Tài liệu Những điểm mới của bộ luật lao động 2019 về chấm dứt hợp đồng lao động

AMI LAW FIRM  
NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA BỘ LUẬT  
LAO ĐỘNG 2019 VỀ CHẤM DỨT  
HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG  
Đà Nẵng, 2021  
PHẦN I  
HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG  
1. Về hình thức Hợp đồng lao động:  
1.1. Ghi nhận hình thức Hợp đồng lao  
động bằng thông điệp dữ liệu.  
pháp lý cho Người sử dụng lao động cũng  
như Người lao động có thể dùng thông  
điệp dữ liệu để chứng minh cho quan hệ  
lao động khi thực hiện giải quyết tranh  
chấp tại Hòa giải viên lao động, Tòa án  
nhân dân...  
Theo quy định tại Bộ luật lao động 2012  
thì Hợp đồng lao động có thể được giao  
kết bằng văn bản hoặc đối với các Hợp  
đồng có thời hạn dưới 03 tháng thì có thể  
được giao kết bằng lời nói1.  
Theo Điều 10, Điều 36 Luật giao dịch điện  
tử 2005 thì “Thông điệp dữ liệu được thể  
hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện  
tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín,  
điện báo, fax và các hình thức tương tự  
khác”…. “Trong giao kết hợp đồng, trừ  
trường hợp các bên có thỏa thuận khác, đề  
nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận giao  
kết hợp đồng có thể được thực hiện thông  
qua thông điệp dữ liệu”.  
Bộ luật lao động 2019 thay đổi về các  
trường hợp được giao kết Hợp đồng lao  
động bằng lời nói gồm: (i) Hợp đồng lao  
động có thời hạn dưới 01 tháng; (ii) Nhóm  
người lao động ủy quyền giao kết Hợp  
đồng lao động; (iii) Người lao động chưa  
đủ 15 tuổi; (iv) Người lao động là người  
giúp việc gia đình.  
Bộ luật lao động 2019 cũng bổ sung thêm  
một hình thức nữa của Hợp đồng lao  
động, theo đó, các bên có thể giao kết  
thông qua phương tiện điện tử dưới hình  
thức thông điệp dữ liệu và Hợp đồng này  
cũng có giá trị như hợp đồng lao động  
bằng văn bản2.  
Như vậy, với sự công nhận Hợp đồng lao  
động bằng thông điệp dữ liệu thì ngay từ  
thời điểm gửi đề nghị giao kết Hợp đồng  
cho Người lao động thông qua thông điệp  
dữ liệu và Người lao động trả lời chấp  
nhận đề nghị đó thì Hợp đồng lao động  
giữa các bên đã được giao kết và có thể  
được công nhận theo quy định pháp luật.  
Thực tế, loại hình giao dịch bằng Thông  
điệp điện tử đã được công nhận từ thời  
điểm Luật giao dịch điện tử 2005 có hiệu  
lực vào ngày 01/03/2006. Việc công nhận  
loại Hợp đồng lao động bằng thông điệp  
dữ liệu một phần để phù hợp với các quy  
định đã có sẵn trong Luật giao dịch điện  
tử 2005, mặt khác để đáp ứng nhu cầu  
thực tiễn rất nhiều người sử dụng lao  
động đã và đang sử dụng thông điệp dữ  
liệu để xác nhận các nội dung về thử việc,  
thư mời nhận việc, Hợp đồng lao động…  
Đồng thời, điều này củng cố thêm cơ sở  
Mặc dù Hợp đồng lao động dưới dạng  
thông điệp dữ liệu đã được ghi nhận  
nhưng Người sử dụng lao động vẫn nên sử  
dụng hình thức Hợp đồng lao động bằng  
văn bản để bảo đảm hơn về tính pháp lý.  
1.2. Loại Hợp đồng lao động  
Theo quy định tại Điều 22 Bộ luật lao  
động 2012 thì Hợp đồng lao động được  
chia làm 03 loại chính gồm: (i) Hợp đồng  
lao động không xác định thời hạn; (ii) Hợp  
đồng lao động xác định thời hạn từ 12 đến  
36 tháng và (iii) Hợp đồng lao động theo  
1 Xem thêm tại Điều 16 Bộ luật lao động 2012.  
2 Xem thêm tại Khoản 1 Điều 14 Bộ luật lao động  
2019.  
mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định  
có thời hạn dưới 12 tháng.  
