Án lệ trong hệ thống pháp luật Liên Bang Nga hiện đại và một số khuyến nghị đối với việc phát triển án lệ ở Việt Nam hiện nay

ÁN LỆ TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT LIÊN BANG NGA HIỆN ĐẠI VÀ  
MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN ÁN LỆ Ở VIỆT NAM  
HIỆN NAY  
TS. Mai Văn Thắng  
TS. Nguyễn Hùng  
Tóm tắt  
Một nền pháp luật với văn hóa pháp luật thành văn (thậm chí là thực chứng Xô  
Viết) và mới đang ở giai đoạn cải cách, hoàn thiện và hội nhập thì có thể có án lệ tốt và  
có vị trí trang trọng không? Xuất phát từ câu hỏi này mà các tác giả muốn nghiên cứu  
kinh nghiệm nước Nga (một quốc gia có nền pháp luật thành văn và có nhiều vấn vương  
với truyền thống pháp luật Xô Viết) để trả lời câu hỏi đó. Bài viết tập trung phân tích các  
nguyên nhân cơ bản thúc đẩy sự hình thành và phát triển, bản chất, vị trí và vai trò của  
án lệ với tư cách là nguồn pháp luật trong hệ thống pháp luật nước Nga hiện đại. Khác  
với nguyên tắc “stare decisis” của án lệ trong Thông luật, án lệ ở Nga là nguồn bổ trợ,  
mang tính chất giải thích pháp lý của hệ thống pháp luật. Ở Nga hiện nay án lệ không  
được trao vị trí chính thức, không được lựa chọn, công bố mà án lệ hiện hữu như một  
loại nguồn nhờ sự khẳng định giá trị, tính thuyết phục, sự vượt trội, hợp lý của những  
quan điểm, giải pháp pháp lý được thể hiện trong các quyết định của các tòa án cấp cao  
và được sử dụng làm căn cứ trong các phán quyết, quyết định của các tòa án cấp dưới  
cho dù án lệ được tạo ra bởi Tòa án Hiến pháp Liên bang trong nhiều trường hợp không  
theo nguyên tắc này vì tính bắt buộc của nó. Trên cơ sở những nghiên cứu về án lệ của  
Liên bang Nga, các tác giả đề xuất một vài khuyến nghị nhằm phát triển án lệ ở Việt Nam  
trong giai đoạn hiện nay.  
Từ khóa: Án lệ, Nga, tòa án, hệ thống pháp luật, án lệ Việt Nam.  
Abstract  
The Article focus on analyzing the fundamental reasons fostering the creation and  
progress, the nature, the position and value of precedent as a source of law within the  
Russian legal system contemporarily. Accordingly, the construction of a state in which  
the rule of law, the democracy, the integration, the recognized of fundamental legal prin-  
ciples such as the court must not deny resolving cases, the guardian of the court to the  
basic human rights as well as citizen rights, the judges do not rely solely on the laws but  
also on their conscience to accomplish the mission of protection of justice, the existence  
of a constitutional federal court, have been considered the main reasons promoting the  
creation of caselaw in Russia in reality at the period after Soviet. However, there is no  
Khoa Luật, Đọc học Quốc gia Hà Nội; ĐT: 0947.055.811; Email: thangmv@vnu.edu.vn  
 Trường Đại học Công nghiệp Việt – Hung, ĐT: 0979085666; Email: [email protected]  
285  
any official legal documents governing precedent in Russia so far. Unlike the "stare deci-  
sis" principle in the Common law system, precedent in Russia only plays an inferior role  
which is a supplement source considered legal interpreting in the system.  
Precedents in Russia are also not granted an official authorization as well as not  
selected or published, instead of that, case laws are the opinions, decisions from the su-  
perior courts which are believed to be trustworthy, outstanding, valuable and appropri-  
ate. These case laws would be cited in the lower courts although some of them which  
were granted by Constitution Federal Court may not follow previously mentioned princi-  
ple because of their own binding rules. The opinions, legal reasonings considered the  
content of the precedents are not the laws.  
Keywords: Precedent, Russia, court, legal system, source of law.  
1. Đặt vấn đề  
Đã có nhiều nghiên cứu về án lệ ở nước ta. Tuy vậy, trong số nhiều những công  
trình đó, rất ít có những nghiên cứu về bản chất, vị trí và vai trò của án lệ trong hệ thống  
pháp luật của các quốc gia đang chuyển đổi, đặc biệt là ở những nơi từng hiện diện hệ tư  
tưởng, ý thức và văn hóa pháp luật Xô Viết.  
Thiết nghĩ, nghiên cứu những vấn đề liên quan đến quan niệm, bản chất, vị trí vai  
trò và cách thức áp dụng án lệ trong hệ thống pháp luật của những quốc gia đó rất ý nghĩa  
với Việt Nam hiện nay cả trên phương diện lý luận cũng như thực tiễn. Bởi ở một góc độ  
nào đó, các điều kiện công nhận, vận dụng án lệ có nhiều nét tương đồng với Việt Nam  
trong bối cảnh hiện nay. Chúng ta cần hiểu cách nhận thức và ứng xử với án lệ ở những  
nơi mà văn bản quy phạm pháp luật là nguồn pháp luật quan trọng nhất, đáng tin và thậm  
chí là độc tôn nhất để chuyển hóa đường lối lãnh đạo của đảng cầm quyền từng là (và  
thậm chí vẫn đang hiện hữu trong nhận thức thực tế của người dân và công quyền) [1];  
nơi mà niềm tin về tính chuyên nghiệp, sự công tâm, công lý và sự độc lập của thẩm phán  
nói riêng và hệ thống tư pháp nói chung từng như là một thứ gì đó vô cùng xa xỉ; và là  
nơi mà thẩm phán từng được coi là quan chức hành chính được phân công xét xử với  
nhiệm vụ then chốt là bảo vệ chế độ, bảo vệ của công hơn là bảo vệ công lý, quyền, lợi  
ích hợp pháp của con người, công dân…  
Vì vậy, bài viết này tác giả tập trung nghiên cứu một số vấn đề liên quan đến quan  
điểm, bản chất, vị trí, vai trò và cách thức áp dụng án lệ trên thực tế ở nước Nga hiện nay  
để từ đó, một mặt, bổ sung cho những nghiên cứu còn khá ít ỏi về án lệ ở những quốc gia  
chuyển đổi, mặt khác, đưa ra những phân tích về cách tiếp cận, bản chất, cũng như những  
điều kiện hình thành và phát triển của án lệ ở nước Nga hiện nay và từ đó học giả có thể  
nhận diện, tiếp cận so sánh với những gì đang được nhận thức và vận dụng ở nước ta hiện  
nay và đề xuất những khuyến nghị nâng cao vị thế, vai trò của án lệ và hoàn thiện án lệ  
của Việt Nam hiện nay.  
