
5 Điểm c Khoản 2 Điều 20 Bộ luật lao động 2019.
6 Khoản 1 Điều 25 Bộ luật lao động 2019.
PHẦN II
CÁC TRƯỜNG HỢP ĐƯƠNG NHIÊN CHẤM DỨT
Bộ luật lao động 2019 đã bổ sung một số
trường hợp đương nhiên chấm dứt Hợp
đồng lao động so với Bộ luật lao động
2012, bao gồm:
Một trong những điều kiện cần để Người
lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam
là phải có Giấy phép lao động, trừ trường
hợp không thuộc diện cấp Giấy phép lao
động theo quy định. Do đó, khi Giấy phép
lao động hết hiệu lực thì Người lao động
đó không còn đủ các điều kiện để lao động
tại Việt Nam. Theo Điều 153 Bộ luật lao
động 2019 thì “Người lao động nước ngoài
làm việc tại Việt Nam không có giấy phép
lao động sẽ bị buộc xuất cảnh hoặc trục
xuất theo quy định của pháp luật về nhập
cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của
người nước ngoài tại Việt Nam”.
1. Người lao động là người nước ngoài
làm việc tại Việt Nam bị trục xuất theo
bản án, quyết định của Tòa án đã có
hiệu lực pháp luật, quyết định của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền.
Trục xuất là một hình phạt được áp dụng
đối với người nước ngoài buộc phải rời
khỏi lãnh thổ nước CHXHCN Việt Nam khi
vi phạm các quy định của pháp luật hình
sự, pháp luật về xử lý vi phạm hành
chính7. Do không còn có mặt tại Việt Nam
nên đương nhiên quan hệ lao động giữa
Người lao động và Người sử dụng lao
động không thể tiếp tục thực hiện.
Mặt khác, theo quy định tại Điều 156 Bộ
luật lao động 2019 thì nội dung của hợp
đồng lao động phải đúng với nội dung của
giấy phép lao động đã được cấp nên thời
hạn ghi trong Hợp đồng lao động cũng
phải phù hợp với thời hạn của Giấy phép
lao động đã được cấp. Khi Giấy phép lao
động hết hiệu lực thì đương nhiên thời
hạn của Hợp đồng lao động cũng hết và
đây là trường hợp đương nhiên Hợp đồng
lao động chấm dứt hiệu lực.
Nếu trước đây, khi Người lao động bị áp
dụng hình phạt trục xuất thì Người sử
dụng lao động khá lúng túng về phương
án xử lý. Một số người sử dụng lao động
áp dụng quy định về xử lý kỷ luật sa thải
theo Điều 126 Bộ luật lao động 2012 do
Người lao động tự ý bỏ việc cộng dồn quá
05 ngày trong vòng 01 tháng mà không có
lý do chính đáng. Một số người sử dụng
lao động lại ra Quyết định đơn phương
chấm dứt Hợp đồng lao động… Quy định
mới này của Bộ luật lao động 2019 đã giải
quyết được vấn đề này, giúp Người sử
dụng lao động có thể chấm dứt Hợp đồng
lao động trong trường hợp Người lao
động bị trục xuất mà không phải lo lắng về
các rủi ro pháp lý có thể xảy ra.
1.3. Thỏa thuận nội dung thử việc ghi
trong hợp đồng lao động mà thử việc
không đạt yêu cầu hoặc một bên hủy bỏ
thỏa thuận thử việc.
Khi thử việc với Người lao động, Người sử
dụng lao động có thể lựa chọn giữa 02
hình thức là ký kết Hợp đồng thử việc
hoặc ký kết Hợp đồng lao động có nội
dung thử việc. Đối với trường hợp ký kết
Hợp đồng thử việc thì Hợp đồng này
không phải là Hợp đồng lao động, chỉ phải
chịu sự điều chỉnh của quy định về thử
việc8.
1.2. Giấy phép lao động hết hiệu lực đối
với người lao động là người nước
ngoài làm việc tại Việt Nam.
7 Điều 37 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm
2017 và Điều 27 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012.
8 Điều 24, 25, 26, 27 Bộ luật lao động 2019.