•
Gia hạn Hợp đồng lao động cho  
Người lao động là thành viên ban  
lãnh đạo của tổ chức đại diện Người  
lao động tại cơ sở đang trong nhiệm  
kỳ mà hết hạn hợp đồng lao động.  
Bộ luật lao động 2019 có thay đổi về cơ  
cấu các loại hợp đồng nêu trên, cụ thể chỉ  
còn 02 loại Hợp đồng lao động là: (i) Hợp  
đồng lao động không xác định thời hạn và  
(ii) Hợp đồng lao động xác định thời hạn  
(thời hạn không quá 36 tháng)3. Sự thay  
đổi nêu trên tạo tiền đề cho Người sử  
dụng lao động có thể linh động hơn trong  
việc thỏa thuận Hợp đồng lao động xác  
định thời hạn trong khoảng dưới 36 tháng  
để phù hợp với nhu cầu lao động của từng  
người sử dụng lao động khác nhau và  
Người sử dụng lao động cũng không bị  
hạn chế bởi quy định về việc cấm giao kết  
hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo  
một công việc nhất định có thời hạn dưới  
12 tháng để làm những công việc có tính  
chất thường xuyên từ 12 tháng trở lên4.  
1.3. Thử việc  
Bộ luật lao động 2019 cho phép thử việc  
lên đến tối đa 180 ngày đối với Người lao  
động là người quản lý người sử dụng lao  
động theo Luật Người sử dụng lao động và  
Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu  
tư vào sản xuất, kinh doanh tại người sử  
dụng lao động6 (Chủ tịch Hội đồng quản  
trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc…).  
Ngoài ra, Bộ luật lao động 2019 có thay  
đổi về trường hợp không áp dụng thử việc  
đối với Hợp đồng lao động có thời hạn  
dưới 01 tháng. Quy định này ít hơn so với  
quy định cũ là không áp dụng thử việc đối  
với Hợp đồng lao động dưới 12 tháng theo  
Bộ luật lao động 2012.  
Tuy nhiên, cần hiểu rằng việc ký kết Hợp  
đồng lao động xác định thời hạn vẫn bị  
giới hạn tối đa 02 lần đối với 01 người lao  
động. Lần giao kết Hợp đồng lao động thứ  
ba bắt buộc Người sử dụng lao động phải  
ký kết loại Hợp đồng lao động không xác  
định thời hạn với Người lao động5. Khắc  
phục bất cập của Bộ luật lao động 2012,  
Bộ luật lao động 2019 đã liệt kê cụ thể các  
trường hợp Người sử dụng lao động được  
ký nhiều Hợp đồng lao động loại xác định  
thời hạn với một Người lao động, bao  
gồm:  
•
Hợp đồng lao động đối với người  
được thuê làm giám đốc trong người  
sử dụng lao động có vốn nhà nước;  
Hợp đồng lao động với người cao  
tuổi;  
Hợp đồng lao động với Người lao  
động nước ngoài (thời hạn Hợp đồng  
lao động không vượt quá thời hạn  
cấp Giấy phép lao động);  
•
•
3 Điều 20 Bộ luật lao động 2019.  
4 Khoản 3 Điều 22 Bộ luật lao động 2012.  
5 Điểm c Khoản 2 Điều 20 Bộ luật lao động 2019.  
6 Khoản 1 Điều 25 Bộ luật lao động 2019.  
PHẦN II  
CÁC TRƯỜNG HỢP ĐƯƠNG NHIÊN CHẤM DỨT  
H
ỢP ĐỒNG LAO ĐỘ
NG  
Bộ luật lao động 2019 đã bổ sung một số  
trường hợp đương nhiên chấm dứt Hợp  
đồng lao động so với Bộ luật lao động  
2012, bao gồm:  
Một trong những điều kiện cần để Người  
lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam  
là phải có Giấy phép lao động, trừ trường  
hợp không thuộc diện cấp Giấy phép lao  
động theo quy định. Do đó, khi Giấy phép  
lao động hết hiệu lực thì Người lao động  
đó không còn đủ các điều kiện để lao động  
tại Việt Nam. Theo Điều 153 Bộ luật lao  
động 2019 thì “Người lao động nước ngoài  
làm việc tại Việt Nam không có giấy phép  
lao động sẽ bị buộc xuất cảnh hoặc trục  
xuất theo quy định của pháp luật về nhập  
cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của  
người nước ngoài tại Việt Nam”.  