2. Những nguyên nhân cơ bản hình thành và phát triển án lệ ở Liên bang Nga  
Hiện nay, ở Nga không có một văn bản pháp luật chính thống nào khẳng định án  
lệ là nguồn pháp luật trong hệ thống pháp luật quốc gia. Nhưng trên thực tế án lệ đã được  
286  
áp dụng, thừa nhận, đặc biệt trong những năm gần đây. Có lẽ vì thế mà giới học thuật vẫn  
còn tranh luận sôi nổi về bản chất, đặc điểm, vị trí của án lệ trong hệ thống nguồn luật  
của nước Nga hậu Xô Viết.483 Tuy nhiên, dù còn nhiều tranh luận, thực tế án lệ đã hiện  
hữu như là nhu cầu và quy luật tất yếu của cuộc sống nước Nga hiện đại.  
Theo tác giả, những nguyên do cơ bản đến sự hình thành và phát triển của án lệ  
trong hệ thống pháp luật Liên bang Nga hiện nay bao gồm:  
Thứ nhất, nếu như trước đây, tòa án có quyền từ chối thụ lý vụ việc khi không có  
luật quy định, thì nay pháp luật Liên bang Nga ghi nhận rõ hai nguyên tắc cơ bản: 1)  
“Đảm bảo sự bảo vệ của tòa án đối với quyền và tự do của mỗi người”484 [2]và 2) “Việc  
từ chối thực hiện quyền tiếp cận tòa án không có giá trị pháp lý”.485[3]  
Như vậy, với những nguyên tắc này, tòa án không thể không giải quyết vụ việc chỉ  
vì lý do thiếu luật và người dân được đảm bảo quyền được bảo vệ của tòa án. Không có  
luật tòa án có nghĩa vụ tìm mọi phương tiện pháp lý khác để thực hiện nhiệm vụ, sứ mệnh  
của mình. Trong điều kiện này, việc đa dạng hóa các loại nguồn pháp luật vô cùng cấp  
thiết, trong đó đương nhiên có án lệ như là loại nguồn phổ biến trong thế giới hiện đại  
cần được tính đến trước tiên.  
Thứ hai, khi thực hiện nhiệm vụ xét xử, thẩm phán không chỉ đơn thuần áp dụng  
luật mà còn được phép dựa vào niềm tin nội tâm (khi giải thích và đưa ra các quan điểm  
pháp lý) và lương tâm của chính mình. Đây là điều mới ở Nga so với các giai đoạn lịch  
sử trước đó.  
Theo Khoản 1 Điều 17 Bộ luật Tố tụng Hình sự Liên bang Nga: “Thẩm phán, bồi  
thẩm, cũng như kiểm sát viên, điều tra viên, người được giao một số hoạt động điều tra,  
đánh giá chứng cứ theo niềm tin nội tâm của mình trên cơ sở tất cả các chứng cứ có trong  
vụ án hình sự và được chỉ dẫn bởi luật và lương tâm”.486 Ngoài ra, tương tự như vậy, Bộ  
Luật Liên bang về Tố tụng trọng tài năm 2002 cũng cho phép thẩm phán dựa trên niềm  
tin nội tâm khi xét xử vụ việc.487 [4]  
Rõ ràng, hệ thống quy phạm pháp luật không phải lúc nào cũng hoàn thiện, miễn  
nhiễm với những lỗ hổng pháp lý, chồng chéo và bất cập. Luật thành văn là công cụ hữu  
hiệu nhưng không toàn năng và không thể phản ứng linh hoạt và kịp thời với thời cuộc do  
quy trình lập pháp cần phải tuân thủ. Luật pháp được tạo nên bởi ngôn ngữ mà bản chất  
của ngôn ngữ là trừu tượng, phong phú, đa dạng về ngữ cảnh, nội hàm… và đôi khi lại vô  
cùng hạn hẹp. Chủ thể áp dụng nó cũng có những trình độ nhận thức, lợi ích, sự tác động  
khác nhau để có phương thức, cách hiểu và vận dụng khác nhau. Nhưng dù thế nào đi  
483 Trong khoa học pháp lý Nga, hiện có 2 luồng quan điểm rất rõ: coi án lệ là nguồn pháp luật và phản đối.  
484 Nguyên văn tiếng Nga “Каждому гарантируется судебная защита его прав и свобод”  
485 Nguyên văn tiếng Nga: “Отказ от права на обращение в суд недействителен.”  
486  
Nguyên văn tiếng Nga Khoản 1 Điều này như sau: “Судья, присяжные заседатели, а также прокурор,  
следователь, дознаватель оценивают доказательства по своему внутреннему убеждению, основанному на  
совокупности имеющихся в уголовном деле доказательств, руководствуясь при этом законом и совестью.”  
487Nguyên văn tiếng Nga: “Арбитражный суд оценивает доказательства по своему внутреннему убеждению,  
основанному на всестороннем, полном, объективном и непосредственном исследовании имеющихся в деле  
доказательств”  
287  
chăng nữa thì công lý (cái đích cuối cùng của luật pháp) cũng cần phải được bảo đảm và  
thực thi. Trong trường hợp ấy, để có được công lý thì không thể loại trừ lương tâm và  
niềm tin nội tâm của thẩm phán. Không có luật hoặc luật không rõ ràng, đa nghĩa thì  
dùng đến niềm tin nội tâm, lương tâm của thẩm phán bởi họ có trách nhiệm cá nhân trong  
việc bảo vệ công lý. Chánh án Tòa án Hiến pháp Liên bang Nga V.D. Zorkin từng nói:  
“Sự chuyên nghiệp và trong sạch. Đó là những gì rất quan trọng. Nhưng, những cái khác  
cũng rất cần thiết. Nếu chỉ là sự chuyên nghiệp và trong sạch, thẩm phán sẽ không phải là  
con người” [5]  
Như vậy, với lương tâm và niềm tin nội tâm, trong những trường hợp không có  
luật, thẩm phán hoàn toàn có thể bằng kinh nghiệm, hiểu biết của mình để đưa ra một  
“quan điểm pháp lý” phù hợp và đáng để các thẩm phán khác noi theo và cứu cánh khi  
không có luật hoặc luật có vấn đề… và đương nhiên giải pháp, quan điểm pháp lý đó phải  
phù hợp với các nguyên tắc pháp lý cơ bản hiện hành.  
