Mối quan hệ giữa việc thực hiện sáng kiến lập pháp với chương trình xây dựng luật, pháp lệnh

NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
MỐI QUAN HỆ  
GIỮA VIỆC THỰC HIỆN SÁNG KIẾN LẬP PHÁP  
VỚI CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG LUẬT, PHÁP LỆNH  
NGUYễN TƯ LONG *  
Sang kiến lập phap (SKLP) là quyền trình dư an luật ra trươc Quốc hội vơi mục đích đê Quốc hội xem  
xét, thông qua dư an luật đo. Ở hâu hết cac nươc trên thế giơi, SKLP đươc quy định trong Hiến phap vơi hai  
nội dung cơ bản: chu thê co quyền SKLP và hình thưc thưc hiên SKLP. Ở nươc ta, cac vấn đề này cũng đươc  
quy định trong Hiến phap năm 1992 và Luật Ban hành văn bản quy phạm phap luật (Luật BHVBQPPL) năm  
2008. Tuy nhiên, những quy định cua Luật BHVBQPPL năm 2008, đặc biêt là những quy định về Chương  
trình xây dưng luật, phap lênh (CTXDLPL) co những tac động nhất định đến viêc thưc hiên SKLP.  
tổ chức thành viên của Mặt trận, Đại biểu Quốc  
hội (ĐBQH); chủ thể của quyền trình kiến nghị  
về luật là ĐBQH.  
Quy định về SKLP theo Hiến pháp năm  
1992 có một số đặc điểm sau:  
Thứ nhất, xác định rõ các chủ thể có quyền  
SKLP.  
Thứ hai, xác định hình thức thực hiện quyền  
SKLP của các chủ thể là trình dự án luật hoặc  
kiến nghị về luật.  
Thứ ba, xác định rõ hình thức thực hiện  
quyền SKLP đối với các chủ thể khác nhau.  
Thứ tư, xác định thủ tục trình Quốc hội dự  
án luật, kiến nghị về luật sẽ được quy định bởi  
một đạo luật.  
Quyền trình dự án luật và kiến nghị về luật  
của các chủ thể là thẩm quyền hiến định. Theo  
đó, các chủ thể có quyền trình dự án luật và  
kiến nghị về luật ra trước Quốc hội. Tuy nhiên,  
để thực hiện được quyền SKLP của mình, các  
chủ thể phải tuân theo quy trình, thủ tục được  
quy định trong Luật BHVBQPPL năm 2008.  
1. Quy định của Hiến pháp về sáng kiến lập  
pháp  
Điều 87 của Hiến pháp năm 1992 quy định:  
“Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội,  
Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội,  
Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm  
sát nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam  
và các tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền  
trình dự án luật ra trước Quốc hội.  
Đại biểu Quốc hội có quyền trình kiến nghị  
về luật và dự án luật ra trước Quốc hội.  
Thủ tục trình Quốc hội dự án luật, kiến nghị  
về luật do luật định”.  
Có thể thấy, Hiến pháp năm 1992 xác định  
SKLPđược thực hiện dưới hai hình thức là trình  
dự án luật và trình kiến nghị về luật. Chủ thể  
của quyền trình dự án luật là Chủ tịch nước, Ủy  
ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH), Hội đồng  
dân tộc (HĐDT) và các Uỷ ban của Quốc hội,  
Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC),  
Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC),  
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN) và các  
(*) ThS, hàm Phó Vụ trưởng, Vụ Pháp luật, Văn phòng Quốc hội.  
7
2010  
Số 13(174) NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP  
I
I 21  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
ban hành kèm Nghị quyết) dự kiến sẽ được  
Quốc hội, UBTVQH thông qua trong nhiệm  
kỳ. CTXDLPL hàng năm liệt kê tên các dự án  
luật, pháp lệnh trong Chương trình chính thức  
và Chương trình chuẩn bị; thời gian cho ý kiến,  
thông qua các dự án luật, pháp lệnh đó trong  
một năm. CTXDLPL có đặc điểm:  
Thứ nhất, đó là một loại VBQPPL được  
Quốc hội ban hành dưới hình thức nghị quyết.  
Thứ hai, CTXDLPL là VBQPPL nhưng  
mang tính ổn định không cao. Bởi vì, trong một  
số trường hợp cần thiết, Quốc hội (theo Luật  
BHVBQPPLnăm 2008 là UBTVQH) vẫn có thể  
điềuchỉnhchươngtrìnhnhiệmkỳhoặchàngnăm  
bằng một nghị quyết điều chỉnh chương trình.  