1. Người lao động là người nước ngoài  
làm việc tại Việt Nam bị trục xuất theo  
bản án, quyết định của Tòa án đã có  
hiệu lực pháp luật, quyết định của cơ  
quan nhà nước có thẩm quyền.  
Trục xuất là một hình phạt được áp dụng  
đối với người nước ngoài buộc phải rời  
khỏi lãnh thổ nước CHXHCN Việt Nam khi  
vi phạm các quy định của pháp luật hình  
sự, pháp luật về xử lý vi phạm hành  
chính7. Do không còn có mặt tại Việt Nam  
nên đương nhiên quan hệ lao động giữa  
Người lao động và Người sử dụng lao  
động không thể tiếp tục thực hiện.  
Mặt khác, theo quy định tại Điều 156 Bộ  
luật lao động 2019 thì nội dung của hợp  
đồng lao động phải đúng với nội dung của  
giấy phép lao động đã được cấp nên thời  
hạn ghi trong Hợp đồng lao động cũng  
phải phù hợp với thời hạn của Giấy phép  
lao động đã được cấp. Khi Giấy phép lao  
động hết hiệu lực thì đương nhiên thời  
hạn của Hợp đồng lao động cũng hết và  
đây là trường hợp đương nhiên Hợp đồng  
lao động chấm dứt hiệu lực.  
Nếu trước đây, khi Người lao động bị áp  
dụng hình phạt trục xuất thì Người sử  
dụng lao động khá lúng túng về phương  
án xử lý. Một số người sử dụng lao động  
áp dụng quy định về xử lý kỷ luật sa thải  
theo Điều 126 Bộ luật lao động 2012 do  
Người lao động tự ý bỏ việc cộng dồn quá  
05 ngày trong vòng 01 tháng mà không có  
lý do chính đáng. Một số người sử dụng  
lao động lại ra Quyết định đơn phương  
chấm dứt Hợp đồng lao động… Quy định  
mới này của Bộ luật lao động 2019 đã giải  
quyết được vấn đề này, giúp Người sử  
dụng lao động có thể chấm dứt Hợp đồng  
lao động trong trường hợp Người lao  
động bị trục xuất mà không phải lo lắng về  
các rủi ro pháp lý có thể xảy ra.  
1.3. Thỏa thuận nội dung thử việc ghi  
trong hợp đồng lao động mà thử việc  
không đạt yêu cầu hoặc một bên hủy bỏ  
thỏa thuận thử việc.  
Khi thử việc với Người lao động, Người sử  
dụng lao động có thể lựa chọn giữa 02  
hình thức là ký kết Hợp đồng thử việc  
hoặc ký kết Hợp đồng lao động có nội  
dung thử việc. Đối với trường hợp ký kết  
Hợp đồng thử việc thì Hợp đồng này  
không phải là Hợp đồng lao động, chỉ phải  
chịu sự điều chỉnh của quy định về thử  
việc8.  
1.2. Giấy phép lao động hết hiệu lực đối  
với người lao động là người nước  
ngoài làm việc tại Việt Nam.  
7 Điều 37 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm  
2017 và Điều 27 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012.  
8 Điều 24, 25, 26, 27 Bộ luật lao động 2019.  
Đối với trường hợp ký kết Hợp đồng lao  
động có nội dung thử việc thì Hợp đồng  
này không chỉ đơn thuần là thử việc mà  
còn có nội dung liên quan đến quan hệ lao  
động sau thử việc. Nếu theo quy định tại  
Bộ luật lao động 2012 trước đây thì  
trường hợp này Hợp đồng lao động không  
đương nhiên chấm dứt. Điều này không  
hợp lý vì nếu thử việc không đạt hoặc một  
bên hủy bỏ thỏa thuận thử việc thì đương  
nhiên các điều khoản liên quan đến Hợp  
đồng lao động sẽ không phát sinh hiệu  
lực9.  