Thứ ba, án lệ góp phần đảm bảo tính thống nhất, thượng tôn pháp luật trong thực  
tiễn tư pháp. Điều này tưởng chừng vô lý, nhưng lại vô cùng có lý ở Nga. Bởi lẽ, pháp  
luật hiện hành cho phép thẩm phán dựa trên niềm tin nội tâm khi giải quyết vụ việc và  
đương nhiên điều này có thể dẫn tới tình trạng lộn xộn của hệ thống tư pháp, sự lạm dụng  
của thẩm phán nói riêng và tư pháp nói chung khi xét xử. Trong trường hợp ấy, án lệ là  
cần thiết và quan trọng cho một sự thống nhất, nhất quán áp dụng pháp luật trong thực  
tiễn xét xử và đảm bảo nguyên tắc pháp quyền (thượng tôn pháp luật). Bởi án lệ ở những  
quốc gia không có truyền thống án lệ thông thường là những quyết định của tòa án có  
thẩm quyền (cấp cao) về những vấn đề cần có giải pháp pháp lý mới chưa được nhận  
thức, hiểu thống nhất hoặc chưa được luật quy định.  
Thứ tư, sự hiện diện của Tòa án Hiến pháp Liên bang và tính chất đặc biệt của các  
quyết định của thiết chế này.  
Tòa án Hiến pháp Liên bang Nga ra đời cùng với sự xuất hiện của nhà nước Liên  
bang Nga thời kỳ hậu Xô Viết. Đây là thiết chế hiến định có chức năng quan trọng nhất là  
bảo hiến bằng việc ra quyết định tuyên bố một văn bản vi hiến. Ngoài ra, Tòa án Hiến  
pháp Liên bang còn giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền ở cấp độ Liên bang, giải  
thích Hiến pháp, công nhận vi hiến một văn bản khi áp dụng vào một trường hợp cụ thể  
và đưa ra kết luận về việc luận tội Tổng thống Liên bang về tội phản bội Tổ quốc và các  
tội đặc biệt nghiêm trọng khác.488  
Khi thực hiện thẩm quyền của mình, Tòa án Hiến pháp thường căn cứ vào việc  
giải thích các nguyên tắc hiến định. Các quan điểm pháp lý ẩn chứa trong các quyết định  
của Tòa án này thường là những giải pháp mẫu mực và có giá trị bắt buộc trên toàn lãnh  
thổ Liên bang. Trong rất nhiều trường hợp, những quan điểm pháp lý này được dẫn chiếu  
trực tiếp để giải quyết các trường hợp cụ thể. Đa phần các quyết định của cơ quan này  
đều hướng đến các chủ thể đặc biệt (lập pháp, hành pháp) chứ ít mang tính cá biệt nhưng  
thông qua vụ việc cụ thể và lại có giá trị áp dụng nhiều lần và bắt buộc chung. Không  
488 Xem Điều 125 Hiến pháp Liên bang Nga 1993: http://www.constitution.ru/10003000/10003000-9.htm.  
288  
phải mọi quyết định của thiết chế này chứa quy phạm mà đa phần là chứa đựng “quan  
điểm pháp lý” như là những giải pháp pháp lý hợp lý và mẫu mực. Các văn bản này có  
giá trị áp dụng cho các tòa án và thậm chí các chủ thế khác.  
Một điểm quan trọng khác là ở Nga cho tới nay không hề có một đạo luật Liên  
bang quy định về các văn bản quy phạm pháp luật.489 Do đó, khó có thể xếp loại nhiều  
quyết định của Tòa án hiến pháp Liên bang này vào loại văn bản quy phạm pháp luật của  
Nga. Nhưng có điều các quyết định ấy được sử dụng làm nguồn quan trọng giải quyết các  
vụ việc của hệ thống tòa án một cách chính thức và công khai. Điều này khiến việc sự  
thừa nhận án lệ trong thực tiễn pháp lý ở Nga càng trở nên cấp thiết.  
Thứ năm, phân quyền, độc lập tư pháp và hội nhập.  
Khi bàn đến phân quyền rất nhiều học giả cho rằng, nếu trao cho thẩm phán quyền  
tạo lập và sử dụng án lệ trong xét xử sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguyên tắc  
pháp quyền bởi một trong đặc điểm cơ bản của nó là sự phân quyền. Tuy nhiên, ở Nga,  
vấn đề lại khác. Trước kia, nhà nước Xô Viết vận dụng mô hình tập quyền và điều này đã  
làm mờ nhạt quyền tư pháp, thậm chí không có cả khái niệm “quyền tư pháp” trong tư  
duy pháp lý và chính trị Xô Viết. Ở trong chế độ đó, một hệ thống cơ quan làm nhiệm vụ  
xét xử và các thẩm phán cũng như hội thẩm nhân dân được thiết lập bằng con đường  
chính trị mà ít để ý đến phẩm chất, năng lực và sự chuyên nghiệp. Vị trí, vai trò của thẩm  
phán trong xã hội không lớn, họ bị nghi ngờ về tính độc lập và trình độ chuyên môn.  