Thực tế cho thấy, việc điều chỉnh CTXDLPL  
diễn ra khá  
2. Quy định của Luật về Chương trình xây  
dựng luật, pháp lệnh  
Trước khi đề cập đến trình tự, thủ tục  
thực hiện quyền SKLP phải nói tới quy định  
về CTXDLPL, bởi CTXDLPL liên quan mật  
thiết đến việc thực hiện quyền SKLP của các  
chủ thể. Để một đạo luật chính thức được soạn  
thảo và thông qua, đạo luật đó phải nằm trong  
CTXDLPL nhiệm kỳ và hàng năm.  
Trước khi Luật BHVBQPPL năm 1996  
ra đời, CTXDLPL đã được quy định ở Quy  
chế hoạt động của UBTVQH và một số văn  
bản khác. Tuy nhiên, nội dung quy định về  
CTXDLPL trong các văn bản này còn rất sơ sài,  
chưa rõ về quy trình, thủ tục xây dựng, ban hành  
CTXDLPL.Sau  
đó, CTXDLPL  
thường xuyên,  
đã được đề  
cá biệt có những  
năm phải điều  
chỉnh từ hai đến  
ba lần.  
cập trong Luật  
B H V B Q P P L  
guồng quay” của hoạt động lập pháp ở  
nước ta đang xoay quanh CTXDLPL nhiệm kỳ  
và hàng năm, trong đó chủ yếu là CTXDLPL  
hàng năm  
năm  
1996  
với các nội  
dung khá đầy  
Thứ  
ba,  
C T X D L P L  
là trung tâm  
đủ và chi tiết  
như: căn cứ  
của hoạt động lập pháp của Quốc hội, các cơ  
quan của Quốc hội và các chủ thể được phân  
công trình dự án luật, pháp lệnh. Các nội dung  
liên quan đến hoạt động lập pháp của Quốc  
hội tại các kỳ họp được xây dựng căn cứ vào  
CTXDLPL hàng năm đã được Quốc hội thông  
qua. Các hoạt động liên quan đến lĩnh vực lập  
pháp của UBTVQH, HĐDT, các Ủy ban của  
Quốc hội và của các cơ quan, tổ chức được  
phân công trình dự án cũng được tiến hành dựa  
trên CTXDLPL.  
Có thể nhận thấy “guồng quay” của hoạt  
động lập pháp ở nước ta đang xoay quanh  
CTXDLPL nhiệm kỳ và hàng năm, trong đó  
chủ yếu là CTXDLPL hàng năm. Căn cứ vào  
CTXDLPL hàng năm, các hoạt động liên quan  
đến lĩnh vực lập pháp của Quốc hội, các cơ  
quan của Quốc hội, Chính phủ, các bộ được  
Chính phủ phân công chủ trì soạn thảo, các chủ  
thể khác được phân công trình dự án luật, pháp  
lệnh được tiến hành. Một luật, pháp lệnh chỉ  
xây dựng CTXDLPL; chủ thể có quyền gửi  
đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh để đưa vào  
CTXDLPL; trình tự, thủ tục trình, thẩm tra, ban  
hành CTXDLPL, điều chỉnh CTXDLPL; bảo  
đảm thực hiện CTXDLPL… Vậy, CTXDLPL  
là gì? tại sao phải có CTXDLPL? CTXDLPL  
có vị trí như thế nào đối với hoạt động lập pháp  
của Quốc hội và trong quy trình xây dựng luật,  
pháp lệnh ở nước ta hiện nay?  
CTXDLPL là tập hợp tên các luật, pháp lệnh  
dự kiến sẽ được các chủ thể trình Quốc hội,  
UBTVQHthôngqua.Nóicáchkhác,CTXDLPL  
là dự kiến kế hoạch lập pháp theo nhiệm kỳ  
hoặc hàng năm của Quốc hội, UBTVQH. Theo  
quy định của Luật BHVBQPPL năm 2008,  
CTXDLPL bao gồm CTXDLPL nhiệm kỳ và  
CTXDLPL hàng năm. CTXDLPL theo nhiệm  
kỳ quy định tổng số luật, pháp lệnh thuộc  
Chương trình chính thức và Chương trình  
chuẩn bị, đồng thời liệt kê tên các dự án luật,  
pháp lệnh theo từng lĩnh vực (trong danh mục  
7
2010  
NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP Số 13(174)  
22 I  
I
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
được chính thức soạn thảo khi đã được “ghi  
tên” trong CTXDLPL.  
bố trí hợp lý các công việc của mình và cũng là  
căn cứ để giám sát hiệu quả hoạt động của các  
cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị.  
