Áp dụng nghiên cứu định tính cho các nghiên cứu trong lĩnh vực quản trị - Lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn

TẠP CHÍ KHOA HỌC YERSIN – CHUYÊN ĐỀ QUẢN LÝ KINH TẾ  
ÁP DỤNG NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH  
CHO CÁC NGHIÊN CỨU TRONG LĨNH VỰC QUẢN TRỊ  
- LÝ THUYẾT VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN  
Cao Quốc Việt1, Nguyễn Thị Bích Châm2  
Bạch Ngọc Hoàng Ánh3  
TÓM TẮT  
Xuất phát từ những khó khăn của học viên khi  
thực hiện phương pháp nghiên cứu định tính trong  
các luận văn, luận án và các công trình nghiên cứu  
khoa học; bài viết này giới thiệu nghiên cứu định tính  
và các phương pháp chính để áp dụng trong các công  
trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực quản trị. Bài  
viết trình bày các bước thực hiện một nghiên cứu định  
tính áp dụng hướng tiếp cận “lý thuyết nổi lên từ dữ  
liệu - grounded theory”. Đây là hướng tiếp cận phổ  
biến được các nhà nghiên cứu sử dụng để khám phá  
và điều chỉnh mô hình nghiên cứu đề xuất.  
Title: Using qualitative research to  
study in the field of management:  
from theory to practical experience  
Từ khóa: Nghiên cứu định tính, lý  
thuyết nổi lên từ dữ liệu, grounded  
theory  
Keywords: Qualitative research,  
qualitative research  
Lịch sử bài báo:  
ABSTRACT  
Ngày nhận bài: 25/11/2020;  
Ngày nhận kết quả bình duyệt:  
2/12/2020;  
Based on students' difficulties when performing  
qualitative research methods in dissertations, theses  
as well as research papers; our article introduces  
qualitative research and main methods to apply in  
research related to management. The paper presents  
steps for conducting a qualitative research, using the  
approach called ‘’grounded theory”. This is a common  
approach, used by researchers in order to explore and  
adjust the proposed research model.  
Ngày chấp nhận đăng bài: 10/12/2020.  
Tác giả:  
1,2 Trường Đại học Kinh tế TP. HCM  
3 Trường Đại học Yersin Đà Lạt.  
I. Đặt vấn đề  
chưa từng thực hiện một cuộc phỏng vấn sâu  
hay thảo luận nhóm nào. Một số học viên  
chưa biết tại sao phải thực hiện nghiên cứu  
định tính, chưa biết qui trình xử lý dữ liệu  
định tính, không thể giải thích vì sao có được  
số lượng mẫu thu thập như đã báo cáo. Vì  
vậy kết quả nghiên cứu định tính không dựa  
trên dữ liệu đáng tin cậy và giá trị. Một số bài  
báo công bố trong nước cũng trình bày kết  
quả nghiên cứu định tính khá sơ sài.  
1. Giới thiệu chung  
Nghiên cứu định tính xuất hiện khá  
thường xuyên trong các luận văn thạc sĩ,  
luận án tiến sĩ và cả các bài báo công bố trên  
tạp chí khoa học trong nước thời gian qua.  
Các kết quả nghiên cứu định tính xuất hiện  
theo một qui trình lặp lại gần như giống nhau  
giữa các nghiên cứu. Một số học viên chưa  
biết cách thực hiện nghiên cứu định tính,  
Tập 8 (12/2020)  
3
TẠP CHÍ KHOA HỌC YERSIN – CHUYÊN ĐỀ QUẢN LÝ KINH TẾ  
Với mục đích giúp người đọc hiểu thấu  
hiểu vấn đề của con người và xã hội thông  
qua các nhóm và các cá nhân. Theo Creswell  
(2007), năm hướng tiếp cận trong nghiên  
cứu định tính đó là: Nghiên cứu tường thuật  
(Narrative research); Hiện tượng học  
đáo hơn vấn đề này, trong các nội dung tiếp  
theo, hệ thống các phương pháp nghiên cứu  
sẽ được trình bày sơ lược bao gồm phân biệt  
nghiên cứu định tính và định lượng; năm  
hướng tiếp cận trong nghiên cứu định tính.  
Phần trọng tâm của bài viết nằm ở phần áp  
dụng phương pháp GT theo trường phái  
Straussian để xây dựng và phát triển mô  
hình lý thuyết cho nghiên cứu định lượng.  
(Phenomenology);  
Dân  
tộc  
học  
(Ethnography); Nghiên cứu tình huống  
(Case Study) và Lý thuyết “từ dữ liệu”  
(Grounded Theory). Một hướng tiếp cận mới  
trong nghiên cứu định tính có tên gọi  
Netnography do (Kozinets, 2002, 2010,  
2015) đề xuất và sáng lập.  
