Giáo trình Quản lý môi trường ở chính quyền cấp xã

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI  
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG  
TẬP BÀI GIẢNG  
MÔN HỌC: QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG Ở CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ  
NGÀNH: DỊCH VỤ PHÁP LÝ  
(Áp dụng cho trình độ Trung cấp)  
LƯU HÀNH NỘI BỘ  
Năm 2017  
LỜI NÓI ĐẦU  
Quản lý môi trường ở chính quyền cấp xã là một trong những môn học rèn luyện kỹ năng  
quan trọng cho học sinh trong chương trình đào tạo trung cấp pháp lý đã được Bộ giáo dục –  
Đào tạo và Trường Cao đẳng Cộng đồng Lào Cai phê duyệt.  
Nhằm đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, học tập môn học này của học sinh, Trường Cao đẳng  
Cộng đồng Lào Cai tổ chức biên soạn tập bài giảng môn "Quản lý môi trường ở chính quyền cấp  
xã" trên cơ sở hệ thống các văn bản pháp luật hiện hành của Nhà nước và các kinh nghiệm được  
tổng kết trong thực tế.  
Nội dung gồm 3 phần:  
Phần 1. Lý thuyết: Cung cấp cho học sinh hệ thống kiến thức pháp luật hiện hành về Quản  
lý nhà nước về môi trường ở cấp xã  
Phần 2: Bài tập tình huống: Cung cấp cho học sinh các dạng bài tập tình huống có thể xảy  
ra trên thực tế để học sinh có thể làm quen.  
Phần 3: Gợi ý giải các bài tập tình huống  
Hy vọng rằng tập bài giảng này sẽ là tài liệu học tập quan trọng cho học sinh trong quá  
trình học tập và làm việc trong lĩnh vực hòa giải cơ sở.  
Mặc dù tác giả đã có nhiều cố gắng trong quá trình biên soạn nhưng không tránh khỏi hạn  
chế, khiếm khuyết nhất định, mong nhận được sự góp ý, phê bình của bạn đọc nhằm làm cho tập  
bài giảng được hoàn thiện hơn trong những lần tái bản sau.  
Tác giả  
Giảng viên: Mai Thị Lan Hương – Khoa Pháp lý  
TẬP BÀI GIẢNG  
MÔN HỌC: QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG Ở CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ  
Mục tiêu môn học: Sau khi hoàn thành môn học này, học viên cần đạt được các mục tiêu  
sau đây:  
- Về kiến thức  
+ Nắm được các vấn đề mang tính lí luận chung về môi trường, bảo vệ môi trường và thực  
trạng môi trường ở Việt Nam hiện nay.  
+ Vai trò của chính quyền cấp xã trong việc quản lý môi trường.  
- Về kỹ năng  
+ Có phương pháp tiếp cận khoa học, kỹ năng phân tích, đánh giá các vấn đề pháp luật -  
xã hội - pháp lý.  
+ Nắm được khái niệm, nhận diện được bản chất, đặc thù của môi trường, bảo vệ môi  
trường và luật môi trường;  
+ Tầm quan trọng của chính quyền cấp xã trong quản lý môi trường tại địa phương  
- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm:  
+ Có ý thức tham gia quản lý nhà nước về môi trường góp phần bảo vệ môi trường  
+ Có bản lĩnh nghề nghiệp, mạnh dạn tố cáo những hành vi vi phạm pháp luật về môi  
trường.  
+ Có tinh thần làm việc nghiêm túc, khoa học, trách nhiệm với công việc được giao và có  
tinh thần làm việc hợp tác, phối hợp với người khác và trong tập thể.  
PHẦN 1: LÝ THUYẾT  
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ MÔI TRƯỜNG  
1. Khái niệm chung  
1.1. Môi trường là gì?  
"Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ  
mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại,  
phát triển của con người và thiên nhiên." (Theo Điều 1, Luật Bảo vệ Môi trường của Việt  
Nam)  
Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại:  
Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinh học,  
tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người. Đó  
là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động, thực vật, đất, nước... Môi trường  
tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp  
cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa  
đựng, đồng hoá các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con  
người thêm phong phú.  
Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người. Đó là những luật  
lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định... ở các cấp khác nhau như: Liên Hợp Quốc, Hiệp  
hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức  
tôn giáo, tổ chức đoàn thể,... Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo  
một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho  
cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác.  
Ngoài ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo, bao gồm tất cả các  
nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống, như ôtô, máy  
bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công viên nhân tạo...  
Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự  
sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh  
sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội..  
Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ bao gồm các  
nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người. Ví dụ:  
môi trường của học sinh gồm nhà trường với thầy giáo, bạn bè, nội quy của trường, lớp  
học, sân chơi, phòng thí nghiệm, vườn trường, tổ chức xã hội như Đoàn, Đội với các điều  
lệ hay gia đình, họ tộc, làng xóm với những quy định không thành văn, chỉ truyền miệng  
nhưng vẫn được công nhận, thi hành và các cơ quan hành chính các cấp với luật pháp, nghị  
định, thông tư, quy định.  
Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống và  
phát triển.  
- Môi trường có những chức năng cơ bản nào  
Môi trường có các chức năng cơ bản sau:  
Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật.  
Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất  
của con người.  
Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống  
và hoạt động sản xuất của mình.  
Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh  
vật trên trái đất.  
Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người.  
Con người luôn cần một khoảng không gian dành cho nhà ở, sản xuất lương thực và  
tái tạo môi trường. Con người có thể gia tăng không gian sống cần thiết cho mình bằng  
việc khai thác và chuyển đổi chức năng sử dụng của các loại không gian khác như khai  
hoang, phá rừng, cải tạo các vùng đất và nước mới. Việc khai thác quá mức không gian và  
các dạng tài nguyên thiên nhiên có thể làm cho chất lượng không gian sống mất đi khả  
năng tự phục hồi.  