Sau gần 15 năm thực hiện Luật BHVBQPPL  
năm1996,việcquyđịnhvàthựchiệnCTXDLPL  
cần được đánh giá xem xét một cách toàn diện  
hơn mà trước tiên là sự phù hợp với Điều 87  
của Hiến pháp năm 1992 về SKLP của các chủ  
thể.  
CTXDLPL có phải là căn cứ để các chủ thể  
tiến hành soạn thảo luật, pháp lệnh?  
Hiến pháp không “giao” luật quy định làm  
thế nào để có được một đạo luật, kiến nghị về  
luật trình Quốc hội mà chỉ giao quy định về thủ  
tục trình dự án luật, kiến nghị về luật ra trước  
Quốc hội. Điều  
3. Mối quan hệ giữa việc thực hiện sáng  
kiến lập pháp và Chương trình xây dựng  
luật, pháp lệnh  
Thực tiễn cho thấy, CTXDLPLtheo quy định  
của Luật BHVBQPPL năm 1996 đã có những  
đóng góp nhất định trong việc xây dựng và hoàn  
thiện hệ thống pháp luật ở nước ta. Nếu chỉ xét  
ở góc độ hợp lý của quy định về CTXDLPL thì  
có thể thấy, các nhà lập pháp nước ta không có  
quá nhiều lựa chọn khi xây dựng các quy phạm  
về CTXDLPL. Bởi vì, những năm giữa thập kỷ  
90, nước ta đang ở thời kỳ đầu của giai đoạn đổi  
mới. Khi đó, số  
lượng các văn  
đó không có  
bản luật, pháp  
nghĩa là luật  
Những năm giữa thập kỷ 90, nước ta đang  
lệnh cần được  
ban hành là rất  
nhiều, trên mọi  
lĩnh vực như tổ  
chức bộ máy  
nhà nước, kinh  
tế, giáo dục, y  
tế... Trong điều  
kiện đó, việc  
quy định về  
không  
được  
ở thời kỳ đầu của giai đoạn đổi mới. Khi đó, số  
lượng các văn bản luật, pháp lệnh cần được ban  
hành là rất nhiều, trên mọi lĩnh vực... Trong  
điều kiện đó, việc quy định về CTXDLPL là phù  
hợp với thực tiễn. Nhất là khi Quốc hội nước ta  
hoạt động không thường xuyên  
phép quy định  
thủ tục, trình tự  
soạn thảo dự án  
luật. Tuy nhiên,  
việc gắn thủ tục,  
trình tự soạn  
thảo luật với thủ  
tục trình dự án  
luật, kiến nghị  
CTXDLPL là phù hợp với thực tiễn. Nhất là  
khi Quốc hội nước ta hoạt động không thường  
xuyên, một năm hai kỳ, mỗi kỳ chỉ diễn ra trong  
khoảng 45 ngày, nên cần phải có sự sắp xếp và  
cân đối theo thứ tự ưu tiên giữa các lĩnh vực,  
các văn bản trong từng lĩnh vực. Có như vậy  
mới bảo đảm được Chương trình hoạt động của  
Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội cũng như  
các chủ thể khác. Hơn nữa, trong mối tương  
quan giữa nhu cầu của việc xây dựng pháp luật  
với trình độ lập pháp của các cơ quan, tổ chức,  
cá nhân ở nước ta, CTXDLPL là cơ sở xác định  
rõ trách nhiệm của các chủ thể trong việc xây  
dựng, trình các văn bản luật, pháp lệnh ra trước  
Quốc hội, UBTVQH. Hoạt động lập pháp được  
tiến hành dựa trên cơ sở CTXDLPL nhiệm kỳ  
và hàng năm cũng giúp Quốc hội, các cơ quan  
của Quốc hội chủ động hơn trong việc sắp xếp,  
về luật thông qua CTXDLPL như hiện nay cần  
được xem xét dưới góc độ bảo đảm quyền hiến  
định của các chủ thể. Theo quy định hiện hành,  
một dự thảo luật, pháp lệnh chỉ chính thức  
được soạn thảo khi đã có tên trong CTXDLPL,  
đồng thời sẽ chỉ được trình ra trước Quốc hội,  
UBTVQH khi dự thảo luật, pháp lệnh đó có tên  
trong CTXDLPL nhiệm kỳ và hàng năm. Vấn  
đề đặt ra là, có phải chỉ khi được “ghi tên” trong  
CTXDLPL thì các chủ thể có quyền mới được  
phép soạn thảo luật, pháp lệnh và ngược lại, khi  
đã có tên trong CTXDLPL thì luật, pháp lệnh  
phải được soạn thảo hay không?  