Thẩm phán chỉ có quyền “đọc luật” và giải thích pháp luật để vận dụng trong trường hợp  
cụ thể mà thôi. Trong bối cảnh đó, thật khó để giới cầm quyền có thể tin tưởng trao cho  
tòa án quyền tạo lập án lệ chứ chưa bàn tới việc không nên hay không thể trao quyền này  
cho thẩm phán.490  
Ngày nay, nước Nga tuyên bố xây dựng một chính thể với sự phân chia quyền lực  
thành quyền lập pháp, quyền tư pháp và quyền hành pháp.[6] Các nhánh quyền lực độc  
lập với nhau, được trao quyền và vì vậy các nhánh quyền trở nên cân bằng và thực quyền,  
trong đó có quyền tư pháp. Hệ thống những đảm bảo sự độc lập của tư pháp và cho từng  
thẩm phán được ghi nhận, thực thi đã giúp cho uy tín, địa vị của họ được khẳng định. Về  
chuyên môn, họ trở thành những chuyên gia, am hiểu luật nhất, đặc biệt là sự vận hành  
pháp luật trong đời sống thực tiễn.  
Phân quyền không đồng nghĩa với sự phân quyền tuyệt đối và cũng không ở đâu  
có phân quyền tuyệt đối. Xây dựng quy phạm pháp luật không chỉ là việc của cơ quan  
dân cử (Quốc hội), mà cả hệ thống chính quyền. Chưa bàn đến sự tham gia của các thiết  
chế khác vào các công đoạn khác nhau của quá trình lập pháp, hoạt động giải thích pháp  
luật của các cơ quan hành pháp cũng tạo ra hệ thống các quy phạm pháp luật dưới luật.  
Vậy tại sao tòa án lại không thể? Thực tế là đã có và phổ biến. Nhưng, không chỉ tạo các  
489 Ở Cộng hòa Belarus và Việt Nam có văn bản này. Một đạo luật quy định về bản chất, đặc điểm, các loại văn bản  
quy phạm pháp luật và quy trình, điều kiện làm ra các văn bản đó. Ở Belarus đã cố gắng “nhét” loại văn bản này vào  
văn bản quy phạm pháp luật dù bản chất không phải lúc nào cũng thỏa mãn.  
490 Không nên trao là bởi sợ có sự lạm dụng khi cơ chế kiểm soát quyền lực còn khá kém cỏi và sợ không đúng với  
đường lối.  
289  
quy phạm, trong rất nhiều trường hợp khi không có quy phạm (hoặc nhận thức không  
thống nhất) để bảo vệ công lý, thẩm phán đã lập luận cho phán quyết của mình bằng  
những quan điểm pháp lý mới với những giải pháp pháp lý rất chuyên nghiệp, hợp lý,  
mẫu mực và được thừa nhận rộng rãi trong giới và có thể trở thành mẫu cho họ. Ở Nga  
hiện nay đã tồn tại thực tế như thế.  
Ngoài ra, xu thế hội nhập trên thế giới là không thể đảo ngược. Quá trình hội nhập  
và toàn cầu hóa làm cho việc tiếp nhận, ảnh hưởng lẫn nhau của các dòng họ, truyền  
thống pháp luật dễ dàng hơn bao giờ hết và tựa như là một nhu cầu khách quan, tất yếu.  
Tiếp thu và áp dụng các phán quyết của các thiết chế tài phán quốc tế là bắt buộc trong  
nhiều trường hợp ở Nga hiện nay.  
Thứ sáu, sự ưu việt của án lệ trong xã hội hiện đại  
Trên thực tế, ở Nga ngày nay cũng như ở Liên Xô trước kia, khi cần áp dụng  
thống nhất pháp luật, Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao cũng có thể ban hành văn bản  
hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật. Đây là sản phẩm của truyền thống pháp luật  
mang màu sắc chủ nghĩa thực chứng Xô Viết. Tuy nhiên, có thể khẳng định rằng, văn bản  
hướng dẫn này so với án lệ có nhiều điểm hạn chế. Văn bản này không thể đưa ra những  
hướng dẫn chống lại văn bản luật (có giá trị pháp lý cao hơn) mà là tổng kết thực tiễn và  
đưa ra cách giải quyết chung trong những trường hợp còn có ý kiến khác nhau và tòa cấp  
dưới buộc phải tuân theo. Án lệ thì khác. Trên thực tế, các quan điểm pháp lý là nội dung  
của án lệ được ẩn chứa trong mỗi quyết định, phán quyết của tòa án cấp cao có khả năng  
chống lại (xung đột) văn bản luật. Ví dụ về án lệ được dẫn ra dưới đây đã chứng minh  
cho điều đó. Tuy nhiên, những quan điểm pháp lý mới đó có thể chống lại luật nhưng  
không chống lại Hiến pháp bởi quan điểm mới đó dựa trên tinh thần và nội dung của các  
nguyên tắc pháp lý cơ bản đã được hiến định.  
Ngoài ra, án lệ cũng hấp dẫn bởi những lập luận và tính thuyết phục của nó khi  
thẩm phán hoặc cơ quan có thẩm quyền luận giải để đưa ra quan điểm pháp lý đó. Khác  
với văn bản hướng dẫn, án lệ không phải lúc nào cũng có tính áp đặt cứng nhắc. Án lệ  
còn hấp dẫn bởi tính mới, sự cụ thể, chi tiết và thực tiễn sinh động vốn có của thực tiễn  
xét xử.  
Như vậy, có thể khẳng định, những điều kiện trên đã góp phần thúc đẩy sự ra đời  
của án lệ như là một hiện tượng pháp lý tất yếu và trở thành nguồn pháp luật trong hệ  
thống pháp luật Nga hiện nay, dù chưa có một văn bản pháp lý nào chính thức ghi nhận  
điều này.  
3. Bản chất, vị trí và vai trò của án lệ ở Nga  
Như đã đề cập, án lệ ở Nga là một loại nguồn đã được thực tế thừa nhận mà không  
cần có một sự “cấp phép” nào từ văn bản quy phạm pháp luật. Đó cũng là điều dễ hiểu,  
bởi bản thân văn bản nào là văn bản quy phạm pháp luật ở Liên bang Nga cho đến nay  
vẫn chưa có một sự xác định rõ ràng về mặt pháp lý,491 nhưng các văn bản ấy vẫn được  
491  
Ở Nga chưa có Luật về văn bản quy phạm pháp luật như Việt Nam. Đã có dự luật như thế được làm trong thời  
290  
áp dụng thực tế và là trụ cột của đời sống pháp luật nước Nga cả trong quá khứ lẫn hiện  
tại.  