- Vì sao nói Môi trường trái đất là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con  
người?  
Môi trường trái đất được coi là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người bởi  
vì chính môi trường trái đất là nơi:  
Cung cấp sự ghi chép và lưu trữ lịch sử địa chất, lịch sử tiến hoá của vật chất và sinh  
vật, lịch sử xuất hiện và phát triển văn hoá của loài người.  
Cung cấp các chỉ thị không gian và tạm thời mang tính chất báo động sớm các nguy  
hiểm đối với con người và sinh vật sống trên trái đất như các phản ứng sinh lý của cơ thể  
sống trước khi xẩy ra các tai biến thiên nhiên và hiện tượng thiên nhiên đặc biệt như bão,  
động đất, v.v.  
Lưu trữ và cung cấp cho con người sự đa dạng các nguồn gien, các loài động thực  
vật, các hệ sinh thái tự nhiên và nhân tạo, các vẻ đẹp và cảnh quan có giá trị thẩm mỹ, tôn  
giáo và văn hoá khác.  
- Bảo vệ môi trường là việc của ai  
Bảo vệ môi trường là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, cải  
thiện môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do  
con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài  
nguyên thiên nhiên.  
Nhà nước bảo vệ lợi ích quốc gia về tài nguyên và môi trường, thống nhất quản lý  
bảo vệ môi trường trong cả nước, có chính sách đầu tư, bảo vệ môi trường, có trách nhiệm  
tổ chức thực hiện việc giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học và công nghệ, phổ biến kiến  
thức khoa học và pháp luật về bảo vệ môi trường. Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam  
ghi rõ trong Điều 6: "Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân. Tổ chức, cá nhân phải  
có trách nhiệm bảo vệ môi trường, thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường, có quyền và  
có trách nhiệm phát hiện, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường".  
Phải làm gì để bảo vệ môi trường?  
Để bảo vệ môi trường, Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam nghiêm cấm các hành  
vi sau đây:  
Đốt phá rừng, khai thác khoáng sản một cách bừa bãi, gây huỷ hoại môi trường, làm  
mất cân bằng sinh thái;  
Thải khói, bụi, khí độc, mùi hôi thối gây hại vào không khí; phát phóng xạ, bức xạ  
quá giới hạn cho phép vào môi trường xung quanh;  
Thải dầu, mỡ, hoá chất độc hại, chất phóng xạ quá giới hạn cho phép, các chất thải,  
xác động vật, thực vật, vi khuẩn, siêu vi khuẩn độc hại và gây dịch bệnh vào nguồn nước;  
Chôn vùi, thải vào đất các chất độc hại quá giới hạn cho phép;  
Khai thác, kinh doanh các loại thực vật, động vật quý hiếm trong danh mục quy định  
của Chính phủ;  
Nhập khẩu công nghệ, thiết bị không đáp ứng tiêu chuẩn môi trường, nhập khẩu,  
xuất khẩu chất thải;  
Sử dụng các phương pháp, phương tiện, công cụ huỷ diệt hàng loạt trong khai thác,  
đánh bắt các nguồn động vật, thực vật.  
Vì sao nói "Môi trường là nguồn tài nguyên của con người"?  
Môi trường là nơi con người khai thác nguồn vật liệu và năng lượng cần thiết cho  
hoạt động sản xuất và cuộc sống như đất, nước, không khí, khoáng sản và các dạng năng  
lượng như gỗ, củi, nắng, gió,... Các sản phẩm công, nông, lâm, ngư nghiệp và văn hoá, du  
lịch của con người đều bắt nguồn từ các dạng vật chất tồn tại trên trái đất và không gian  
bao quanh trái đất.  
Các nguồn năng lượng, vật liệu, thông tin sau mỗi lần sử dụng được tuần hoàn quay  
trở lại dạng ban đầu được gọi là tài nguyên tái tạo. Ví dụ như nước ngọt, đất, sinh vật, v.v...  
là loại tài nguyên mà sau một chu trình sử dụng sẽ trở lại dạng ban đầu.  
Trái lại, các nguồn năng lượng, vật liệu, thông tin bị mất mát, biến đổi hoặc suy thoái  
không trở lại dạng ban đầu thì được gọi là tài nguyên không tái tạo. Ví dụ như tài nguyên  
khoáng sản, gien di truyền. Tài nguyên khoáng sản sau khi khai thác từ mỏ, sẽ được chế  
biến thành các vật liệu của con người, do đó sẽ cạn kiệt theo thời gian. Tài nguyên gen di  
truyền của các loài sinh vật quý hiếm, có thể mất đi cùng với sự khai thác quá mức và các  
thay đổi về môi trường sống.  
Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, con người ngày càng tăng cường khai thác  
các dạng tài nguyên mới và gia tăng số lượng khai thác, tạo ra các dạng sản phẩm mới có  
tác động mạnh mẽ tới chất lượng môi trường sống.  
1.2. Khủng hoảng môi trường  
Hiện nay, thế giới đang đứng trước 5 cuộc khủng hoảng lớn là: dân số, lương thực,  
năng lượng, tài nguyên và sinh thái. Năm cuộc khủng hoảng này đều liên quan chặt chẽ  
với môi trường và làm cho chất lượng cuộc sống của con người có nguy cơ suy giảm.  
Nguyên nhân gây nên các cuộc khủng hoảng là do sự bùng nổ dân số và các yếu tố phát  
sinh từ sự gia tăng dân số. Do đó, xuất hiện một khái niệm mới là khủng hoảng môi trường.  
"Khủng hoảng môi trường là các suy thoái về chất lượng môi trường sống trên  
quy mô toàn cầu, đe doạ cuộc sống của loài người trên trái đất".  