2.Hệthốngcácphươngphápnghiêncứu  
Nghiên cứu định lượng và nghiên  
cứu định tính  
Hướng tiếp cận theo nghiên cứu tường  
thuật "bắt đầu với những trải nghiệm đã  
diễn ra trong cuộc sống và những câu  
chuyện được kể bởi các nhân vật" (Creswell  
2007, tr.54). Hướng tiếp cận này, theo  
Creswell, được xuất phát từ các lĩnh vực  
như văn chương, lịch sử, nhân loại học  
(anthropology), xã hội học, ngôn ngữ xã hội  
học (sociolinguistics), giáo dục học và tâm lý  
học). Hướng thứ hai nghiên cứu hiện tượng  
học là dạng tổng quát hơn của nghiên cứu  
tường thuật. Những kinh nghiệm sống của  
nhiều cá nhân được mô tả dưới một "khái  
niệm" hay một “hiện tượng”; mục đích của  
nhà hiện tượng học là mô tả hiện tượng ở  
mức độ tổng quát so với từng trải nghiệm  
của cá nhân riêng lẽ; nghiên cứu hiện tượng  
học rất phổ biến trong các ngành khoa học  
xã hội, khoa học sức khỏe, xã hội học, tâm lý  
học, giáo dục học (Creswell, 2007). Nghiên  
cứu dân tộc học là hướng tiếp cận thứ ba  
trong nghiên cứu định tính. Theo hướng  
tiếp cận này "nhà nghiên cứu mô tả và diễn  
giải các kiểu mẫu giá trị đã được học hỏi và  
Nghiên cứu định lượng đứng trên nền  
tảng của phương pháp suy diễn (deductive)1  
trong phương pháp nghiên cứu khoa học.  
Chính vì vậy, “nghiên cứu định lượng  
thường được dùng để kiểm định lý thuyết  
khoa học”(Nguyễn Đình Thọ, 2013, tr.134)  
hoặc “kiểm định các lý thuyết mục tiêu thông  
qua việc xác định mối quan hệ giữa các  
biến…” (Creswell, 2009, tr.4). Nghiên cứu  
định lượng sẽ và chỉ được thực hiện nếu  
như lý thuyết khoa học vừa được khám phá,  
đề xuất hoặc lý thuyết còn nhiều tranh luận  
(còn nhiều kết quả mâu thuẫn, không đồng  
thuận) giữa các nhà nghiên cứu khác nhau;  
ngoài ra lý thuyết cần kiểm định phải gắn  
liền với thực tiễn thị trường (các vấn đề  
đang nổi lên từ thị trường cần nghiên cứu).  
Ngược lại, nghiên cứu định tính đứng  
trên nền tảng của qui trình qui nạp  
(inductive) trong phương pháp nghiên cứu  
khoa học. Creswell (2009) cho rằng nghiên  
cứu định tính mang ý nghĩa khám phá, tìm  
1 Để hiểu rõ hơn về qui trình suy diễn và qui  
nạp, độc giả nên đọc thêm: Nguyễn Đình Thọ.,  
2013. Giáo trình Phương pháp nghiên cứu khoa  
học trong kinh doanh tái bản lần 2., Hồ Chí Minh:  
NXB. Tài Chính  
Hoặc Creswell, J., 2007. Qualitative inquiry  
and research design: Choosing among five  
approaches 2nd ed., Thousand Oaks, CA: Sage  
Tập 8 (12/2020)  
4
TẠP CHÍ KHOA HỌC YERSIN – CHUYÊN ĐỀ QUẢN LÝ KINH TẾ  
chia sẻ, các hành vi, các niềm tin và ngôn ngữ  
Theo Cooney (2010), có hai hướng  
tiếp cận phương pháp GT. Theo hướng  
nguyên thủy (pure grounded theory),  
những người theo đuổi trường phái này sẽ  
tiếp cận các nguồn thông tin (dữ liệu), khai  
phá nó và xây dựng lý thuyết mà không để  
một lý thuyết nào trước đó dẫn dắt và “lý  
thuyết sẽ nổi lên từ quá trình thu thập và  
phân tích dữ liệu” (Saunders & cộng sự.  