Theo quy định tại Khoản 4 Điều 36 Bộ luật  
lao động 2012 thì đối với người lao động  
đã đủ tuổi nghỉ hưu và đủ điều kiện về  
thời gian đóng bảo hiểm xã hội thì Hợp  
đồng lao động đương nhiên chấm dứt. Tuy  
nhiên, tại Nghị định 05/2015/NĐ-CP lại  
có quy định về việc quan hệ lao động với  
Người lao động cao tuổi không đương  
nhiên chấm dứt mà vẫn có thể được tiếp  
tục nếu Người lao động có đủ sức khỏe và  
Người sử dụng lao động có nhu cầu sử  
dụng lao động. Mặt khác, việc tiếp tục  
hoặc không tiếp tục quan hệ lao động giữa  
khi Người lao động đã đến tuổi nghỉ hưu  
phải do các bên tự định đoạt.  
Tuy nhiên, nếu Người sử dụng lao động ra  
Quyết định chấm dứt Hợp đồng lao động  
trong trường hợp này lại phát sinh vướng  
mắc bởi lẽ Hợp đồng các bên ký kết thuộc  
loại Hợp đồng lao động và trường hợp này  
lại chưa được thêm vào các trường hợp  
chấm dứt Hợp đồng lao động theo Bộ luật  
lao động 2012. Từ đó, Bộ luật dân sự 2019  
bổ sung quy định này để tháo gỡ được tồn  
tại, bất cập nêu trên.  
Vì lẽ đó, Bộ luật lao động 2019 đã bỏ quy  
định này, đưa trường hợp Người lao đủ  
tuổi nghỉ hưu trở thành một trong các  
trường hợp được đơn phương chấm dứt  
Hợp đồng lao động của Người lao động và  
Người sử dụng lao động. Người sử dụng  
lao động cần lưu ý điều khoản thay đổi  
này để soạn thảo các văn bản chấm dứt  
Hợp đồng lao động đúng căn cứ pháp lý.  
1.4. Bỏ trường hợp đương nhiên chấm  
dứt Hợp đồng lao động khi Người lao  
động đủ tuổi nghỉ hưu.  
9 Theo Khoản 1 Điều 29 Bộ luật lao động 2012 thì khi  
việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động  
mới phải ký kết Hợp đồng lao động với Người lao  
động, tức các điều khoản liên quan đến quan hệ lao  
động giữa các bên mới phát sinh hiệu lực.  
PHẦN III  
ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG  
C
ỦA NGƯỜ
I S
Ử
D
ỤNG LAO ĐỘ
NG  
Bên cạnh việc sửa đổi, bổ sung các trường  
hợp đương nhiên chấm dứt Hợp đồng lao  
động, Bộ luật lao động 2019 còn có sự  
thay đổi đáng kể đối với các quy định về  
đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động  
của Người sử dụng lao động, cụ thể như  
sau:  
thải rất chặt chẽ và mất nhiều công sức và  
thời gian để thực hiện. Bộ luật lao động  
2019 quy định bổ sung quy định này tạo  
điều kiện cho Người sử dụng lao động đơn  
giản hóa tối đa các thủ tục pháp lý để  
chấm dứt Hợp đồng lao động.  
2. Người lao động cung cấp không  
trung thực thông tin theo quy định tại  
khoản 2 Điều 16 của Bộ luật này khi  
giao kết hợp đồng lao động làm ảnh  
hưởng đến việc tuyển dụng người lao  
động.  
1. Người lao động tự ý bỏ việc mà  
không có lý do chính đáng từ 05 ngày  
làm việc liên tục trở lên.  
Trước tiên, cần phân biệt điều khoản này  
với quy định tại Khoản 4 Điều 125 Bộ luật  
lao động 2019 về việc áp dụng hình thức  
xử lý kỷ luật sa thải trong trường hợp  
Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng  
dồn trong thời hạn 30 ngày hoặc 20 ngày  
cộng dồn trong thời hạn 365 ngày tính từ  
ngày đầu tiên tự ý bỏ việc mà không có lý  
do chính đáng. Cụ thể, nếu Người lao động  
tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong 30  
ngày (05 ngày này có thể không liên tục về  
mặt thời gian) thì sẽ thuộc trường hợp  
Người sử dụng lao động được áp dụng  
hình thức xử lý kỷ luật sa thải. Bên cạnh  
đó, nếu Người lao động tự ý bỏ việc liên  
tục 05 ngày thì chắc chắn cũng sẽ thuộc  
trường hợp Người sử dụng lao động được  
xử lý kỷ luật sa thải, và đồng thời theo Bộ  
luật lao động 2019, Người sử dụng lao  
động cũng có quyền đơn phương chấm  
dứt Hợp đồng lao động với Người lao  
động.  