Sau đây là những biểu hiện của khủng hoảng môi trường:  
Ô nhiễm không khí (bụi, SO2, CO2 v.v...) vượt tiêu chuẩn cho phép tại  
các đô thị, khu công nghiệp.  
Hiệu ứng nhà kính đang gia tăng làm biến đổi khí hậu toàn cầu.  
Tầng ozon bị phá huỷ.  
Sa mạc hoá đất đai do nhiều nguyên nhân như bạc màu, mặn hoá, phèn  
hoá, khô hạn.  
Nguồn nước bị ô nhiễm.  
Ô nhiễm biển xảy ra với mức độ ngày càng tăng.  
Rừng đang suy giảm về số lượng và suy thoái về chất lượng  
Số chủng loài động thực vật bị tiêu diệt đang gia tăng.  
Rác thải, chất thải đang gia tăng về số lượng và mức độ độc hại.  
1.3. Sự cố môi trường  
Theo Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam:  
"Sự cố môi trường là các tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động  
của con người hoặc biến đổi bất thường của thiên nhiên, gây suy thoái môi trường nghiêm  
trọng".  
Sự cố môi trường có thể xảy ra do:  
a.  
mưa axit, mưa đá, biến động khí hậu và thiên tai khác;  
b. Hoả hoạn, cháy rừng, sự cố kỹ thuật gây nguy hại về môi trường của cơ  
Bão, lũ lụt, hạn hán, nứt đất, động đất, trượt đất, sụt lở đất, núi lửa phun,  
sở sản xuất, kinh doanh, công trình kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hoá, xã hội, an  
ninh, quốc phòng;  
c.  
Sự cố trong tìm kiếm, thăm đò, khai thác và vận chuyển khoáng sản,  
dầu khí, sập hầm lò, phụt dầu, tràn dầu, vỡ đường ống dẫn dầu, dẫn khí, đắm tàu, sự  
cố tại cơ sở lọc hoá dầu và các cơ sở công nghiệp khác;  
d.  
Sự cố trong lò phản ứng hạt nhân, nhà máy điện nguyên tử, nhà máy  
sản xuất, tái chế nhiên liệu hạt nhân, kho chứa chất phóng xạ.  
1.4. Ô nhiễm môi trường  
Theo Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam:  
"Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm Tiêu  
chuẩn môi trường".  
Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặc  
năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khoẻ con người, đến sự  
phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường. Các tác nhân ô nhiễm bao  
gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước thải), rắn (chất thải rắn) chứa hoá chất  
hoặc tác nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ.  
Tuy nhiên, môi trường chỉ được coi là bị ô nhiễm nếu trong đó hàm lượng, nồng  
độ hoặc cường độ các tác nhân trên đạt đến mức có khả năng tác động xấu đến con người,  
sinh vật và vật liệu.  
1.5. Suy thoái môi trường  
"Suy thoái môi trường là sự làm thay đổi chất lượng và số lượng của thành phần  
môi trường, gây ảnh hưởng xấu cho đời sống của con người và thiên nhiên".  
Trong đó, thành phần môi trường được hiểu là các yếu tố tạo thành môi trường:  
không khí, nước, đất, âm thanh, ánh sáng, lòng đất, núi, rừng, sông, hồ biển, sinh vật, các  
hệ sinh thái, các khu dân cư, khu sản xuất, khu bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan thiên nhiên,  
danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử và các hình thái vật chất khác.  
1.6. Tiêu chuẩn môi trường  
Theo Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam:  
"Tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mức, giới hạn cho phép, được quy định  
dùng làm căn cứ để quản lý môi trường".  
Vì vậy, tiêu chuẩn môi trường có quan hệ mật thiết với sự phát triển bền vững  
của mỗi quốc gia. Hệ thống tiêu chuẩn môi trường là một công trình khoa học liên ngành,  
nó phản ánh trình độ khoa học, công nghệ, tổ chức quản lý và tiềm lực kinh tế - xã hội có  
tính đến dự báo phát triển. Cơ cấu của hệ thống tiêu chuẩn môi trường bao gồm các nhóm  
chính sau:  
1.  
2.  
Những quy định chung.  
Tiêu chuẩn nước, bao gồm nước mặt nội địa, nước ngầm, nước biển và  
ven biển, nước thải v.v...  
3.  
4.  
Tiêu chuẩn không khí, bao gồm khói bụi, khí thải (các chất thải) v.v...  
Tiêu chuẩn liên quan đến bảo vệ đất canh tác, sử dụng phân bón trong  
sản xuất nông nghiệp.  
5.  
6.  
Tiêu chuẩn về bảo vệ thực vật, sử dụng thuốc trừ sâu, diệt cỏ.  
Tiêu chuẩn liên quan đến bảo vệ các nguồn gen, động thực vật, đa dạng  
sinh học.  
7.  
Tiêu chuẩn liên quan đến bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, các di tích lịch  
sử, văn hoá.  
8.  
Tiêu chuẩn liên quan đến môi trường do các hoạt động khai thác khoáng  
sản trong lòng đất, ngoài biển v.v...  
1.7. Đánh giá tác động môi trường  
"Đánh giá tác động môi trường là quá trình phân tích, đánh giá, dự báo ảnh  
hưởng đến môi trường của các dự án quy hoạch, phát triển kinh tế - xã hội, của các cơ sở  
sản xuất, kinh doanh, công trình kinh tế, khoa học kỹ thuật, y tế, văn hoá, xã hội, an ninh,  
quốc phòng và các công trình khác, đề xuất các giải pháp thích hợp về bảo vệ môi trường".  