2009, tr.521). Đây chính là hướng tiếp cận  
định tính theo trường phái Glaserian. Nếu  
như năm 1967, cả Glaser và Strauss cùng  
nói lên vai trò không quan trọng của lý  
thuyết khi thực hiện nghiên cứu định tính  
thì sau đó hai mươi năm, Strauss (1987),  
Heath (2006) lại cho rằng lý thuyết đóng  
một vai trò rất quan trọng trong nghiên  
cứu định tính. Điều này có nghĩa là nhà  
nghiên cứu phải tổng hợp thật kỹ, thật sâu  
lý thuyết trước khi thực hiện nghiên cứu  
định tính.  
của một nhóm người cùng chia sẻ chung một  
nền văn hóa” (Harris, 1968 dẫn từ Creswell,  
2007, tr.68). Nhà dân tộc học sẽ tìm hiểu ý  
nghĩa của hành vi, ngôn ngữ, và mối tương  
tác giữa các cá nhân trong nhóm văn hóa  
này; dân tộc học được sử dụng trong lĩnh  
vực nhân loại học (anthropology), xã hội  
học. Nghiên cứu tình huống (case study) là  
dạng thứ 4 trong nghiên cứu định tính mà  
nhà nghiên cứu khám phá (vấn đề) ở một  
hay một số trường hợp thông qua quan sát,  
phỏng vấn, các tài liệu và các báo cáo  
(Creswell 2007, Dul  
&
Hak 2008,  
Eisenhardt 1989). Nghiên cứu tình huống  
được áp dụng phổ biến trong các lĩnh vực  
như tâm lý học, dược, luật, khoa học chính  
trị, giáo dục học (Creswell, 2007), quản trị  
(Dul & Hak, 2008), marketing (Woodside,  
2010), kinh doanh và kinh tế học (Yin,  
2003). Ngoài mục đích xây dựng lý thuyết,  
nghiên cứu tình huống còn được sử dụng để  
kiểm định lý thuyết (Eisenhardt, 1989).  
Theo tổng kết của Nguyễn Văn  
Thắng, (2013, tr.117), nghiên cứu định  
tính có thể có bốn mục tiêu chính: Mục tiêu  
thứ nhất là “xây dựng lý thuyết – mô hình”,  
mục tiêu thứ hai “giúp hiểu sâu hơn bản  
chất vấn đề”, mục tiêu số ba “giúp kiểm  
định sơ bộ sự phù hợp của mô hình  
và/hoặc thước (thang) đo” và mục tiêu  
cuối cùng “giải thích cho các kết quả  
nghiên cứu định lượng”. Những nhà  
nghiên cứu hàn lâm thuần túy hoặc loại III  
muốn xây dựng một lý thuyết mới, chưa có  
ai từng thực hiện có thể sẽ theo đuổi mục  
tiêu thứ nhất, thứ hai và họ có thể chọn lựa  
trường phái Glasserian hoặc Straussian.  
Mục tiêu số ba sẽ hỗ trợ tốt cho các nghiên  
cứu lặp lại loại I và II. Cuối cùng, nghiên  
cứu định tính còn có mục tiêu “giải thích  
cho kết quả của nghiên cứu định lượng”.  
Cuối cùng là hướng tiếp cận “lý thuyết  
nổi lên từ dữ liệu” (Grounded Theory, GT)  
trong nghiên cứu định tính. Đây là hướng  
tiếp cận được trình bày chi tiết ở bài báo cáo  
này. Hướng tiếp cận GT được sử dụng phổ  
biến trong các lĩnh vực như xã hội học  
(Glaser & Strauss, 2006); tâm lý học, giáo  
dục học (J. Creswell, 2007); kinh doanh và  
marketing (Goulding 2002, 2005). Nhà  
nghiên cứu tiếp cận hướng GT sẽ khám phá  
các vấn đề đang tồn tại trong lĩnh vực của  
họ. Chính những vấn đề này một khi được  
khai phá sẽ “chuyển hóa” thành lý thuyết  
dưới “tư duy” của các nhà khoa học. Đây  
cũng chính là quan điểm “lý thuyết được xây  
dựng từ dữ liệu” do hai nhà xã hội học  
Glaser và Strauss đặt nền móng.  
Tập 8 (12/2020)  
5
TẠP CHÍ KHOA HỌC YERSIN – CHUYÊN ĐỀ QUẢN LÝ KINH TẾ  
II. Quy trình nghiên cứu định tính sử  
dụng phương pháp GT  
Nếu nhà nghiên cứu chưa có kinh  
nghiệm nghiên cứu định tính, cách tốt nhất  
là chuẩn bị trước bảng câu hỏi xoay quanh  
chủ đề nghiên cứu và nội dung phải tương  
đồng cũng như bám sát câu hỏi nghiên cứu.  
Sau đó, tùy trong từng tình huống mà nhà  
nghiên cứu có thể khai thác sâu hơn người  
được phỏng vấn. Trong nhiều trường hợp,  
nhà nghiên cứu muốn thảo luận với nhóm  
phỏng vấn về sự rõ ràng của các thang đo có  
sẵn (trường hợp nghiên cứu lặp lại sử dụng  
các thang đo đã có trên các thị trường khác).  