Bộ luật lao động 2019 quy định bổ sung  
nghĩa vụ của Người lao động phải cung  
cấp thông tin trung thực cho người sử  
dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm  
sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học  
vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình  
trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan  
trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao  
động mà người sử dụng lao động yêu  
cầu10. Cùng với đó, việc vi phạm nghĩa vụ  
này của Người lao động sẽ dẫn đến hệ quả  
Người sử dụng lao động có thể được áp  
dụng quyền đơn phương chấm dứt Hợp  
đồng lao động.  
Trong quan hệ pháp luật dân sự, việc cung  
cấp thông tin không trung thực của một  
bên làm bên còn lại hiểu sai lệch về chủ  
thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung  
của giao dịch dân sự thì giao dịch dân sự  
đó có thể bị tuyên vô hiệu do lừa dối11. Đối  
với quan hệ lao động, việc người lao động  
cung cấp thông tin sai sự thật ảnh hưởng  
đến quyết định tuyển dụng của Người sử  
dụng lao động thì Người sử dụng lao động  
cũng phải có quyền để chấm dứt Hợp  
Có thể thấy rằng việc tự ý bỏ việc 05 ngày  
làm việc liên tục là một vi phạm nghiêm  
trọng và thông thường trong trường hợp  
này Người sử dụng lao động khó liên lạc  
được với Người lao động để thực hiện các  
thủ tục xử lý kỷ luật sa thải. Mặt khác,  
trình tự thủ tục để áp dụng xử lý kỷ luật sa  
10 Điều 16 Bộ luật lao động 2019.  
11 Điều 127 Bộ luật dân sự 2015.  
đồng lao động do mục đích ban đầu của  
các bên khi xác lập quan hệ lao động đã  
không đạt được. Người sử dụng lao động  
có thể lựa chọn giữa việc bỏ qua và tiếp  
tục quan hệ lao động với Người lao động  
đó hoặc đơn phương chấm dứt Hợp đồng  
lao động theo quy định này.  
một thay đổi nhỏ trong trường hợp Người  
lao động không có mặt tại nơi làm việc sau  
thời hạn tạm hoãn Hợp đồng lao động và  
Người lao động tự ý bỏ việc mà không có  
lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên  
tục trở lên sẽ không áp dụng quy định về  
thời hạn báo trước, người sử dụng lao  
động có thể lập tức thực hiện quyền đơn  
phương chấm dứt Hợp đồng lao động của  
mình.  
Ngoài ra, trường hợp nếu người lao động  
cung cấp thông tin sai bằng cách sử dụng  
bằng cấp, chứng chỉ giả thì Người lao động  
còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự liên  
quan về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của  
cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc  
tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy  
định tại Điều 341 Bộ luật hình sự 2015  
sửa đổi bổ sung năm 2017.  
Trong thời gian sắp tới, dự kiến Chính phủ  
sẽ ban hành các quy định liên quan đến  
thời hạn báo trước đối với một số ngành  
nghề đặc thù. Trên cơ sở đó, ngoài các quy  
định của Bộ luật lao động 2019, Doanh  
nghiệp cũng cần quan tâm tìm hiểu các  
quy định của các văn bản dưới luật để áp  
dụng đúng thời hạn báo trước tương ứng  
với ngành nghề đó.  
3. Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu  
Như đã trình bày ở các phần trước, khác  
với Bộ luật lao động 2012, việc Người lao  
động đủ tuổi nghỉ hưu và đủ thời gian  
đóng BHXH không còn là trường hợp  
đương nhiên chấm dứt hợp đồng lao động  
mà sẽ tùy thuộc vào phía Người lao động  
cũng như Người sử dụng lao động có  
muốn tiếp tục quan hệ lao động hay  
không? Nếu trường hợp không muốn tiếp  
tục quan hệ lao động thì một trong 02 bên  
đều có quyền đơn phương chấm dứt Hợp  
đồng lao động theo quy định.  