Khảo cứu án lệ ở Nga, xét trên phương diện bản chất, vị trí và vai trò, có thể chỉ ra  
mấy đặc điểm cơ bản sau của án lệ trong hệ thống pháp luật Nga như sau:  
a)  
Án lệ của Nga không tuân theo nguyên tắc “stare decisis” của án lệ trong  
truyền thống Thông luật.  
Truyền thống pháp luật chuyển đổi và đang trên đường trở lại họ pháp luật châu  
Âu lục địa ở Nga không chấp nhận mô hình án lệ kiểu Anh với nguyên tắc phán quyết  
phải được tuân thủ như tiền lệ. Trên thực tế, án lệ của Nga là mô hình án lệ mang tính  
chất giải thích, bổ sung và khỏa lấp những bất cập của các văn bản quy phạm pháp luật.  
Tính chất này có nhiều điểm tương đồng với nguyên tắc “Jurisprudence constante” của án  
lệ ở Pháp, nơi mà án lệ cũng không theo mô hình Anh mà dựa trên tính chất và giá trị  
thuyết phục của các bản án. [7] Tuy nhiên, những quyết định của Tòa án Hiến pháp Liên  
bang trong nhiều trường hợp không theo nguyên tắc này bởi tính chất bắt buộc chung của  
nó.  
Có thể đương cử một ví dụ về tính kháng luật và sự thuyết phục của những lập  
luận trong bản án được áp dụng trên thực tế như là một án lệ ở Nga như sau: Theo Quyết  
định số 40-А08-1207 của Tòa án Tối cao Liên bang về việc giữ nguyên không thay đổi  
nội dung phán quyết của Tòa án tỉnh Chelyabisk số 2-2373/2008 về vụ việc, công dân  
Nga khởi kiện cơ quan đăng ký quyền sở hữu bất động sản đã từ chối đăng ký quyền bất  
động sản của mình.  
Sơ lược nội dung như sau: Một công dân Nga, đã đến cơ quan đăng ký quyền bất  
động sản và các giao dịch gắn liền với bất động sản đề nghị đăng ký quyền sở hữu đối  
với bất động sản mà ông đang ở và có quyền sở hữu trên thực tế. Tuy nhiên, sau khi xem  
xét quy định của Luật đăng ký quyền đối với bất động sản và các giao dịch liên quan,492  
chuyên viên đăng ký đã từ chối với lý do là theo Khoản 5 Điều 18, công dân phải cung  
cấp 02 bản gốc giấy tờ liên quan đến quyền sở hữu đất đai của chủ cũ và các giấy tờ  
chính khác về cấp phép xây dựng, hợp đồng xây dựng… (một bản sẽ được trả lại sau khi  
thực hiện xong việc đăng ký). Tuy nhiên, công dân không có giấy tờ đó mà chỉ có thể  
trình được bản chứng thực của Phòng công chứng hợp đồng với chủ cũ về quyền xây  
dựng trên bất động sản từ năm 1935 và Giấy chứng nhận của Phòng công chứng về việc  
giấy tờ gốc đang được lưu ở Lưu trữ ở Phòng công chứng. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 20  
Luật này, chuyên viên đăng ký đã từ chối tiếp nhận hồ sơ.  
Chiếu theo các điều khoản và giải thích về mặt từ ngữ thì công dân không thể thực  
hiện các hoạt động để xác lập quyền sở hữu đối với bất động sản mà trên thực tế ông đã  
xác lập từ rất nhiều năm nay. Việc nhận lại các giấy tờ gốc theo yêu cầu là điều không thể  
cũng như việc yêu cầu tòa án công nhận quyền sở hữu cũng không thể theo quy định. Để  
đòi quyền lợi của mình, ông khởi kiện ra tòa. Năm 2008, tòa án tỉnh Chelyabisk, Nga đã  
492  
Tên tiếng Nga: Федерального закона от 21 июля1997 г. № 122-ФЗ «О государственной регистрации прав  
на недвижимое имущество и сделок с ним»  
291  
ra quyết định công nhận việc từ chối đăng ký với các lý do trên là bất hợp pháp và cho  
rằng, về mặt ngữ nghĩa và hình thức thì đúng, nhưng quy định của Luật trái với các  
nguyên tắc pháp lý phổ quát là nguyên tắc hợp lý và công bằng.493 Sau khi xem xét, Tòa  
án tối cao Liên bang đã đồng tình với lập luận của Tòa án tỉnh Chelyabisk và bằng Quyết  
định số 40-А08-1207 năm 2009, đã giữ nguyên phán quyết sơ thẩm, đồng thời làm rõ  
thêm những quan điểm pháp lý của trường hợp này. Điều đặc biệt là sau đó rất nhiều vụ  
việc đã được áp dụng theo và cuối cùng nó là cơ sở để ban hành Luật mới thay thế Luật  
đăng ký quyền đối với bất động sản và các giao dịch liên quan năm 1997.494  
Đây chưa phải là những vụ việc có tính chất điển hình, nhưng là một trong những  
vụ việc cho thấy sức lan tỏa của quyết định tòa án và bằng sự hợp lý của những lập luận  
của mình nó trở thành tiền lệ cho các tòa án cấp dưới tuân theo và buộc các nhà lập pháp  
phải thay đổi luật bất hợp lý nêu trên.495  
Ngoài ra, tiêu biểu nhất để lấy các ví dụ cho các án lệ ở Nga là các quyết định của  
Tòa án Hiến pháp Liên bang. Các quyết định này có tính chất đặc biệt, bởi nó vừa không  
phải là các văn bản áp dụng pháp luật đơn thuần nhưng cũng không được thừa nhận là  
các văn bản quy phạm pháp luật. Thông qua vụ việc cụ thể tòa án Hiến pháp Nga đã ban  
hành các quyết định mà trong đó luôn chứa các “quan điểm pháp lý” thể hiện quan điểm  
chính thống của Tòa án Hiến pháp (tư tưởng hiến pháp chính thống). Các quan điểm pháp  
lý đó không thể và không có chức năng hủy, bổ sung, thay thế văn bản pháp luật mà chỉ  
công nhận văn bản bất hợp hiến, không còn được áp dụng, nhưng khác với văn bản thông  
thường khác, các quan điểm pháp lý thể hiện trong các quyết định ấy có tính bắt buộc  
chung, giá trị áp dụng nhiều lần, cho nhiều đối tượng. [8] Những quyết định đó không tạo  
ra quy phạm mới và chỉ là giải pháp pháp lý, quan điểm pháp lý và mang tính giải thích  
hiến pháp (đặc biệt là các nguyên tắc pháp lý phổ quát được ghi nhận trong Hiến pháp).  