Đối với trường hợp ký kết Hợp đồng lao
động có nội dung thử việc thì Hợp đồng
này không chỉ đơn thuần là thử việc mà
còn có nội dung liên quan đến quan hệ lao
động sau thử việc. Nếu theo quy định tại
Bộ luật lao động 2012 trước đây thì
trường hợp này Hợp đồng lao động không
đương nhiên chấm dứt. Điều này không
hợp lý vì nếu thử việc không đạt hoặc một
bên hủy bỏ thỏa thuận thử việc thì đương
nhiên các điều khoản liên quan đến Hợp
đồng lao động sẽ không phát sinh hiệu
lực9.
Theo quy định tại Khoản 4 Điều 36 Bộ luật
lao động 2012 thì đối với người lao động
đã đủ tuổi nghỉ hưu và đủ điều kiện về
thời gian đóng bảo hiểm xã hội thì Hợp
đồng lao động đương nhiên chấm dứt. Tuy
nhiên, tại Nghị định 05/2015/NĐ-CP lại
có quy định về việc quan hệ lao động với
Người lao động cao tuổi không đương
nhiên chấm dứt mà vẫn có thể được tiếp
tục nếu Người lao động có đủ sức khỏe và
Người sử dụng lao động có nhu cầu sử
dụng lao động. Mặt khác, việc tiếp tục
hoặc không tiếp tục quan hệ lao động giữa
khi Người lao động đã đến tuổi nghỉ hưu
phải do các bên tự định đoạt.
Tuy nhiên, nếu Người sử dụng lao động ra
Quyết định chấm dứt Hợp đồng lao động
trong trường hợp này lại phát sinh vướng
mắc bởi lẽ Hợp đồng các bên ký kết thuộc
loại Hợp đồng lao động và trường hợp này
lại chưa được thêm vào các trường hợp
chấm dứt Hợp đồng lao động theo Bộ luật
lao động 2012. Từ đó, Bộ luật dân sự 2019
bổ sung quy định này để tháo gỡ được tồn
tại, bất cập nêu trên.
Vì lẽ đó, Bộ luật lao động 2019 đã bỏ quy
định này, đưa trường hợp Người lao đủ
tuổi nghỉ hưu trở thành một trong các
trường hợp được đơn phương chấm dứt
Hợp đồng lao động của Người lao động và
Người sử dụng lao động. Người sử dụng
lao động cần lưu ý điều khoản thay đổi
này để soạn thảo các văn bản chấm dứt
Hợp đồng lao động đúng căn cứ pháp lý.
1.4. Bỏ trường hợp đương nhiên chấm
dứt Hợp đồng lao động khi Người lao
động đủ tuổi nghỉ hưu.
9 Theo Khoản 1 Điều 29 Bộ luật lao động 2012 thì khi
việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động
mới phải ký kết Hợp đồng lao động với Người lao
động, tức các điều khoản liên quan đến quan hệ lao
động giữa các bên mới phát sinh hiệu lực.
PHẦN III
ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG
Bên cạnh việc sửa đổi, bổ sung các trường
hợp đương nhiên chấm dứt Hợp đồng lao
động, Bộ luật lao động 2019 còn có sự
thay đổi đáng kể đối với các quy định về
đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động
của Người sử dụng lao động, cụ thể như
sau:
thải rất chặt chẽ và mất nhiều công sức và
thời gian để thực hiện. Bộ luật lao động
2019 quy định bổ sung quy định này tạo
điều kiện cho Người sử dụng lao động đơn
giản hóa tối đa các thủ tục pháp lý để
chấm dứt Hợp đồng lao động.
2. Người lao động cung cấp không
trung thực thông tin theo quy định tại
khoản 2 Điều 16 của Bộ luật này khi
giao kết hợp đồng lao động làm ảnh
hưởng đến việc tuyển dụng người lao
động.
1. Người lao động tự ý bỏ việc mà
không có lý do chính đáng từ 05 ngày
làm việc liên tục trở lên.