Nhà nghiên cứu nên chuẩn bị thêm một  
bảng hỏi bao gồm các thang đo để người  
được phỏng vấn đọc và cho nhận xét của họ.  
2.1 Bước 1: Chuẩn bị  
- Xác định mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi  
nghiên cứu  
- Xác định các cơ sở lý thuyết phù hợp  
- Xây dựng bảng câu hỏi bán cấu  
trúc/cấu trúc  
Trong bước 1, nhà nghiên cứu trước  
hết phải xác định mục tiêu nghiên cứu của  
mình. Nếu nhà nghiên cứu muốn đi từ dữ  
liệu để xây dựng một lý thuyết mới, mục  
tiêu số 1 (xây dựng mô hình, giả thuyết) có  
thể vận dụng trong trường hợp này. Nếu  
nhà nghiên cứu muốn thực hiện nghiên cứu  
lặp lại mở rộng, mục tiêu số 1, số 2 và số 3  
có thể áp dụng.  
2.2 Bước 2: Tiến hành thực hiện  
- Lựa chọn kỹ thuật phỏng vấn: Phỏng  
vấn tay đôi, thảo luận nhóm  
Các dạng mẫu câu hỏi nghiên cứu trong  
nghiên cứu định tính thường thể hiện ở  
dạng mở với từ khóa bắt đầu bằng Cái gì, Ở  
đâu, Như thế nào, Tại sao hoặc Ai. Cái gì,  
Như thế nào và Tại sao là ba từ phổ biến  
nhất khi đặt câu hỏi nghiên cứu trong  
nghiên cứu định tính.  
- Xác định đối tượng tham gia  
- Dự kiến mẫu tham gia  
- Lập kế hoạch phỏng vấn (Thư mời  
phỏng vấn, chủ đề, thời gian, địa điểm, ngân  
sách…)  
- Các công cụ cần thiết (mẫu biểu ghi  
chép, máy ghi âm, máy ghi hình), người hỗ trợ  
Từ câu hỏi nghiên cứu, nhà nghiên cứu  
sẽ chuyển hóa thành câu hỏi điều tra dưới  
dạng bảng câu hỏi phỏng vấn/thảo luận  
nhóm. Không có bất kỳ định dạng mẫu nào  
cho bảng câu hỏi trong nghiên cứu định  
tính. Khi tiến hành nghiên cứu định tính,  
chúng ta cần phải phỏng vấn đối tượng  
tham gia bằng các câu hỏi mở/đóng.  
Saunders & cộng sự (2009) cho rằng nhà  
nghiên cứu có thể không cần phải chuẩn bị  
trước bảng hỏi, khi tiếp xúc với đối tượng  
phỏng vấn nhà nghiên cứu sẽ để họ tự do  
trả lời về các sự kiện, hành vi hoặc niềm tin  
của họ liên quan đến các chủ đề; hoặc nhà  
nghiên cứu chuẩn bị trước bảng câu hỏi  
nhưng linh hoạt điều chỉnh bổ sung trong  
lúc phỏng vấn (đây gọi là bảng câu hỏi bán  
cấu trúc – semi questionnaire).  
- Thực hiện phỏng vấn và xử lý các tình  
huống trong quá trình thực hiện  
Việc lựa chọn kỹ thuật phỏng vấn nào  
tùy thuộc vào chủ đề nghiên cứu và đối  
tượng phỏng vấn. Ví dụ, một nhà nghiên  
cứu muốn nghiên cứu chủ đề “khám phá  
quá trình xây dựng và hình thành chiến lược  
kinh doanh quốc tế của các công ty thủy sản  
khu vực đồng bằng sông Cửu long”, đối  
tượng phỏng vấn phải là những người chịu  
trách nhiệm xây dựng và thực hiện chiến  
lược của các công ty. Họ có thể là Tổng giám  
đốc hoặc giám đốc phụ trách chiến lược…  
Rất khó cho nhà nghiên cứu thực hiện qua  
kỹ thuật thảo luận nhóm vì các lý do như các  
công ty rất ngại chuyện chia sẻ chiến lược  
kinh doanh vì có thể họ đang là đối thủ cạnh  
Tập 8 (12/2020)  
6
TẠP CHÍ KHOA HỌC YERSIN – CHUYÊN ĐỀ QUẢN LÝ KINH TẾ  
tranh của nhau, họ cũng không có nhiều  
Trong quá trình phỏng vấn, ghi âm, ghi  
hình là các công cụ hết sức hữu ích vì nhà  
nghiên cứu cần phải chuyển tải các băng ghi  
âm, ghi hình sang văn bản để thực hiện mã  
hóa và xử lý. Đôi khi, một số đáp viên không  
muốn ghi âm cũng như ghi hình, do đó nhà  
nghiên cứu cần chuẩn bị phương án thay  
thế. Kinh nghiệm là nhà nghiên cứu phải  
luyện kỹ năng tốc ký thật tốt để làm thế nào  
có thể tóm lược hết các ý mà người được  
phỏng vấn trả lời. Một kinh nghiệm nữa là  
đôi lúc nhà nghiên cứu phải thuê người hỗ  
trợ. Có thể thuê hai, ba người tùy vào ngân  
sách nhưng người hỗ trợ phải có kỹ năng  
tốc ký thật tốt để lưu lại các thông tin thu  
thập vào nhật ký phỏng vấn.  