Soạn thảo luật, pháp lệnh thực chất là việc  
thể hiện chính sách vào trong các văn bản  
luật, pháp lệnh. Việc hoạch định chính sách  
và xây dựng chính sách xuất phát từ nhu cầu  
quản lý của các cơ quan nhà nước và nhu cầu  
7
2010  
Số 13(174) NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP  
I
I 23  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
của xã hội. Vì vậy, nếu coi  
CTXDLPL là căn cứ để các  
chủ thể tiến hành soạn thảo  
luật, pháp lệnh thì trước khi  
gửi đề nghị xây dựng luật,  
pháp lệnh, các chủ thể đã  
phải nhận diện được các vấn  
đề và hoạch định được chính  
sách cho từng dự án, kiến  
nghị. Và nếu coi lần trình  
dự kiến CTXDLPL là trình  
chính sách ra trước Quốc hội  
để Quốc hội quyết định thì  
các quy định liên quan đến  
một loạt các quy trình hiện  
nay về lập dự kiến, thẩm tra,  
trình Quốc hội thông qua là  
không phù hợp. Chẳng hạn  
như, nếu là thông qua chính  
sách đối với từng dự án, Quốc hội phải dành  
thời gian để thảo luận về từng chính sách đó,  
các Ủy ban phải có báo cáo thẩm tra riêng đối  
với từng dự án, kiến nghị được đề xuất, cơ quan  
giải trình cũng không phải là UBTVQH mà  
phải là các cơ quan có quyền trình dự án, kiến  
nghị… Tuy nhiên, kể cả trong trường hợp bổ  
sung các quy định này thì cũng không phù hợp  
với quy định của Hiến pháp. Bởi vì Hiến pháp  
quy định quyền SKLP của các chủ thể là quyền  
trình dự án luật, kiến nghị về luật ra trước Quốc  
hội chứ không phải là trình chính sách về các  
dự án luật, kiến nghị về luật để Quốc hội thông  
qua, trên cơ sở đó mới tiến hành soạn thảo và  
trình Quốc hội trong lần sau.  
Với cách hiểu như trên thì quy trình xây  
dựng luật, pháp lệnh hiện nay được quy định  
trong Luật BHVBQPPL năm 2008 là không  
phù hợp và phần nào hạn chế quyền của các  
chủ thể trong việc thực hiện SKLP của mình.  
Bởi vì, để một dự án luật chính thức được soạn  
thảo và trình lên Quốc hội, trước hết dự án luật  
đó phải có tên trong CTXDLPL. Bước đầu tiên  
của việc xây dựng CTXDLPL là “Cơ quan, tổ  
chức, ĐBQH có quyền trình dự án luật quy định  
tại Điều 87 của Hiến pháp gửi đề nghị xây dựng  
luật, pháp lệnh; ĐBQH gửi kiến nghị về luật,  
pháp lệnh đến UBTVQH...” (Khoản 1, Điều 23,  
Luật BHVBQPPL năm 2008). Luật đưa ra một  
thuật ngữ mới so với Hiến pháp. Đó là đề nghị  
xây dựng luật, pháp lệnh. Xung quanh thuật  
ngữ này có hai vấn đề sau:  
Thứ nhất, các chủ thể không chỉ có quyền  
gửi đề nghị xây dựng luật mà còn có quyền gửi  
đề nghị xây dựng pháp lệnh. Việc bổ sung thêm  
loại văn bản pháp lệnh ở đây theo chúng tôi  
là hợp lý. Bởi vì, hệ thống VBQPPL bao gồm  
nhiều loại văn bản do các cơ quan khác nhau ban  
hành. Một cơ quan có thể ban hành một hoặc  
một số loại VBQPPL. Theo quy định của Luật  
BHVBQPPL thì Quốc hội ban hành luật, nghị  
quyết; UBTVQH ban hành pháp lệnh và nghị  
Quyền trình dự án luật ra trước Quốc hội  
khác gì với quyền gửi kiến nghị về luật, pháp  
lệnh đến UBTVQH?  