Các quyết định này là cơ sở và được vận dụng nhiều vào trong các quyết định của hệ  
thống tòa án ở Nga khi giải quyết các vụ việc cụ thể. Ngoài ra, dù xuất phát từ yêu cầu,  
vụ việc cụ thể, nhưng, như đã đề cập, các “quan điểm pháp lý” thể hiện tư tưởng hiến  
pháp của Tòa án Hiến pháp Nga không chủ đích nhắm đến chủ thể cụ thể mà là nhắm tới  
các chủ thể hành pháp và lập pháp nói chung, thậm chí tới cả hệ thống tư pháp trong hoạt  
động xét xử. [9]  
Rõ ràng, các quan điểm pháp lý được thể hiện trong các quyết định của Tòa án  
Hiến pháp Liên bang không phải là quy phạm pháp luật mà là giải pháp, quan điểm pháp  
lý thể hiện triết lý, tư tưởng hiến pháp ở Liên bang Nga. Nó có tính chất bắt buộc, được  
áp dụng rộng rãi và được các thẩm phán sử dụng để giải quyết các vụ việc liên quan,  
không trái với pháp luật mà dựa trên tinh thần của Hiến pháp và các nguyên tắc phổ quát  
của pháp luật – nghĩa là đảm bảo tính thượng tôn của pháp luật. Các quan điểm pháp lý  
này được coi là một loại án lệ kiểu Nga và có nhiều điểm tương đồng với một số nước  
493 Các nguyên tắc trong tiếng Nga: Принцип разумности и справедливости.  
494  
Luật mới nhất được ban hành năm 2015 với tên gọi: Luật đăng ký bất động sản:  
495  
Dù có nhiều ý kiến không đồng tình với quan điểm đó, nhưng thực tế nó đã được vận dụng và là tác nhân quan  
trong buộc phải làm luật mới về lĩnh vực này.  
292  
thuộc hệ thống pháp luật châu Âu lục địa.[10] Vậy nên, án lệ kiểu này không chỉ có tính  
thuyết phục mà còn có tính bắt buộc trong rất nhiều trường hợp.  
b) Án lệ ở Nga không phải là nguồn pháp luật chủ đạo mà là nguồn pháp luật bổ  
trợ, nguồn thứ cấp trong hệ thống pháp luật Liên bang Nga trong thực tiễn.  
Phân tích các quyết định của Tòa án Hiến pháp Liên bang, cũng như các quyết  
định của Tòa án tối cao Liên bang và Tòa án trọng tài Liên bang,496 có thể thấy trong bối  
cảnh của truyền thống pháp luật Nga, án lệ có vị trí và vai trò khá khiêm tốn. Nhiệm vụ  
cơ bản của các phán quyết, quyết định của tòa án không phải là sáng tạo quy phạm mà là  
áp dụng và giải thích các quy phạm. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, các phán quyết,  
quyết định của các cơ quan này trở thành là nền tảng, cơ sở cho nhiều quyết định của các  
tòa án cấp dưới. [11] Vấn đề ở chỗ “ngôn ngữ của luật thường keo kiệt và vắn tắt”,[12]  
trừu tượng và đôi khi có thể hiểu theo nhiều nghĩa. Điều này dẫn đến việc áp dụng pháp  
luật có thể bị sai, lệch nguyên nghĩa, ý chí của nhà làm luật. Hoặc do nhận thức, trình độ  
của thẩm phán, đặc biệt là thẩm phán cấp dưới, vì vậy các tòa án cấp trên hoặc ban hành  
văn bản trên cơ sở tổng hợp thực tiễn để áp dụng thống nhất pháp luật hoặc thông qua  
một vụ việc cụ thể để đưa ra quan điểm pháp lý chính thức về ý nghĩa của ngôn ngữ pháp  
luật, nội dung của quy phạm, nguyên tắc ấy. Cả hai loại hình trên đều tìm thấy trong thực  
tiễn xét xử ở Nga. Loại thứ nhất khá phổ biến trong quá khứ và cả hiện tại. Loại thứ hai  
mới xuất hiện gần đây và chưa phổ biến, nhưng, nếu loại thứ nhất là thực tiễn xét xử, thì  
loại thứ hai mới được cho là án lệ - loại án lệ mang tính chất giải thích luật.  
Như vậy, do mới được hình thành, phát triển và đặt trong bối cảnh truyền thống  
pháp luật thành văn, văn hóa pháp luật vẫn còn nhiều dấu ấn tư tưởng pháp luật Xô Viết,  
án lệ trên thực tiễn chỉ được coi là nguồn bổ sung và chủ yếu mang tính bổ trợ, diễn giải,  
giải quyết các bất cập của luật thành văn ở Nga. Sự xuất hiện của án lệ ở Nga không làm  
mất đi tính thượng tôn của pháp luật mà ngược lại giúp đảm bảo tính thượng tôn của pháp  
luật, bởi vai trò của các án lệ đó trong việc khỏa lấp những lỗ hổng, sự nhập nhằng của  
pháp luật, tính trừu tượng, đa nghĩa vốn có của ngôn ngữ và cũng chính bởi tính thống  
nhất, nhất quán của việc áp dụng pháp luật trong quá trình xét xử thông qua thực tiễn xét  
xử và án lệ kiểu giải thích pháp luật ấy.  
c) Án lệ ở Nga không phải là đặt ra quy phạm mới mà là hình thành các quan điểm  
pháp lý497 mà trong đó thể hiện quan điểm của tư pháp (cấp cao) trong nhận thức pháp  
luật cũng như đưa ra các giải pháp pháp lý mẫu mực cho những trường hợp cụ thể về sau.  