Hoạt động phát triển kinh tế - xã hội ở đây có loại mang tính kinh tế - xã hội của  
quốc gia, của một địa phương lớn, hoặc một ngành kinh tế văn hóa quan trọng (luật lệ,  
chính sách quốc gia, những chương trình quốc gia về phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạch  
quốc gia dài hạn), có loại mang tính kinh tế - xã hội vi mô như đề án xây dựng công trình  
xây dựng cơ bản, quy hoạch phát triển, sơ đồ sử dụng một dạng hoặc nhiều dạng tài nguyên  
thiên nhiên tại một địa phương nhỏ. Tuy nhiên, một hoạt động có ý nghĩa vi mô đối với  
cấp quốc gia, nhưng có thể có ý nghĩa vĩ mô đối với xí nghiệp. Hoạt động vi mô nhưng  
được tổ chức một cách phổ biến trên địa bàn rộng có khi lại mang ý nghĩa vĩ mô.  
Tác động đến môi trường có thể tốt hoặc xấu, có lợi hoặc có hại nhưng việc đánh  
giá tác động môi trường sẽ giúp những nhà ra quyết định chủ động lựa chọn những phương  
án khả thi và tối ưu về kinh tế và kỹ thuật trong bất cứ một kế hoạch phát triển kinh tế - xã  
hội nào.  
1.8. Kinh tế môi trường  
"Kinh tế môi trường là công cụ kinh tế được sử dụng để nghiên cứu môi trường  
và điều đó cũng có nghĩa là trong tính toán kinh tế phải xét đến các vấn đề môi trường".  
Các vấn đề này nằm giữa kinh tế và các hệ tư nhiên nên rất phức tạp, do đó có  
thể coi kinh tế môi trường là một ngành phụ trung gian giữa các ngành khoa học tự nhiên  
và khoa học xã hội. Những điểm cần ghi nhớ khi xem xét kinh tế môi trường:  
Tài nguyên không tái tạo như dầu mỏ, than đá, khí đốt có thể bị cạn  
kiệt. Do đó, con người phải tìm tài nguyên thay thế hoặc tìm công nghệ sử dụng các  
loại năng lượng được coi là vĩnh cửu (năng lượng gió, năng lượng mặt trời, năng  
lượng thuỷ triều, v.v...).  
Con người có thể kiểm soát được khả năng phục hồi tài nguyên tái tạo  
và khả năng hấp thụ của môi trường.  
Nâng cao trách nhiệm đối với thiên nhiên (vai trò quản lý môi trường).  
Tìm cách kiểm soát dân số.  
1.9. An ninh môi trường  
"An ninh môi trường là trạng thái mà một hệ thống môi trường có khả năng đảm  
bảo điều kiện sống an toàn cho con người trong hệ thống đó".  
Một hệ thống môi trường bị mất an ninh có thể do các nguyên nhân tự nhiên  
(thiên tai) hoặc do các hoạt động của con người (khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên,  
thải chất độc vào môi trường gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, suy giảm đa dạng sinh  
học,...) hoặc phối hợp tác động của cả hai nguyên nhân trên. Trạng thái an ninh của riêng  
phân hệ sinh thái tự nhiên được gọi là an ninh sinh thái, do đó an ninh sinh thái là một khía  
cạnh của an ninh môi trường.  
1.10. Tai biến môi trường  
"Tai biến môi trường là quá trình gây mất ổn định trong hệ thống môi trường".  
Đó là một quá trình gây hại vận hành trong hệ thống môi trường gồm 3 giai đoạn:  
Giai đoạn nguy cơ (hay hiểm hoạ): Các yếu tố gây hại tồn tại trong hệ  
thống, nhưng chưa phát triển gây mất ổn định.  
Giai đoạn phát triển: Các yếu tố tai biến tập trung lại, gia tăng, tạo trạng  
thái mất ổn định nhưng chưa vượt qua ngưỡng an toàn của hệ thống môi trường.  
Giai đoạn sự cố môi trường: Quá trình vượt qua ngưỡng an toàn, gây  
thiệt hại cho con người về sức khoẻ, tính mạng, tài sản,... Những sự cố gây thiệt hại  
lớn được gọi là tai hoạ, lớn hơn nữa được gọi là thảm hoạ môi trường.  
1.11. Quan trắc môi trường  
"Quan trắc môi trường là việc theo dõi thường xuyên chất lượng môi trường với  
các trọng tâm, trọng điểm hợp lý nhằm phục vụ các hoạt động bảo vệ môi trường và phát  
triển bền vững".  
Các mục tiêu cụ thể của quan trắc môi trường gồm:  
Cung cấp các đánh giá về diễn biến chất lượng môi trường trên quy mô  
quốc gia, phục vụ việc xây dựng báo cáo hiện trạng môi trường.  
Cung cấp các đánh giá về diễn biến chất lượng môi trường của từng  
vùng trọng điểm được quan trắc để phục vụ các yêu cầu tức thời của các cấp quản  
lý nhà nước về bảo vệ môi trường.  
Cảnh báo kịp thời các diễn biến bất thường hay các nguy cơ ô nhiễm,  
suy thoái môi trường.  
Xây dựng cơ sở dữ liệu về chất lượng môi trường phục vụ việc lưu trữ,  
cung cấp và trao đổi thông tin trong phạm vi quốc gia và quốc tế.  
1.12. Sức ép môi trường  
Trước khi thực hiện một dự án phát triển, người ta thường phải chú ý đến sức ép  
môi trường. "Sức ép môi trường là những khó khăn, trở ngại do môi trường (tự nhiên, kinh  
tế, xã hội) tác động lên dự án phát triển".  