Theo nội dung lời văn Điều 87 của Hiến  
pháp năm 1992, quyền trình dự án luật, kiến  
nghị về luật là quyền của các chủ thể trình các  
văn bản đó ra trước Quốc hội. Hiến pháp giao  
cho luật việc quy định thủ tục để các chủ thể có  
thể trình dự án luật, kiến nghị về luật. Điều này  
có nghĩa là, nếu tuân theo đúng thủ tục do luật  
định, các chủ thể sẽ trình được các dự án luật,  
kiến nghị về luật ra trước Quốc hội.  
7
2010  
NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP Số 13(174)  
24 I  
I
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
quyết. Việc bổ sung loại văn bản pháp lệnh vào  
đây là không trái với tinh thần của Hiến pháp.  
Tuy nhiên, việc bổ sung đó là chưa đầy đủ vì  
Quốc hội và UBTVQH đều có thẩm quyền ban  
hành nghị quyết và theo quy định, nghị quyết  
cũng là một loại VBQPPL, vậy tại sao không  
phải là Chương trình xây dựng, luật, pháp lệnh,  
nghị quyết mà  
quyền của các chủ thể thông qua việc sáng tạo  
ra quyền gửi đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh.  
Trình ra Quốc hội hay UBTVQH?  
Theo quy định của Hiến pháp, quyền trình dự  
án luật, kiến nghị về luật là quyền trình ra trước  
Quốc hội. Với việc xây dựng CTXDLPL như  
hiện nay thì các đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh  
và kiến nghị  
chỉ là chương  
về luật, pháp  
trình xây dựng  
luật, pháp lệnh?  
Như vậy, cùng  
lệnh được gửi  
tới UBTVQH.  
Luật còn giao  
U B T V Q H  
là cơ quan  
trình dự kiến  
CTXDLPL. Ở  
đây, UBTVQH  
chỉ là cơ quan  
tổng hợp các đề  
nghị xây dựng  
Hiến pháp quy định cho các chủ thể có quyền  
trình dự án luật ra trước Quốc hội và chỉ giao  
cho Luật quy định về trình tự, thủ tục để các  
chủ thể có thể thực hiện được quyền trình dự  
án luật, pháp lệnh đó ra trước Quốc hội chứ  
không phải là hạn chế quyền của các chủ thể  
thông qua việc sáng tạo ra quyền gửi đề nghị  
xây dựng luật, pháp lệnh  
là  
VBQPPL  
do Quốc hội,  
UBTVQH ban  
hành nhưng có  
loại văn bản  
(luật, pháp lệnh)  
phảicótêntrong  
CTXDLPL thì  
mới được soạn thảo, trình, thông qua; có loại  
văn bản không cần có tên trong CTXDLPL  
cũng vẫn được soạn thảo, trình và thông qua.  
Thứ hai, Hiến pháp quy định quyền của  
các chủ thể là quyền trình dự án luật, đề nghị  
về luật ra trước Quốc hội, trong khi đó, Luật  
BHVBQPPL quy định quyền của các chủ thể  
là quyền gửi đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh,  
kiến nghị về luật, pháp lệnh đến UBTVQH.  
Chúng tôi cho rằng, không thể đồng nhất quyền  
gửi đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh với quyền  
trình dự án luật, pháp lệnh. Bởi vì, xét về bản  
chất, hai khái niệm này khác nhau. Quyền trình  
dự án luật, pháp lệnh là quyền chủ động của  
chủ thể trong việc trình ra trước Quốc hội một  
dự thảo luật đã được chuẩn bị để Quốc hội xem  
xét, quyết định; còn quyền gửi đề nghị xây dựng  
luật, pháp lệnh mang tính chất hỏi ý kiến xem  
có được phép xây dựng dự án luật, pháp lệnh  
theo đề xuất hay không. Điều này không phù  
hợp với quy định của Hiến pháp. Hiến pháp quy  
định cho các chủ thể có quyền trình dự án luật  
ra trước Quốc hội và chỉ giao cho Luật quy định  
về trình tự, thủ tục để các chủ thể có thể thực  
hiện được quyền trình dự án luật, pháp lệnh đó  
ra trước Quốc hội chứ không phải là hạn chế  
luật, pháp lệnh, kiến nghị về luật, pháp lệnh  
của các chủ thể rồi trình lên Quốc hội hay là cơ  
quan có quyền quyết định dự kiến CTXDLPL  
trình Quốc hội? Trong trường hợp là cơ quan  
có quyền quyết định dự kiến CTXDLPL  
trình Quốc hội thì sẽ không lý giải được đối  
với trường hợp UBTVQH vừa là cơ quan có  
quyền gửi đề nghị xây dựng luật (với tư cách là  
một trong những chủ thể có quyền trình dự án  
luật ra trước Quốc hội theo quy định của Hiến  
pháp), vừa là cơ quan có quyền trình dự kiến  
CTXDLPL ra trước Quốc hội và sau đó sẽ là cơ  
quan chủ trì tiếp thu, chỉnh lý CTXDLPL trình  
Quốc hội thông qua.  
Đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh và kiến  
nghị về luật, pháp lệnh có thể bị từ chối hay  
không?  
Luật BHVBQPPL năm 2008 quy định các  
chủ thể có quyền gửi đề nghị xây dựng luật,  
pháp lệnh và kiến nghị về luật, pháp lệnh tới  
UBTVQH. UBTVQH sẽ xem xét đề nghị, kiến  
nghị đó và lập dự kiến CTXDLPL trình Quốc  
hội xem xét, quyết định. Như vậy, trong quá  
trình xem xét, UBTVQH được quy định là cơ  
quan chủ trì và về lý thuyết, UBTVQH có thể  
chấp thuận hoặc không chấp thuận việc đưa một  
7
2010  
Số 13(174) NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP  
I
I 25  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, kiến nghị về  
luật, pháp lệnh vào trong dự kiến CTXDLPL.  
Ngay cả trong trường hợp đề nghị xây dựng  
luật, pháp lệnh, kiến nghị về luật, pháp lệnh có  
tên trong dự kiến CTXDLPLdo UBTVQH trình  
Quốc hội thì đề nghị, kiến nghị đó cũng có thể  
bị gạt ra sau khi Quốc hội cho ý kiến, UBTVQH  
chủ trì chỉ đạo  
về CTXDLPL như hiện nay thì việc bổ sung  
CTXDLPL hay rút khỏi CTXDLPL cũng là  
chuyện bình thường và nên hiểu đó là cách làm  
có trách nhiệm từ phía các chủ thể đề xuất. Bởi  
vì, nếu một dự án luật chưa được chuẩn bị kỹ  
lưỡng nhưng vẫn cứ được trình ra các cơ quan  
của Quốc hội, Quốc hội và theo vòng quay cũng  
sẽ được thông  
các cơ quan  
qua, các dự án  
tiếp thu. Luật  
đó sẽ không  
có chất lượng  
tốt, không đáp  
ứng được yêu  
cầu của xã hội  
cũng như nhu  
cầu quản lý của  
các cơ quan nhà  
nước. Trong khi  
Với việc quy định về CTXDLPL như hiện  
nay, Quốc hội, UBTVQH, các cơ quan khác  
của Quốc hội, thậm chí là ngay cả Chính phủ  
cũng thường xuyên ở trong tình trạng “bếp  
đã bắc; củi, lửa, nồi, xoong sẵn sàng nhưng  
thiếu gạo  
không quy định  
về tiêu chí để  
căn cứ vào đó,  
UBTVQHquyết  
định không đưa  
một đề nghị,  
kiến nghị vào  
trong dự kiến  
CTXDLPL. Trong trường hợp một đề nghị,  
kiến nghị không được đưa vào CTXDLPL do  
UBTVQH trình Quốc hội thì cũng không có  
quy định nào cho phép chủ thể có đề nghị, kiến  
nghị đó một cơ hội nào để bảo vệ đề nghị, kiến  
nghị của mình trước Quốc hội. Như vậy, từ quy  
định của Hiến pháp về quyền trình dự án luật,  
kiến nghị về luật ra trước Quốc hội, thông qua  
quy định về CTXDLPL đã bị hạn chế thành  
quyền gửi đề nghị, kiến nghị ra trước UBTVQH  
và tiếp tục bị hạn chế bởi khả năng có thể bị  
UBTVQH không đưa vào CTXDLPL.  