thời gian để nhà nghiên cứu có thể tập hợp  
lại một nhóm để thảo luận. Như vậy, cách  
thức khả thi hơn là phỏng vấn tay đôi, lúc  
này nhà nghiên cứu có thể hẹn gặp riêng ở  
văn phòng làm việc của họ để thực hiện  
phỏng vấn.  
Mẫu trong nghiên cứu định tính là mẫu  
phi xác suất, kích cỡ mẫu phụ thuộc vào  
trạng thái bão hòa thông tin. Vì vậy, nhà  
nghiên cứu không thể biết trước được cần  
bao nhiêu đối tượng phỏng vấn cho nghiên  
cứu. Điều quan trọng nhất ở đây là làm sao  
nhà nghiên cứu có thể biết được điểm “bão  
hòa thông tin”. Đây chính là cách thức lấy  
mẫu dựa theo lý thuyết (theoretical  
sampling). Theo Charmaz (2006, tr.96) “lấy  
mẫu theo lý thuyết nghĩa là tìm kiếm dữ liệu  
thích hợp để phát triển lý thuyết đang nổi  
lên, mục đích chính của lấy mẫu theo lý  
thuyết là để xây dựng và hoàn thiện các  
“thành phần” cấu thành nên lý thuyết. Bạn  
thực hiện lấy mẫu theo lý thuyết để phát  
triển các nội dung của các thành phần cho  
đến khi không còn nội dung mới nào nổi lên”.  
Các “thành phần” ở đây chính là các “khái  
niệm”, lý thuyết được xây dựng dựa trên  
mối quan hệ giữa các “khái niệm”, như vậy  
điểm dừng của thông tin là điểm mà nhà  
nghiên cứu nhận thấy không còn nội dung  
nào của các khái niệm nổi lên. Ở nội dung  
tiếp theo (bước 3) chúng tôi sẽ phân tích  
điều này kỹ hơn qua một nghiên cứu cụ thể  
của nhóm tác giả (Kim &cộng sự (2009))  
Trong nhiều trường hợp, người được  
phỏng vấn quá kiệm lời vì có thể chủ đề  
nghiên cứu quá nhạy cảm (ví dụ như hỏi  
quan điểm của họ về phong cách lãnh đạo  
của cấp trên hay về chất lượng cuộc sống  
trong công việc…), hoặc người phỏng vấn tỏ  
thái độ khó chịu, không hợp tác. Nhà nghiên  
cứu cần khéo léo tôn trọng ý kiến của họ,  
không được ép buộc họ phải hoàn thành  
cuộc phỏng vấn.  
3.3 Bước 3: Phân tích dữ liệu và tổng  
hợp kết quả  
Bước này diễn ra thông qua các nội  
dung chi tiết như sau:  
- Văn bản hóa các nội dung phỏng vấn  
hoặc thảo luận;  
Trước khi thực hiện phỏng vấn, một kế  
hoạch phỏng vấn chi tiết là điều hết sức  
quan trọng. Kế hoạch phỏng vấn nên liệt kê  
rõ các công đoạn cần phải tiến hành như thư  
mời phỏng vấn, ngân sách dự kiến. Trong  
thư mời phỏng vấn có thể phải liệt kê rõ chủ  
đề phỏng vấn, thời gian dự kiến, địa điểm,  
cuối thư phải có các cam kết đảm bảo các  
qui định bảo mật thông tin cho người được  
phỏng vấn.  
- Mã hóa các chủ đề và các nội dung có  
liên quan đến đối tượng nghiên cứu;  
- Phân tích dữ liệu (nhóm các thông tin  
phát hiện mới, các thông tin điều chỉnh, các  
thông tin loại bỏ)  
- Đối chiếu, so sánh kết quả liên tục với  
cơ sở lý thuyết  
- Xác định điểm bão hòa thông tin  
Tập 8 (12/2020)  
7
TẠP CHÍ KHOA HỌC YERSIN – CHUYÊN ĐỀ QUẢN LÝ KINH TẾ  
“Bạn đã đi đâu vào dịp nghỉ lễ? Đi với ai?  