Sức ép môi trường là yếu tố nằm ngoài của dự án và hoàn toàn không được mong  
đợi xảy ra khi triển khai dự án. Có thể phân loại sức ép môi trường thành hai loại như sau:  
Sức ép môi trường "nằm trong" khả năng khắc phục của dự án. Ví dụ:  
Thiếu nước, thiếu mặt bằng xây dựng, cơ chế hành chính của địa phương chưa phù  
hợp, hạ tầng cơ sở chưa phát triển, ô nhiễm môi trường điểm du lịch... Nếu tăng  
cường đầu tư và hợp tác với địa phương sẽ giúp cho việc khắc phục các sức ép này.  
Sức ép môi trường "nằm ngoài" khả năng khắc phục của dự án. Ví dụ:  
Chế độ khí hậu thời tiết, tai biến môi trường, điều kiện sinh thái độc hại, cơ cấu điều  
hành của địa phương không hiệu quả... Với loại sức ép này, tự thân khả năng của dự  
án không thể khắc phục được, cần có một chương trình rộng lớn hơn hỗ trợ. Do đó,  
dự án cần phải thích nghi, chịu đựng hoặc phải thay đổi.  
Như vậy, có thể nhận thấy sự phân loại sức ép môi trường phụ thuộc hoàn toàn  
vào năng lực, quy mô của dự án. Một yếu tố môi trường có thể là sức ép môi trường "nằm  
ngoài" khả năng khắc phục của dự án này nhưng lại "nằm trong" trong khả năng khắc phục  
của dự án khác có năng lực và quy mô lớn hơn. Phân loại như vậy sẽ thuận lợi hơn trong  
việc đánh giá nhanh tính khả thi của dự án và giúp cho việc tìm kiếm các giải pháp hạn  
chế, khắc phục các sức ép môi trường một cách hiệu quả nhất.  
Môi trường có phải là một thùng rác lớn không?  
"Tiếp nhận, chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong các hoạt động  
là một chức năng quan trọng của môi trường".  
Phế thải do con người tạo ra trong quá trình sản xuất và tiêu dùng được đưa trở  
lại môi trường. Tại đây, hoạt động của vi sinh vật và các thành phần môi trường sẽ chuyển  
phế thải trở thành các dạng ban đầu trong một chu trình sinh địa hoá phức tạp. Khả năng  
tiếp nhận và phân huỷ chất thải của môi trường là có giới hạn. Khi lượng phế thải vượt quá  
giới hạn tiếp nhận và phân huỷ chất thải, thì chất lượng môi trường sẽ bị suy giảm, môi  
trường có thể bị ô nhiễm.  
Có thể phân loại chức năng này thành:  
Chức năng biến đổi lý hoá: pha loãng, phân huỷ hoá học nhờ ánh sáng  
mặt trời, sự tách chiết các vật thải và độc tố của các thành phần môi trường.  
Chức năng biến đổi sinh hoá: sự hấp thụ các chất dư thừa, sự tuần hoàn  
của chu trình cácbon, chu trình nitơ, phân huỷ chất thải nhờ vi khuẩn, vi sinh vật.  
hoá, v.v...  
Chức năng biến đổi sinh học: khoáng hoá các chất thải hữu cơ, mùn  
Chức năng giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người  
và sinh vật trên trái đất.  
Trái đất trở thành nơi sinh sống của con người và các sinh vật nhờ một số điều  
kiện môi trường đặc biệt: nhiệt độ không khí không quá cao, nồng độ ôxy và các khí khác  
tương đối ổn định, cân bằng nước ở các đại dương và trong đất liền. Tất cả các điều kiện  
đó cho đến nay chưa tìm thấy trên một hành tinh nào khác trong và ngoài hệ mặt trời.  
Những điều đó xẩy ra trên trái đất nhờ hoạt động của hệ thống các thành phần của môi  
trường trái đất như khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển và thạch quyển.  
2. Thực trạng môi trường ở Việt Nam  
Hiện nay, vấn đề ô nhiễm môi trường đang là chủ đề nóng trên các mặt báo và nhận  
được rất nhiều sự quan tâm của người dân. Trong đó, đặc biệt là vấn đề ô nhiễm nguồn  
nước ở Việt Nam đã và đang ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn. Thông qua các phương  
tiện truyền thông, chúng ta có thể dễ dàng thấy được các hình ảnh, cũng như các bài báo  
phản ánh về thực trạng môi trường hiện nay. Mặc dù các ban ngành, đoàn thể ra sức kêu  
gọi bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn nước,... nhưng có vẻ là chưa đủ để cải thiện tình trạng  
ô nhiễm ngày càng trở nên trầm trọng hơn.  
Thực trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam đang rất nghiêm trọng.  
Tình trạng quy hoạch các khu đô thị chưa gắn liền với vấn đề xử lý chất thải, xử lý  
nước thải,... vẫn còn tồn đọng nên tại các thành phố lớn, các khu công nghiệp, khu đô  
thị,...ô nhiễm môi trường đang ở mức báo động. Theo ước tính, trong tổng số 183 khu công  
nghiệp trong cả nước thì có trên 60% khu công nghiệp chưa có hệ thống xử lý nước thải  
tập trung. Tại các đô thị, chỉ có khoảng 60% - 70% chất thải rắn được thu gom, cơ sở hạ  
tầng thoát nước và xử lý nước thải, chất thải nên chưa thể đáp ứng được các yêu cầu về bảo  
vệ môi trường. Hầu hết lượng nước thải bị nhiễm dầu mỡ, hóa chất tẩy rửa, hóa phẩm  
nhuộm,... chưa được xử lý đều đổ thẳng ra các sông, hồ tự nhiên. Một ví dụ đã từng được  
dư luận quan tâm thì trường hợp sông Thị Vải bị ô nhiễm bởi hóa chất thải ra từ nhà máy  
của công ty bột ngọt Vedan suốt 14 năm liền.  