đó, nếu một dự án chưa có tên trong CTXDLPL  
nhưng bản thân các chủ thể nhận thấy là cần  
thiết và bức xúc thì không có lý do gì không  
bổ sung vào CTXDLPL. Xuất phát từ thực tế  
như vậy và những vấn đề tồn tại như đã trình  
bày ở trên, Luật có nên tiếp tục quy định về  
CTXDLPL nhiệm kỳ và hàng năm?  
Một bất cập nữa liên quan đến hoạt động  
của các cơ quan khi lấy CTXDLPL là trung tâm  
của hoạt động lập pháp là việc Quốc hội, các  
cơ quan của Quốc hội luôn trong tình trạng chờ  
đợi sự tích cực và cảm thông từ phía các chủ  
thể có quyền trình, mà chủ yếu là từ Chính phủ.  
Nói là chờ đợi sự tích cực bởi vì, có những dự  
án luật có tên trong CTXDLPL nhưng thật sự  
chưa cần thiết (hoặc có cần thiết nhưng cũng  
chưa đến mức độ quá bức xúc) thì cũng không  
thể đòi hỏi một tinh thần phấn chấn và hồ hởi từ  
phía các cơ quan được giao chủ trì soạn thảo để  
hoàn thiện dự thảo trình Quốc hội, các cơ quan  
của Quốc hội. Nói là cảm thông vì nếu các dự  
án luật, pháp lệnh không được trình sang theo  
đúng dự kiến, Quốc hội, các cơ quan của Quốc  
hội rất dễ rơi vào tình trạng bị “cháy chương  
trình”, không đủ thời gian vật chất để chuẩn  
bị các công việc theo quy định của luật. Trong  
khi đó, chương trình hoạt động hàng tháng  
của UBTVQH luôn phải chờ đợi xem các chủ  
Những bất cập của việc gắn thủ tục soạn  
thảo luật và thủ tục trình dự án luật, kiến nghị  
về luật với CTXDLPL  
Như trên đã phân tích, với cách quy định  
như hiện nay, CTXDLPL là trung tâm của hoạt  
động lập pháp của Quốc hội, các cơ quan của  
Quốc hội và các chủ thể được phân công trình dự  
án luật, pháp lệnh. Vì vậy, việc đề xuất từ phía  
các chủ thể có quyền để đưa vào CTXDLPL là  
rất quan trọng. Tuy nhiên, thực tế trong những  
năm gần đây cho thấy, việc bổ sung, thay đổi  
CTXDLPL diễn ra khá thường xuyên, thậm chí  
có năm tới 2 - 3 lần. Có dự án xin được rút ra  
khỏi Chương trình do chưa chuẩn bị kịp. Có  
dự án được đề nghị bổ sung vào Chương trình  
do cần thiết và bức xúc. Nếu vẫn giữ quy định  
7
2010  
NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP Số 13(174)  
26 I  
I
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
thể có trình dự án luật đã có trong CTXDLPL  
hay không? Ủy ban được giao nhiệm vụ chủ  
trì thẩm tra có kịp tiến hành thẩm tra không?  
Cũng cần phải hiểu rằng, mặc dù Chính phủ  
là chủ thể trình phần lớn các dự án luật, pháp  
lệnh nhưng bản thân Chính phủ cũng trong tình  
trạng chờ đợi các bộ vì các bộ mới là các cơ  
quan được giao chủ trì soạn thảo. Trong một  
số trường hợp, Chính phủ cũng rơi vào tình  
trạng quá tải đối với việc xem xét cho ý kiến  
các dự án luật, pháp lệnh trước khi trình sang  
Quốc hội, UBTVQH. Với việc quy định về  
CTXDLPL như hiện nay, Quốc hội, UBTVQH,  
các cơ quan khác của Quốc hội, thậm chí là  
ngay cả Chính phủ cũng thường xuyên ở trong  
tình trạng “bếp đã bắc; củi, lửa, nồi, xoong sẵn  
sàng nhưng thiếu gạo”.  
Quốc hội, UBTVQH ban hành sẽ giúp thống  
nhất quy trình trong quá trình soạn thảo, trình,  
cho ý kiến và thông qua.  