[...], Tại sao bạn chọn loại thức ăn địa  
phương vào dịp nghỉ của bạn?, […] Điều gì  
khiến bạn hài lòng/ bất mãn về thức ăn ở  
địa phương đó?...”. Khi xử lý dữ liệu nhóm  
tác giả đã phân loại các yếu tố tác động  
đến sự lựa chọn thực phẩm làm 3 thành  
phần(categories), trong đó thành phần  
quan trọng nhất là các nhân tố thuộc động  
cơ (motivational factors). Thành phần này  
gồm các nội dung như: “trải nghiệm thú  
vị”, “thoát khỏi thói quen”, “quan tâm sức  
khỏe”,… “cảm giác hấp dẫn”…(Kim & cộng  
sự 2009, tr. 425).  
- Sử dụng phần mềm chuyên dụng cho  
xử lý dữ liệu định tính  
Văn bản hóa các nội dung phỏng vấn  
hoặc thảo luận là qui trình bắt buộc phải  
thực hiện của nhà nghiên cứu. Nếu không  
thực hiện điều này, nhà nghiên cứu sẽ gặp  
rất nhiều khó khăn trong quá trình mã  
hóa và xử lý dữ liệu. Sau khi ghi âm hoặc  
quay video cuộc phỏng vấn/thảo luận,  
nhà nghiên cứu phải nghe/xem lại và  
chuyển toàn bộ nội dung cuộc phỏng vấn  
sang văn bản. Saunders & cộng sự (2009)  
còn đề nghị nhà nghiên cứu phải quan sát,  
nhận biết và thể hiện vào văn bản từng chi  
tiết nhỏ như tiếng thở dài, sự ngập ngừng  
của đối tượng phỏng vấn. Nếu không thể  
ghi âm, ghi hình (vì đáp viên không đồng  
ý), các đoạn ghi chú trong nhật ký phỏng  
vấn phải được thể hiện thành văn bản  
(dưới dạng tóm tắt). Sau khi thể hiện ra  
văn bản, nhà nghiên cứu bắt đầu mã hóa  
dữ liệu. Trở lại ví dụ của nhóm Kim &cộng  
sự. (2009), nhóm tác giả này áp dụng  
phương pháp lý thuyết nền theo trường  
phái Straussian để “xây dựng mô hình tiêu  
dùng thực phẩm địa phương vào các dịp  
lễ hội và ngày lễ”2. Hai mươi người tiêu  
dùng được phỏng vấn để xây dựng mô  
hình. Bảng câu hỏi bán cấu trúc được  
nhóm tác giả sử dụng để phỏng vấn. Trọng  
tâm của bảng câu hỏi xoay quanh vấn đề  
chính: “Làm thế nào đối tượng phỏng vấn  
lựa chọn thức ăn và nước uống tại nơi họ  
đến vào các dịp nghỉ lễ hoặc ngày nghỉ của  
họ”. Các câu hỏi chuẩn hóa (thường xuyên  
được hỏi) khi tiến hành phỏng vấn gồm:  
Về sử dụng phần mềm chuyên dụng  
cho việc xử lý dữ liệu trong nghiên cứu  
định tính, phần mềm nổi tiếng nhất hiện  
nay có thể kể đến QSRNVivo. Gần đây,  
nhóm tác giả Hutchison & cộng sự. (2010)  
công bố bài báo phân tích những ưu điểm  
vượt trội của QSRNVivo trong phân tích  
dữ liệu định tính như tính năng ghi nhớ  
các “thành phần”, các code và khả năng  
tìm kiếm, truy xuất dữ liệu vô cùng mạnh  
mẽ. Hiện tại chúng tôi đang sử dụng phiên  
bản QSRNVivo 10.0, phiên bản mới nhất  
Nvivo 12 - 2020 của nhà cung cấp QSR  
International3 là một phần mềm cực kỳ  
hữu hiệu cho phân tích dữ liệu nếu nhà  
nghiên cứu có quá nhiều dữ liệu cần phân  
tích. Hạn chế lớn nhất của việc sử dụng  
phần mềm này là chi phí mua bản quyền  
phần mềm còn khá đắt (~ $1.847) cho gói  
cá nhân, dùng trong một năm với đầy đủ  
các tính năng.  
2 Kim, Y.G., Eves, A. & Scarles, C., 2009. Building  
a model of local food consumption on trips and  
holidays: A grounded theory approach.  
027843190900005X [Accessed December 8,  
2014].  