Vẫn còn những quan điểm khác nhau về tính quy phạm của các quyết định của  
Tòa án Hiến pháp Liên bang. [13]498 Có học giả cho rằng, bản thân các quyết định ấy có  
tính quy phạm bởi tính chất bắt buộc chung và áp dụng nhiều lần. Tuy nhiên, có thể  
khẳng định và như trên đã đề cập, những lập luận làm cơ sở đưa ra phán quyết có trong  
các quyết định của Tòa án Hiến pháp Liên bang không phải là quy phạm mà là các quan  
496 Hiện nay, hệ thống tòa án này đã được sáp nhập vào hệ thống tòa án tư pháp Liên bang.  
497 Trong tiếng Nga là “Правовая позиция” (dịch là: quan điểm pháp lý).  
498  
Xem thêm những quan niệm khác nhau tại: В.В. Гриценко, О соотношении судебного прецедента и  
источников налогового права // Вестник ВГУ, серия Право, № 1-2006, С. 209-2015.  
293  
điểm pháp lý. Đặc điểm pháp lý của nó đã nêu ở trên và cũng được đại đa số các học giả,  
đội ngũ thẩm phán ở Nga đồng tình. Trên cơ sở giải quyết các vụ việc, yêu cầu cụ thể,  
Tòa án đưa ra quyết định trong đó có chứa quan điểm pháp lý chính thức. Nhờ uy tín của  
nó trong hệ thống tư pháp mà các quan điểm ấy được thể hiện, áp dụng vào các vụ việc  
của các tòa án cấp dưới và hệ thống cơ quan khác. Các quyết định của các tòa án tối cao,  
cấp cao khác499 cũng tương tự như vậy, được hình thành dựa trên quá trình giải quyết các  
vụ việc cụ thể, giải thích và vận dụng pháp luật cho những trường hợp cụ thể. Các quan  
điểm pháp lý không chứa đầy đủ các thành tố cấu thành của quy phạm (dù có một vài  
tính chất quy phạm như đã đề cập) như giả định, quy định và đảm bảo (hay quen gọi là  
chế tài). [14] Chúng được vận dụng nhiều lần ở cấp dưới cho các vụ việc cụ thể và dần  
trở thành án lệ đặc biệt của Nga.  
d) Án lệ chứa đựng trong các quyết định của các tòa án cấp cao nhất của từng hệ  
thống (phổ biến nhất là Tòa án Hiến pháp Liên bang), đã được phổ biến và được áp dụng  
nhiều lần ở cấp dưới chứ không cần thiết phải lựa chọn, công bố, tập hợp ghi danh án lệ.  
Do tính chất tự nhiên của pháp luật, ở Nga không hề có bất kỳ văn bản nào ghi  
nhận án lệ được thừa nhận hay không thừa nhận. Án lệ được hình thành và sử dụng bằng  
con đường cũng rất “tự nhiên”, xuất phát từ chính nhu cầu tự thân của đời sống pháp luật  
Liên bang Nga, xây dựng nhà nước pháp quyền, sự cần thiết phải khỏa lấp những lỗ  
hổng, bất cập tạo nên sự thống nhất trong hoạt động áp dụng pháp luật trong thực tiễn xét  
xử. Án lệ được hình thành cũng xuất phát từ uy tín của các thiết chế tạo ra các quan điểm  
pháp lý thể hiện ra trong quyết định của mình và hầu hết là của các tòa án tối cao, tòa án  
cấp cao nhất. Các quyết định của tòa án cấp dưới cũng có thể chứa những giải pháp pháp  
lý, quan điểm pháp lý mẫu mực nhưng nếu chưa được sự đồng thuận của tòa án tối cao  
trên cơ sở các quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm… thì cũng khó có thể trở thành án lệ.  
Khác với nhiều nước, ở Nga án lệ không được hình thành ngay sau khi quyết định  
của tòa án được ban hành và cũng chẳng được trao cho một vị trí chính thức nào mà là  
một quá trình chứng minh giá trị của mình để hệ thống bên dưới có thể chấp nhận, sử  
dụng rộng rãi. Chỉ khi đó nó mới trở thành án lệ. Điều này trong nhiều trường hợp không  
đúng với các quan điểm có trong các quyết định của Tòa án Hiến pháp Liên bang vốn có  
tính chất bắt buộc.  
e) Án lệ ở Nga (судебный прецедент/ judicial precedent) khác với thực tiễn xét  
xử (судебная практика/Judicial practice).  
Ở các nước theo truyền thống thông luật, sự phân biệt này không cần thiết, nhưng  
ở Nga việc phân biệt hai thuật ngữ này có ý nghĩa quan trọng.  
Thực tiễn xét xử (hay thực tiễn tư pháp) là một bộ phận của thực tiễn pháp lý được  
thể hiện trong lĩnh vực tư pháp. Tổng hợp kinh nghiệm xét xử, đưa ra những hướng dẫn  
499 Trước đây ở Nga tồn tại ba hệ thống tòa án độc lập: hệ thống tòa án bảo hiến; hệ thống tòa án tư pháp và hệ thống  
tòa án trọng tài. Trong mỗi hệ thống có tòa án cao nhất của hệ thống ấy. Ví dụ, hệ thống tòa án bảo hiến có Tòa án  
Hiến pháp Liên bang (hệ thống đặc biệt); Hệ thống tòa án tư pháp có Tòa án tối cao Liên bang; Hệ thống tòa án  
trọng tài có Tòa án trọng tài cấp cao Liên bang. Tuy nhiên, hiện nay hệ thống tòa án trọng tài đã được sáp nhập vào  
hệ thống tòa án tư pháp.  
294  
áp dụng thống nhất pháp luật trong hoạt động xét xử, hoạt động tranh tụng tại tòa hay xây  
dựng các quy phạm pháp luật phục vụ cho hoạt động tư pháp… là thực tiễn xét xử. Trong  
khi đó, án lệ là nguồn của pháp luật, nội dung của nó là các quan điểm pháp lý hay giải  
pháp pháp lý thể hiện trong các quyết định của tòa án cấp cao đưa ra khi giải quyết các vụ  
việc, yêu cầu cụ thể và được chứng minh giá trị thông qua việc áp dụng bởi các tòa án  
cấp dưới để giải quyết các vụ việc cụ thể.  