Thứ hai, cần tách quy trình soạn thảo luật,  
pháp lệnh/nghị quyết với quy trình thẩm tra,  
cho ý kiến, thông qua. Việc hoạch định chính  
sách, thể hiện chính sách do các chủ thể có  
quyền trình dự án luật, kiến nghị về luật tiến  
hành. Quy trình trình Quốc hội, tiếp thu ý kiến,  
thông qua sẽ được tiến hành theo một trình tự  
riêng. Có như vậy mới bảo đảm quyền trình  
dự án luật, kiến nghị về luật ra trước Quốc hội  
của các chủ thể. Về CTXDLPL, theo chúng tôi,  
vẫn nên giữ CTXDLPL hàng năm nhưng chỉ là  
dự kiến hoạt động lập pháp của Chính phủ. Dự  
kiến CTXDLPL hàng năm của Chính phủ do  
Chính phủ ban hành, có thể có giá trị bắt buộc  
đối với các cơ quan của Chính phủ. Chính phủ  
quyết định việc trình hay không trình một dự án  
ra trước Quốc hội. Đối với các chủ thể khác thì  
việc soạn thảo các văn bản luật, pháp lệnh/nghị  
quyết không cần phải thực hiện theo Chương  
trình. Tuy nhiên, khi bắt đầu xây dựng dự thảo,  
các chủ thể (kể cả Chính phủ) có trách nhiệm  
báo cáo với UBTVQH để UBTVQH chủ động  
dự kiến phân công cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ  
quan phối hợp thẩm tra. Các cơ quan được phân  
công tiếp cận dần với các chính sách, nội dung  
của dự án. Trước mỗi kỳ họp Quốc hội, các chủ  
thể có quyền trình dự án, kiến nghị có trách  
nhiệm gửi dự kiến nội dung liên quan đến hoạt  
động lập pháp sẽ trình ra Quốc hội. Trên cơ sở  
đó, Văn phòng Quốc hội sẽ xây dựng Chương  
trình kỳ họp Quốc hội, đồng thời các cơ quan  
của Quốc hội sẽ tiến hành các hoạt động của  
mình theo luật định.  
4. Hoàn thiện pháp luật bảo đảm thực hiện  
quyền sáng kiến lập pháp của các chủ thể  
có thẩm quyền  
Từ phân tích những bất cập trong việc thực  
hiện SKLP của các chủ thể có thẩm quyền được  
quy định trong Hiến pháp với CTXDLPL được  
quy định trong Luật BHVBQPPL năm 2008,  
xuất phát từ yêu cầu bảo đảm quyền trình dự án  
luật, kiến nghị về luật ra trước Quốc hội của các  
chủ thể nói riêng và quy trình xây dựng luật,  
pháp lệnh nói chung, thì:  
Thứ nhất, cần giới hạn lại các loại VBQPPL  
do Quốc hội, UBTVQH ban hành. Luật  
BHVBQPPL năm 2008 quy định Quốc hội có  
quyền ban hành luật, nghị quyết; UBTVQH  
ban hành pháp lệnh, nghị quyết. Dưới hình thức  
nghị quyết, hiện đang có hai loại là nghị quyết  
mang tính quy phạm và nghị quyết không mang  
tính quy phạm. Chúng tôi cho rằng, nghị quyết  
được ban hành mang tính quy phạm nên thống  
nhất chuyển thành luật. Đối với những vấn đề  
chỉ mang tính khuyến cáo, không có tính bắt  
buộc áp dụng và không có chế tài, Quốc hội  
vẫn có thể ban hành nghị quyết nhưng không  
coi nghị quyết là một loại VBQPPL. Hình thức  
VBQPPL mà UBTVQH ban hành cũng chỉ  
nên giữ lại một hình thức pháp lệnh hoặc nghị  
quyết. Việc giới hạn lại các loại VBQPPL do  
Thứ ba, cần xây dựng một quy trình và các  
bảo đảm để ĐBQH có thể thực hiện quyền kiến  
nghị về luật. Luật hiện hành chỉ quy định về  
trình tự, thủ tục gửi kiến nghị về luật, pháp  
lệnh đến UBTVQH để UBTVQH lập dự kiến  
CTXDLPL trình Quốc hội thông qua. Tuy  
nhiên, khi Quốc hội đã thông qua thì vẫn chưa  
có một quy trình cụ thể về chính sách, tài chính  
và các hình thức hỗ trợ khác để bảo đảm mọi  
điều kiện cho ĐBQH có thể trình dự án luật.  
7
2010  
Số 13(174) NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP  
I
I 27  
pdf 7 trang Thùy Anh 15640 Free
Bạn đang xem tài liệu "Mối quan hệ giữa việc thực hiện sáng kiến lập pháp với chương trình xây dựng luật, pháp lệnh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmoi_quan_he_giua_viec_thuc_hien_sang_kien_lap_phap_voi_chuon.pdf