2.1. Các nguyên nhân gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường hiện nay  
2.1.1. Ý thức của người dân  
Đầu tiên, đó chính là sự thiếu ý thức nghiêm trọng và thờ ơ của người dân. Nhiều  
người cho rằng những việc mình làm là quá nhỏ bé, không đủ để làm hại môi trường. Một  
số người lại cho rằng việc bảo vệ môi trường là trách nhiệm của nhà nước, của các cấp  
chính quyền...trong khi số khác lại nghĩ rằng việc môi trường đã bị ô nhiễm thì có làm gì  
cũng "chẳng ăn thua", và ô nhiễm môi trường cũng không ảnh hưởng đến mình nhiều. Và  
chính những suy nghĩ này sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến việc giáo dục cũng như tư duy bảo  
vệ môi trường của các thế hệ trẻ về sau.  
Người dân thờ ơ và thiếu ý thức trong việc bảo vệ môi trường, khó làm gương cho  
trẻ em.  
Thật vậy, người lớn không làm gương để giáo dục trẻ em. Theo quan sát, tại các  
trường học, chúng tôi nhiều lần chứng kiến phụ huynh đưa con đi học đến cổng trường  
dừng lại ăn sáng và sau khi ăn xong, thay vì bỏ hộp xôi, hộp bánh vào thùng rác thì họ lại  
vứt ngay tại chỗ. Mặc dù, các trường học có treo rất nhiều tấm biến, khẩu hiệu cấm xả rác  
bừa bãi nhưng phụ huynh vẫn thản nhiên xả rác nơi công cộng thì rất khó hình thành ý thức  
tốt cho thế hệ trẻ.  
Việc phá hoại môi trường của một người chỉ ảnh hưởng nhỏ nhưng nếu gọp nhiều  
người lại thì rất lớn. Một tờ giấy, vỏ hộp sữa, túi ni-lông,... tuy nhỏ nhưng tích tụ lại lâu  
ngày sẽ gây ô nhiễm, mất mỹ quan, rác thải đọng lại trong các lô-cốt gây ra tình trạng cống  
thoát nước bị nghẹt mỗi khi mưa lớn hay thủy triều lên.  
2.1.2. Các doanh nghiệp thiếu trách nhiệm, quan liêu, thiếu chặt chẽ  
Nguyên nhân thứ hai gây ra ô nhiễm môi trường chính là sự thiếu trách nhiệm của  
các doanh nghiệp. Do đặt nặng mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, không ít doanh nghiệp đã vi  
phạm quy trình khai thác, góp phần gây ô nhiễm môi trường đáng kể.  
Mặt khác, hệ thống xử lý nước thải tại một số khu công nghiệp chưa hoạt động hiệu  
quả, nước thải sinh hoạt bị ô nhiễm được thải liên tục ra sông, hồ gây nhiễm độc nguồn  
nước tự nhiên.  
Bên cạnh đó, chính sự quan liêu, thiếu chặt chẽ trong công tác quản lý bảo vệ môi  
trường của nhà nước cũng đang tiếp tay cho hành vi phá hoại môi trường.  
Ngoài ra, lượng xe cộ lưu thông ngày càng nhiều ở nước ta cũng góp phần không  
nhỏ vào việc gây ô nhiễm bầu không khí.  
2.2. Những hạn chế, bất cập trong bảo vệ môi trường  
Theo thống kê của Bộ Tư Pháp, hiện nay có khoảng 300 văn bản pháp luật về bảo  
vệ môi trường để điều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức, các hoạt động kinh tế, các  
quy trình kỹ thuật, quy trình sử dụng nguyên liệu trong sản xuất,... Tuy nhiên, hệ thống các  
văn bản này vẫn còn chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ, thiếu chi tiết, tính ổn định không cao,  
tình trạng văn bản mới được ban hành chưa lâu đã phải sửa đổi, bổ sung là khá phổ biến,  
từ đó làm hạn chế hiệu quả điều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức, các hoạt động kinh  
tế... trong việc bảo vệ môi trường.  
Một bức ảnh nhỏ nhưng cho thấy tình trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam ô  
nhiễm đến mức nào.  
Quyền hạn pháp lý của các tổ chức bảo vệ môi trường, nhất là của lực lượng Cảnh  
sát môi trường chưa thực sự đủ mạnh, nên đã hạn chế hiệu quả hoạt động nắm tình hình,  
phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm về bảo vệ môi trường. Các cơ sở pháp lý, chế tài  
xử phạt đối với các loại hành vi gây ô nhiễm môi trường về các loại tội phạm còn hạn chế  
chưa đủ mạnh. Cụ thể, có rất ít trường hợp gây ô nhiễm môi trường bị xử lý hình sự, còn  
các biện pháp xử lý khác như: buộc phải di dời ra khỏi khu vực ô nhiễm, đóng cửa và đình  
chỉ hoạt động của cơ sở gây ô nhiễm môi trường cũng không được áp dụng nhiều, hoặc có  
áp dụng nhưng các cơ quan chức năng thiếu kiên quyết nên doanh nghiệp "lỳ đòn" cũng  
không có hiệu quả.  
Các cấp chính quyền chưa nhận thức đầy đủ và quan tâm đúng mức đối với công tác  
bảo vệ môi trường, dẫn đến buông lỏng quản lý, thiếu trách nhiệm trong việc kiểm tra,  
giám sát về môi trường. Ngoài ra, công tác tuyên truyền, giáo dục về bảo vệ môi trường  
trong xã hội còn hạn chế.  
2.3. Giải pháp khắc phục  
Người dân nâng cao ý thức về bảo vệ môi trường, vứt rác đúng nơi quy định, không  
xả rác bừa bãi. Giáo dục, nâng cao nhận thức cho các bé về bảo vệ môi trường. Ngoài ra,  
nên hạn chế sử dụng các hóa chất tẩy rửa khi xử lý nghẹt cống thoát nước, vì như thế sẽ vô  
tình đưa vào môi trường một chất thải nguy hại mới, đồng thời cũng làm nguồn nước bị  
nhiễm độc. Thay vào đó, hãy áp dụng cách thông bồn cầu, cách xử lý ống thoát nước bị tắc  
bằng vi sinh.  