3 https://www.qsrinternational.com/nvivo-  
qualitative-data-analysis-  
International Journal of Hospitality  
Management, 28(3), pp.423–431. Available at:  
software/about/nvivo  
http://linkinghub.elsevier.com/retrieve/pii/S  
Tập 8 (12/2020)  
8
TẠP CHÍ KHOA HỌC YERSIN – CHUYÊN ĐỀ QUẢN LÝ KINH TẾ  
Kết quả nghiên cứu định tính  
tiết, cụ thể và đi kèm với báo cáo kết quả  
định tính là dữ liệu minh chứng. Đặc biệt,  
khâu xử lý dữ liệu phải minh chứng được  
quá trình mã hóa và đối chiếu so sánh liên  
tục với lý thuyết. Kết quả tìm được phải  
chứng minh cho người đọc thấy được sự  
đóng góp dù là nhỏ nhất cho lý thuyết khoa  
học. Như vậy, kết quả của nghiên cứu định  
tính không thể tự nhiên xuất hiện như cách  
trình bày trong rất nhiều các luận văn, luận  
án nghiên cứu dạng hỗn hợp (dạng kết hợp  
vừa định tính vừa định lượng) hiện nay,  
cũng như hàng loạt các nghiên cứu dạng  
hỗn hợp được công bố trên các tạp chí  
trong nước. Chúng tôi đề xuất nên tách rời  
nghiên cứu định tính ra khỏi các nghiên  
cứu hỗn hợp để các nhà nghiên cứu thấy  
được tầm quan trọng và vai trò của nghiên  
cứu định tính trong nghiên cứu hỗn hợp.  
Hoặc các nhà nghiên cứu phải trình bày chi  
tiết hơn, có đủ minh chứng hơn cho các  
nghiên cứu định tính. Có như vậy thì chất  
lượng của các công trình nghiên cứu mới  
có thể được tăng lên.  
- Sự kết nối cơ sở lý thuyết và kết quả  
nghiên cứu định tính  
- Đề xuất về mô hình nghiên cứu  
Chúng tôi muốn mượn lại quan điểm  
của Dul & Hak (2008) để nói về kết quả của  
nghiên cứu định tính khi áp dụng phương  
pháp lý thuyết nền: “góp phần vào sự phát  
triển của lý thuyết luôn đòi hỏi sự đóng góp  
của một viên gạch nhỏ vào một tòa nhà lớn”.  
Trở lại ví dụ của Kim & cộng sự (2009),  
trong quá trình xử lý, nhóm tác giả liên tục  
so sánh và đối chiếu kết quả với các nghiên  
cứu trước. Nhóm tác giả Kim &cộng sự  
(2009) đã tìm ra chín nội dung liên quan  
đến thành phần động cơ, bảy nội dung đã  
từng được công bố. Như vậy, hai nội dung  
mới được phát hiện thông qua nghiên cứu  
định tính. Đây là minh chứng cụ thể của  
nghiên cứu lặp lại dạng mở rộng, những gì  
họ phát hiện ra khi đối chiếu với cơ sở lý  
thuyết của các nghiên cứu trước đó chỉ là  
hai nội dung mới trong một thành phần đã  
từng được nghiên cứu. Một mô hình lý  
thuyết được nhóm tác giả đề xuất cho các  
nghiên cứu tiếp theo. Điểm mới duy nhất  
của mô hình này cũng chính là hai nội dung  
mới mà nhóm tác giả vừa khám phá. Kết quả  
này có thể được xem như viên gạch nhỏ  
trong tòa nhà lớn. Kết quả của Kim & cộng  
sự (2009) dừng lại ở đây và đây chính là  
điểm kết thúc của một nghiên cứu định tính  
nhưng nó cũng là khởi đầu cho các nhà  
nghiên cứu khác (ví dụ như nhà nghiên cứu  
định lượng) muốn kiểm định mô hình này.  
Các học viên cao học nên lựa chọn  
nghiên cứu định tính với mục tiêu là kiểm  
định một/nhiều lý thuyết nào đó. Tuy  
nhiên, nghiên cứu sinh phải đặt mục tiêu  
khám phá một/nhiều khái niệm mới, các  
mối quan hệ mới hoặc ít nhất phải bổ sung,  
mở rộng các khái niệm đang còn tranh luận.  
Như vậy, nghiên cứu định theo hướng GT là  
một hướng tiếp cận phù hợp.  
Còn nhiều hướng tiếp cận hữu ích khác  
chưa được đề cập trong báo cáo này ví dụ  
như videography hay netnography (Belk &  
cộng sự, 2012). Đây là những phương pháp  
cực kỳ hữu ích cho nghiên cứu hàn lâm và  
ứng dụng trong lĩnh vực quản trị, kinh  
doanh và marketing hiện nay. Các nhà  
nghiên cứu nên chú ý đến những phương  
pháp vừa đề cập.  