Trước tiên, cần phân biệt điều khoản này
với quy định tại Khoản 4 Điều 125 Bộ luật
lao động 2019 về việc áp dụng hình thức
xử lý kỷ luật sa thải trong trường hợp
Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng
dồn trong thời hạn 30 ngày hoặc 20 ngày
cộng dồn trong thời hạn 365 ngày tính từ
ngày đầu tiên tự ý bỏ việc mà không có lý
do chính đáng. Cụ thể, nếu Người lao động
tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong 30
ngày (05 ngày này có thể không liên tục về
mặt thời gian) thì sẽ thuộc trường hợp
Người sử dụng lao động được áp dụng
hình thức xử lý kỷ luật sa thải. Bên cạnh
đó, nếu Người lao động tự ý bỏ việc liên
tục 05 ngày thì chắc chắn cũng sẽ thuộc
trường hợp Người sử dụng lao động được
xử lý kỷ luật sa thải, và đồng thời theo Bộ
luật lao động 2019, Người sử dụng lao
động cũng có quyền đơn phương chấm
dứt Hợp đồng lao động với Người lao
động.
Bộ luật lao động 2019 quy định bổ sung
nghĩa vụ của Người lao động phải cung
cấp thông tin trung thực cho người sử
dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm
sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học
vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình
trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan
trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao
động mà người sử dụng lao động yêu
cầu10. Cùng với đó, việc vi phạm nghĩa vụ
này của Người lao động sẽ dẫn đến hệ quả
Người sử dụng lao động có thể được áp
dụng quyền đơn phương chấm dứt Hợp
đồng lao động.
Trong quan hệ pháp luật dân sự, việc cung
cấp thông tin không trung thực của một
bên làm bên còn lại hiểu sai lệch về chủ
thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung
của giao dịch dân sự thì giao dịch dân sự
đó có thể bị tuyên vô hiệu do lừa dối11. Đối
với quan hệ lao động, việc người lao động
cung cấp thông tin sai sự thật ảnh hưởng
đến quyết định tuyển dụng của Người sử
dụng lao động thì Người sử dụng lao động
cũng phải có quyền để chấm dứt Hợp
Có thể thấy rằng việc tự ý bỏ việc 05 ngày
làm việc liên tục là một vi phạm nghiêm
trọng và thông thường trong trường hợp
này Người sử dụng lao động khó liên lạc
được với Người lao động để thực hiện các
thủ tục xử lý kỷ luật sa thải. Mặt khác,
trình tự thủ tục để áp dụng xử lý kỷ luật sa
10 Điều 16 Bộ luật lao động 2019.
11 Điều 127 Bộ luật dân sự 2015.
đồng lao động do mục đích ban đầu của
các bên khi xác lập quan hệ lao động đã
không đạt được. Người sử dụng lao động
có thể lựa chọn giữa việc bỏ qua và tiếp
tục quan hệ lao động với Người lao động
đó hoặc đơn phương chấm dứt Hợp đồng
lao động theo quy định này.
một thay đổi nhỏ trong trường hợp Người
lao động không có mặt tại nơi làm việc sau
thời hạn tạm hoãn Hợp đồng lao động và
Người lao động tự ý bỏ việc mà không có
lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên
tục trở lên sẽ không áp dụng quy định về
thời hạn báo trước, người sử dụng lao
động có thể lập tức thực hiện quyền đơn
phương chấm dứt Hợp đồng lao động của
mình.
Ngoài ra, trường hợp nếu người lao động
cung cấp thông tin sai bằng cách sử dụng
bằng cấp, chứng chỉ giả thì Người lao động
còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự liên
quan về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của
cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc
tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy
định tại Điều 341 Bộ luật hình sự 2015
sửa đổi bổ sung năm 2017.
Trong thời gian sắp tới, dự kiến Chính phủ
sẽ ban hành các quy định liên quan đến
thời hạn báo trước đối với một số ngành
nghề đặc thù. Trên cơ sở đó, ngoài các quy
định của Bộ luật lao động 2019, Doanh
nghiệp cũng cần quan tâm tìm hiểu các
quy định của các văn bản dưới luật để áp
dụng đúng thời hạn báo trước tương ứng
với ngành nghề đó.
3. Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu
Như đã trình bày ở các phần trước, khác
với Bộ luật lao động 2012, việc Người lao
động đủ tuổi nghỉ hưu và đủ thời gian
đóng BHXH không còn là trường hợp
đương nhiên chấm dứt hợp đồng lao động
mà sẽ tùy thuộc vào phía Người lao động
cũng như Người sử dụng lao động có
muốn tiếp tục quan hệ lao động hay
không? Nếu trường hợp không muốn tiếp
tục quan hệ lao động thì một trong 02 bên
đều có quyền đơn phương chấm dứt Hợp
đồng lao động theo quy định.
Ngoài ra, cũng cần phân biệt trường hợp
này với trường hợp đương nhiên chấm
dứt Hợp đồng lao động ở Bộ luật lao động
2012, theo đó, trường hợp chấm dứt Hợp
đồng lao động theo Bộ luật lao động 2019
không yêu cầu điều kiện về Người lao
động phải đủ điều kiện về thời gian đóng
bảo hiểm xã hội thì mới phát sinh quyền
chấm dứt Hợp đồng lao động.
4. Về thời hạn báo trước
Về cơ bản, các điều khoản về thời hạn báo
trước của người sử dụng lao động khi
chấm dứt Hợp đồng lao động của Bộ luật
lao động 2019 không có thay đổi nhiều so
với Bộ luật lao động 2012. Chỉ cần lưu ý
PHẦN IV
ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG
Đối với quy định về đơn phương chấm
dứt Hợp đồng lao động của người lao
động Bộ luật lao động 2019 đã có nhiều
thay đổi đáng kể so với Bộ luật lao động
2012.
không cần báo trước trong các trường
hợp sau đây:
a) Không được bố trí theo đúng công việc,
địa điểm làm việc hoặc không được bảo
đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận;
1. Bỏ các lý do đơn phương chấm dứt
Hợp đồng lao động của người lao động.
b) Không được trả đủ lương hoặc trả
lương không đúng thời hạn;
Theo quy định tại Điều 37 Bộ luật lao
động 2012 thì đối người lao động làm việc
theo Hợp đồng lao động xác định thời hạn
hoặc Hợp đồng lao động theo mùa vụ có
quyền đơn phương chấm dứt Hợp đồng
chỉ khi có những lý do nhất định như
không được bố trí đúng vị trí công việc, bị
ngược đãi, quấy rối tình dục, bản thân
hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn
không thể tiếp tục Hợp đồng lao động…
Chỉ trường hợp người lao động làm việc
theo Hợp đồng lao động không xác định
thời hạn thì mới được quyền đơn phương
chấm dứt Hợp đồng lao động mà không bị
ràng buộc bởi những điều kiện kể trên12.
c) Bị người sử dụng lao động ngược đãi,
đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ,
hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe,
nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao
động;
d) Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc;
đ) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc;
e) Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định;
g) Người sử dụng lao động cung cấp thông
tin không trung thực.
Việc quy định đơn giản hóa các quy định
đã giúp người lao động được tự do lựa
chọn công việc phù hợp mà không bị hạn
chế, bó buộc bởi các điều kiện chấm dứt
hợp đồng lao động như trước đây. Đổi lại,
về phần người sử dụng lao động thì quy
định này đã mang lại những tác động nhất
định, phải linh hoạt chuẩn bị các phương
án để thay thế lao động cũng như áp dụng
các chế độ phúc lợi và quan tâm đến
người lao động nhiều hơn.
Sang đến Bộ luật lao động 2019 thì đã bãi
bỏ hoàn toàn các lý do nêu trên. Người lao
động có thể tự mình quyết định việc đơn
phương chấm dứt Hợp đồng lao động mà
không cần nêu lý do cụ thể, chỉ cần tuân
thủ về thời hạn báo trước.
2. Bổ sung các trường hợp Người lao
động đơn phương chấm dứt Hợp đồng
lao động không cần báo trước.
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 35 Bộ luật
lao động 2019, người lao động có quyền
đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
12 Khoản 3 Điều 37 Bộ luật lao động 2012.
Bạn đang xem tài liệu "Tài liệu Những điểm mới của bộ luật lao động 2019 về chấm dứt hợp đồng lao động", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tai_lieu_nhung_diem_moi_cua_bo_luat_lao_dong_2019_ve_cham_du.pdf