Ngoài ra, cũng cần phân biệt trường hợp  
này với trường hợp đương nhiên chấm  
dứt Hợp đồng lao động ở Bộ luật lao động  
2012, theo đó, trường hợp chấm dứt Hợp  
đồng lao động theo Bộ luật lao động 2019  
không yêu cầu điều kiện về Người lao  
động phải đủ điều kiện về thời gian đóng  
bảo hiểm xã hội thì mới phát sinh quyền  
chấm dứt Hợp đồng lao động.  
4. Về thời hạn báo trước  
Về cơ bản, các điều khoản về thời hạn báo  
trước của người sử dụng lao động khi  
chấm dứt Hợp đồng lao động của Bộ luật  
lao động 2019 không có thay đổi nhiều so  
với Bộ luật lao động 2012. Chỉ cần lưu ý  
PHẦN IV  
ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG  
C
ỦA NGƯỜI LAO ĐỘ
NG  
Đối với quy định về đơn phương chấm  
dứt Hợp đồng lao động của người lao  
động Bộ luật lao động 2019 đã có nhiều  
thay đổi đáng kể so với Bộ luật lao động  
2012.  
không cần báo trước trong các trường  
hợp sau đây:  
a) Không được bố trí theo đúng công việc,  
địa điểm làm việc hoặc không được bảo  
đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận;  
1. Bỏ các lý do đơn phương chấm dứt  
Hợp đồng lao động của người lao động.  
b) Không được trả đủ lương hoặc trả  
lương không đúng thời hạn;  
Theo quy định tại Điều 37 Bộ luật lao  
động 2012 thì đối người lao động làm việc  
theo Hợp đồng lao động xác định thời hạn  
hoặc Hợp đồng lao động theo mùa vụ có  
quyền đơn phương chấm dứt Hợp đồng  
chỉ khi có những lý do nhất định như  
không được bố trí đúng vị trí công việc, bị  
ngược đãi, quấy rối tình dục, bản thân  
hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn  
không thể tiếp tục Hợp đồng lao động…  
Chỉ trường hợp người lao động làm việc  
theo Hợp đồng lao động không xác định  
thời hạn thì mới được quyền đơn phương  
chấm dứt Hợp đồng lao động mà không bị  
ràng buộc bởi những điều kiện kể trên12.  
c) Bị người sử dụng lao động ngược đãi,  
đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ,  
hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe,  
nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao  
động;  
d) Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc;  
đ) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc;  
e) Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định;  
g) Người sử dụng lao động cung cấp thông  
tin không trung thực.  
Việc quy định đơn giản hóa các quy định  
đã giúp người lao động được tự do lựa  
chọn công việc phù hợp mà không bị hạn  
chế, bó buộc bởi các điều kiện chấm dứt  
hợp đồng lao động như trước đây. Đổi lại,  
về phần người sử dụng lao động thì quy  
định này đã mang lại những tác động nhất  
định, phải linh hoạt chuẩn bị các phương  
án để thay thế lao động cũng như áp dụng  
các chế độ phúc lợi và quan tâm đến  
người lao động nhiều hơn.  
Sang đến Bộ luật lao động 2019 thì đã bãi  
bỏ hoàn toàn các lý do nêu trên. Người lao  
động có thể tự mình quyết định việc đơn  
phương chấm dứt Hợp đồng lao động mà  
không cần nêu lý do cụ thể, chỉ cần tuân  
thủ về thời hạn báo trước.  
2. Bổ sung các trường hợp Người lao  
động đơn phương chấm dứt Hợp đồng  
lao động không cần báo trước.  
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 35 Bộ luật  
lao động 2019, người lao động có quyền  
đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động  
12 Khoản 3 Điều 37 Bộ luật lao động 2012.  
pdf 8 trang Thùy Anh 12620 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tài liệu Những điểm mới của bộ luật lao động 2019 về chấm dứt hợp đồng lao động", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftai_lieu_nhung_diem_moi_cua_bo_luat_lao_dong_2019_ve_cham_du.pdf