Bảo vệ môi trường là bảo vệ chính chúng ta.  
Nhà nước tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường, trong đó có  
những chế tài xử phạt phải thực sự mạnh để đủ sức răn đe các đối tượng vi phạm. Bên cạnh  
đó, cần xây dựng đồng bộ hệ thống quản lý môi trường trong các nhà máy, các khu công  
nghiệp theo các tiêu chuẩn quốc tế. Tổ chức giám sát chặc chẽ nhằm hướng tới một môi  
trường tốt đẹp hơn.  
Tại các khu du lịch, khu đông dân cư, tuyến đường lớn,... nên bổ sung thêm nhiều  
thùng rác và các nhà vệ sinh công cộng.  
Tăng cường công tác nắm tình hình, thanh tra, giám sát về môi trường. Nâng cao  
năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ phụ trách công tác môi trường và trang  
bị các phương tiện kỹ thuật hiện đại để phục vụ có hiệu quả cho các lực lượng này.  
Cuối cùng, phải đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục về môi trường  
trong toàn xã hội tạo ra sự chuyển biến và nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật  
bảo vệ môi trường.  
Tóm lại, tình trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam tuy nghiêm trọng nhưng vẫn còn  
có thể cứu vãn nếu mỗi người dân biết góp sức của mình, chung tay bảo vệ môi trường.  
Hãy hô vang khẩu hiệu "Vì môi trường xanh - sạch - đẹp" và cũng là vì cuộc sống của  
chính chúng ta cũng như các thế hệ sau.  
Chương 2: QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG Ở CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ  
Mục tiêu:  
- Sau khi học xong bài học, người học biết sự khác nhau giữa ô nhiễm môi trường, suy  
thoái môi trường, sự cố môi trường.  
- Các biện pháp để khắc phục ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường và sự cố môi  
trường;  
- Áp dụng giải các bài tập tình huống  
1.Quản lý và xử lý ô nhiễm môi trường nông thôn  
1.1. Quản lý và xử lý chất thải từ hoạt động trồng trọt  
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở nước ta hiện  
nay đã và đang trở thành một xu thế phát triển tất yếu. Tuy nhiên, quá trình này cũng đã  
tạo ra những mặt trái, đó là tình trạng ô nhiễm môi trường tại các khu vực nông thôn nước  
ta hiện nay khi điều kiện kinh tế ngày càng phát triển, đời sống của người dân ngày một  
cải thiện thì cũng đồng nghĩa với việc rác thải ngày một nhiều. Thoạt đầu, rác thải sinh  
hoạt được người dân mang ra đổ ở mương máng, ao hồ quanh làng. Do khi đó, rác vẫn còn  
chưa nhiều và chủ yếu là rác hữu cơ nên qua nhiều năm vẫn chưa nhìn thấy sự ô nhiễm  
đáng kể nào!  
Thế nhưng, chỉ khoảng trên, dưới chục năm gần đây rác thải trở nên quá tải vì ao, hồ,  
mương máng không thể còn chỗ mà chứa nổi nữa. Người ta mang rác đổ lung tung, thậm  
chí là cả ven các bờ vùng bờ thửa, ven các khu ruộng đất canh tác… Nếu như trước đây,  
rác đổ công khai, thì nay nhiều hộ phải mang rác đi đổ… trộm ngoài đồng vì quá bí chỗ  
đổ.  
Quả thực là, về bất cứ một làng quê nào, cũng có thể gặp ngổn ngang những bãi rác  
tự phát. Rác tràn xuống ruộng, rác lấp ao, hồ và rác “bao vây” cả các khu dân cư. Mùi xú  
uế của rác thải khiến cho môi trường sống của chính người nông dân ít nhiều bị ảnh hưởng  
nghiêm trọng. Có những bãi rác chỉ cách phòng ngủ, quán hàng ăn, khu vui chơi giải trí  
của trẻ em chưa đầy 20 mét.  
Trên thực tế hiện nay, giường như người dân cũng đã quá quen với hình ảnh của các  
bãi rác hôi thối, ruồi nhặng xúm đen nên họ vẫn thản nhiên ăn, thản nhiên sống, sinh  
hoạt…bên cạnh (?!). Rác thải ở nông thôn bây giờ có quá nhiều rác vô cơ là túi nilon, các  
loại bao bì công nghiệp khó phân huỷ nên gây độc hại tới môi trường là không nhỏ.  
Ngoài rác thải ra thì môi trường sống ở nông thôn cũng đang bị “tấn công” bởi nguồn  
nước ô nhiễm trầm trọng. Nếu như nước bề mặt quanh làng, xóm đen ngòm vì chính lượng  
nước thải sinh hoạt của người dân hàng ngày trực tiếp đổ ra, thì nước ngầm cũng đã và  
đang có dấu hiệu “bẩn” rất nhanh.  
Từ rác thải, từ nước thải trên bề mặt như vậy nên việc nước ngầm bị ô nhiễm là điều  
hiển nhiên, vì qua nhiều năm tháng, sự ô nhiễm cứ ngấm xuống để rồi người dân vẫn phải  
hút nước ngầm lên sử dụng và sẽ khó lòng tránh được bệnh tật cùng nhiều ảnh hưởng về  
sức khoẻ khác…  
Báo cáo môi trường quốc gia 2014 với chủ đề "Môi trường nông thôn" cho thấy với  
khoảng 67% dân số cả nước, nông thôn Việt Nam đang chịu những sức ép không nhỏ về ô  
nhiễm môi trường từ các khu-cụm công nghiệp, các cơ sở sản xuất và sinh hoạt của người  
dân, doanh nghiệp.  