III. Kết luận và đề xuất  
Nghiên cứu định tính dù là áp dụng  
theo phương pháp nào, đáp ứng theo mục  
tiêu nghiên cứu loại nào cũng đều là một  
quá trình nghiên cứu khoa học một cách có  
hệ thống. Vì vậy, nó cần được báo cáo chi  
Tập 8 (12/2020)  
9
TẠP CHÍ KHOA HỌC YERSIN – CHUYÊN ĐỀ QUẢN LÝ KINH TẾ  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Belk, R., Fischer, E., & Kozinets, R. V. (2012).  
the development of a grounded theory  
project: An account of a worked  
example. International Journal of Social  
Research Methodology, 13(4), 283–302.  
Qualitative Consumer and Marketing  
Research (1st ed.). Los Angeles: Sage.  
Charmaz, K. (2006). Constructing Grounded  
Theory:  
A
Practical Guide Through  
Kim, Y. G., Eves, A., & Scarles, C. (2009).  
Qualitative Analysis (1st ed.). London: Sage.  
Building  
consumption on trips and holidays: A  
grounded theory approach.  
International Journal of Hospitality  
Management, 28(3), 423–431.  
a
model of local food  
Cooney, A. (2010). Choosing between  
Glaser and Strauss: an Example. Nurse  
Researcher, 17(4), 18–28.  
Creswell,J.(2007). Qualitativeinquiryandresearch  
design: Choosing among five approaches (2nd  
ed.).ThousandOaks,CA:Sage.  
Kozinets, R. V. (2002). The Field Behind the  
Screen:  
Marketing  
Using  
Netnography  
in  
for  
Online  
Research  
Creswell, J. W. (2009). Research Design  
Qualitative, Quantitative, and Mixed  
Methods Approaches (3rd ed., Vol. 40).  
Communities. Journal of Marketing  
Research, 39(1), 61–72. 5  
Kozinets, R. V. (2010). Netnography . Doing  
Ethnographic Research Online (1st ed.).  
Los Angeles: Sage.  
Dul, J., & Hak, T. (2008). Case study  
methodology in business research (1st  
ed.). Oxford: Butterworth-Heinemann.  
Kozinets, R. V. (2015). Netnography: redefined.  
InIgarss2014 (2nded.).ThousandOaks,CA:  
SAGE Publications Ltd.  
Eisenhardt, K. (1989). Building theories  
from case study research. Academy of  
Management Review, 14(4), 532–550.  
Nguyễn Đình Thọ. (2013). Giáo trình  
phương pháp nghiên cứu khoa học trong  
kinh doanh (Ấn bản lần thứ 2.). Hồ Chí  
Minh: NXB Tài Chính.  
Glaser, B., & Strauss, A. (2006). The  
Discovery of Grounded Theory: Strategies  
for  
Qualitative  
Research.  
New  
Brunswick: Aldine Transaction.  
Nguyễn Văn Thắng (2013). Thực hành  
nghiên cứu trong kinh tế và quản trị kinh  
doanh (Ấn bản lần thứ 1.). Hà Nội: NXB  
Đại học Kinh tế Quốc dân.  
Goulding, C. (2002). Grounded theory: A  
practical guide for management, business  
and market researchers (1st ed.).  
London: Sage.  
Saunders, M., Lewis, P., & Thornhill, A.  
(2016). Research Methods for Business  
Students (7th ed.). Harlow: Prentice Hall.  
Goulding, C. (2005). Grounded theory,  
ethnography and phenomenology:  
A
comparative analysis of three qualitative  
strategies for marketing research. European  
JournalofMarketing, 39(3/4), 294–308.  
Strauss, A. (1987). Qualitative Analysis for  
Social Scientists (1st ed.). New York:  
Cambridge University Press.  
Heath, H. (2006). Exploring the influences  
and use of the literature during a  
grounded theory study. Journal of  
Research in Nursing, 11(6), 519–528.  
Woodside, G. A. (2010). Case Study  
Research: Theory Methods Practice (1st  
ed.). Bingley: Emerald Group.  
Yin, R. K. (2003). Case Study Research:  
Design and Methods (3rd ed.). Thousand  
Oaks, CA: Sage.  
Hutchison, A. J., Johnston, L. H., & Breckon, J.  
D. (2010). Using QSR‐NVivo to facilitate  
Tập 8 (12/2020)  
10  
pdf 8 trang Thùy Anh 17120 Free
Bạn đang xem tài liệu "Áp dụng nghiên cứu định tính cho các nghiên cứu trong lĩnh vực quản trị - Lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfap_dung_nghien_cuu_dinh_tinh_cho_cac_nghien_cuu_trong_linh_v.pdf