1.2. Quản lý và xử lý chất thải từ hoạt động chăn nuôi  
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa  
IX) về đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và Nghị quyết  
Hội nghị lần thứ bảy ban chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân và nông  
thôn đã làm cho bộ mặt đời sống kinh tế - xã hội nông thôn ở nước ta đã có nhiều thay đổi:  
Các khu công nghiệp tại các khu vực nông thôn liên tiếp mọc lên vừa giúp chuyển đổi cơ  
cấu kinh tế tại các khu vực nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đồng thời  
cũng là góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập và cũng nâng cao chất lượng cuộc sống  
của người dân đã và đang sinh sống tại các khu vực nông thôn theo tinh thần "ly nông bất  
ly hương"...  
Tuy nhiên, những năm gần đây, các hoạt động nông nghiệp cùng với những hoạt  
động dịch vụ, sinh hoạt đã xuất hiện tình trạng ô nhiễm môi trường có tính chất nghiêm  
trọng ở khu vực nông thôn nước ta. Nguyên nhân là do tốc độ công nghiệp hóa và đô thị  
hóa nhanh và sự gia tăng dân số gây áp lực ngày càng nặng nề đối với tài nguyên nước  
trong vùng lãnh thổ. Môi trường nước ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày  
càng bị ô nhiễm bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn. Ở các thành phố lớn, hàng trăm cơ  
sở sản xuất công nghiệp đang gây ô nhiễm môi trường nước do không có công trình và  
thiết bị xử lý chất thải. Trong sản xuất nông nghiệp, do lạm dụng các loại thuốc bảo vệ  
thực vật, các nguồn nước ở sông, hồ, kênh, mương bị ô nhiễm, ảnh hưởng lớn đến môi  
trường nước và sức khỏe nhân dân. Do nuôi trồng thủy sản ồ ạt, thiếu quy hoạch, không  
tuân theo quy trình kỹ thuật nên đã gây nhiều tác động tiêu cực tới môi trường nước. Cùng  
với việc sử dụng nhiều và không đúng cách các loại hóa chất trong nuôi trồng thủy sản  
khiến các thức ăn thừa lắng xuống đáy ao, hồ, lòng sông làm cho môi trường nước bị ô  
nhiễm các chất hữu cơ, làm phát triển một số loài sinh vật gây bệnh và xuất hiện một số  
tảo độc; thậm chí đã có dấu hiệu xuất hiện thủy triều đỏ ở một số vùng ven biển Việt Nam.  
Nhận thức của công dân và cộng đồng đang sống và làm việc tại các khu vực nông  
thôn về vấn đề môi trường còn chưa cao. Người dân nông thôn chưa có ý thức bảo vệ môi  
trường (BVMT). Việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất; việc xả nước, rác  
thải; sử dụng nước không đảm bảo vệ sinh, việc đầu tư các công trình phục vụ đời sống và  
sức khỏe (bể nước, cống rãnh thoát nước, nhà vệ sinh...), việc tham gia công tác vệ sinh  
môi trường cộng đồng… còn hạn chế. Đặc biệt, trong hoạt động quản lý, BVMT còn nhiều  
bất cập. Nhận thức của nhiều cấp chính quyền, cơ quan quản lý, tổ chức cá nhân có trách  
nhiệm về nhiệm vụ BVMT chưa đầy đủ, chưa thấy rõ được nguy cơ ô nhiễm môi trường  
khu vực nông thôn sẽ có tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế - xã hội nông thôn, trong  
đó có sức khỏe người dân. Đội ngũ cán bộ quản lý môi trường còn ít về số lượng, bất cập  
về chất lượng. Hiện nay Việt Nam mới chỉ có gần 30 cán bộ quản lý môi trường/1 triệu  
dân so sánh với một số nước trong khối ASEAN là 70 người/1 triệu dân.  
Cơ sở pháp lý, ngân sách đầu tư cho BVMT nước còn quá ít thể hiện nhiều bất  
cập. Vấn đề đầu tư cho công tác BVMT chưa đáp ứng được yêu cầu, còn dàn trải và thiếu  
hiệu quả. Cơ chế phân công và phối hợp giữa các cơ quan, các ngành và địa phương chưa  
đồng bộ, còn chồng chéo, chưa quy định trách nhiệm rõ ràng…  
Ngoài ra, ô nhiễm môi trường nông thôn đã góp phần gây ảnh hưởng trực tiếp đến  
sức khỏe cộng đồng tại các khu vực nông thôn. Theo kết quả “Nghiên cứu ảnh hưởng của  
ô nhiễm asen trong nguồn nước ăn uống, sinh hoạt tới sức khỏe, bệnh tật của cộng đồng  
dân cư vùng đồng bằng sông Hồng và biện pháp khắc phục”, do PGS. TS. Nguyễn Khắc  
Hải, Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường năm 2012 cho thấy, trong số 4.700 đối  
tượng (nam và nữ) đã sử dụng nước giếng khoan trên 3 năm (có nhiễm chất asen) để ăn,  
uống và tắm giặt đã phát hiện được 60 trường hợp nhiễm độc asen mãn tính, chiếm tỷ lệ  
1,62% trong tổng số người sử dụng nước ô nhiễm asen, phân bố nhiều nhất ở Hà Nội  
(7,25%), Vĩnh Phúc (4,98%), Nam Định (4,57%) .  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 50 trang Thùy Anh 14480 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Quản lý môi trường ở chính quyền cấp xã", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_quan_ly_moi_truong_o_chinh_quyen_cap_xa.pdf