Sự phân biệt này quan trọng bởi lẽ, cho đến nay, nhiều học giả, chuyên gia thực  
tiễn đang có sự nhầm lẫn giữa hai khái niệm trên khi coi thực tiễn xét xử cũng là nguồn  
luật và gọi là án lệ. Điều này làm cho ranh giới giữa hoạt động tạo lập quy phạm pháp  
luật của tư pháp với án lệ không được rõ ràng. Trong trường hợp đó hướng dẫn của Hội  
đồng thẩm phán Tòa án tối cao cũng có thể trở thành án lệ, mặc dù trên thực tế nó là một  
phần của thực tiễn tư pháp và bản thân nó được coi là văn bản có chứa quy phạm pháp  
luật. Án lệ ở Nga là các quan điểm pháp lý hàm chứa trong các quyết định của tòa án cấp  
cao và có tính chất giải thích pháp luật.  
4. Một số khuyến nghị nhằm phát triển án lệ ở Việt Nam hiện nay  
Án lệ phát triển ở Nga như một tất yếu của quá trình cải cách dân chủ, xây dựng  
nhà nước pháp quyền. Việt Nam hiện nay cũng đang trên con đường cải cách, hội nhập  
và xây dựng nhà nước pháp quyền. Đa dạng hóa nguồn luật là một tất yếu khách quan  
trong quá trình ấy và sự xuất hiện của án lệ như là một loại nguồn pháp luật được cho là  
kịp thời, cần thiết và đáp ứng kỳ vọng của xã hội hiện đại cũng như xu thế phát triển của  
pháp luật Việt Nam hiện nay.  
Tuy vậy, vị trí, vai trò của án lệ Việt Nam còn khá khiêm tốn so với thực tiễn và  
nhu cầu. Nhưng, rõ ràng, việc phát triển án lệ cũng cần thận trọng bởi nó gắn với tính hệ  
thống của pháp luật, với tư duy và truyền thống pháp luật đã được định hình và uy tín,  
năng lực của hệ thống tòa án Việt Nam hiện nay.  
Nghiên cứu án lệ của Liên bang Nga cho thấy một số kinh nghiệm hay. Nhìn rộng  
ra các quốc gia có truyền thống pháp luật Châu Âu lục địa thì vị trí và vai trò của án lệ  
trong hệ thống pháp luật cũng có nhiều điểm tương đồng với Nga. Cách mà nước Nga  
phát triển án lệ, cải thiện vị trí, vai trò của án lệ đáng để Việt Nam xem xét. Vấn đề  
không chỉ nằm ở nỗ lực của ngành tòa án, của cải cách tư pháp hay ở nỗ lực trao cho án  
lệ một vị trí chính thức bằng cách ghi nhận nó trong luật và các văn bản quy phạm pháp  
luật khác mà còn ở khía cạnh đáng lưu tâm khác. Từ kinh nghiệm nước Nga, các tác giả  
mạo muội đề xuất 02 khuyến nghị sau nhằm nâng cao vị trí, vai trò của án lệ trong bối  
cảnh Việt Nam.  
Thứ nhất, muốn phát triển án lệ và nâng cao vị trí, vai trò của án lệ thì cần phải  
xây dựng một cơ chế bảo hiến chuyên nghiệp và độc lập.  
Việt Nam đang loay hoay tìm kiếm một mô hình bảo hiến cho riêng mình để cụ  
thể hóa nhiệm vụ mà Khoản 2, Điều 119 Hiến pháp năm 2013 đã trao cho Quốc hội – Cơ  
quan quyền lực Nhà nước. Nhưng, dù mô hình nào đi chăng nữa, thì bảo hiến chỉ có thể  
đúng nghĩa là bảo hiến nếu bảo đảm được sự độc lập và chuyên nghiệp. Liên bang Nga  
295  
đã phát triển hệ thống án lệ của mình nhờ cơ chế bảo hiến độc lập và chuyên nghiệp –  
Tòa án Hiến pháp liên bang. Kinh nghiệm cho thấy, khi trao cho Tòa án Hiến pháp liên  
bang quyền giải thích Hiến pháp, quyền đình chỉ, làm vô hiệu một văn bản luật trái với  
Hiến pháp, giải quyết tranh chấp thẩm quyền, bảo hiến thông qua hoạt động tố tụng cụ  
thể thì các phán quyết của Tòa án này sẽ trở thành các án lệ có giá trị, uy tín và vị thế rất  
lớn trong hệ thống pháp luật của một quốc gia. Kinh nghiệm nước Nga cho thấy, nếu  
không có thẩm quyền này và án lệ không được sản sinh từ con đường bảo hiến thì vị trí,  
vai trò của án lệ luôn là vô cùng yếu, do các tòa án khác thường có xu hướng áp dụng luật  
cho an toàn hoặc nếu không thì làm nghị quyết hướng dẫn cho nhanh, do năng lực còn  
hạn chế. Uy tín của án lệ xuất phát từ giải thích hiến pháp, từ xét xử các vụ việc liên quan  
đến hiến pháp của cơ chế bảo hiến sẽ có hiệu lực pháp lý rất lớn. Điều này cũng được  
chứng kiến ở Đức, Pháp, thậm chí là Hoa Kỳ - những nơi mà án lệ không phải là nguồn  
chủ đạo hoặc không phải là quê hương của án lệ.  
Thứ hai, muốn phát triển được án lệ và nâng cao chất lượng, vị trí, vai trò của án  
lệ thì người làm ra các phán quyết để trở thành án lệ phải là những chuyên gia đầu ngành,  
đầu đàn của về lý luận và thực tiễn.  
Thực tế cho thấy, ở Nga và các nước Châu Âu lục địa, án lệ không cần phải được  
trao quyền thông qua việc trao vị trí bằng một văn bản luật. Án lệ ở Nga có tính chất thu-  
yết phục (trừ án lệ Tòa án Hiến pháp Liên bang). Hiện nay, ở Việt Nam, có một sự tách  
bạch đáng tiếc giữa thực tiễn và hàn lâm. Án lệ là một loại luật đặc biệt và nó phải được  
sản sinh ở một hội đồng xét xử hội tụ được tinh hoa của người làm thực tiễn nhiều kinh  
nghiệm và học giả uy tín. Án lệ của Nga thường được tạo ra bởi những con người như  
vậy. Thành viên Tòa bảo hiến, tòa án tối cao liên bang… là những thẩm phán hội tụ cả  
hai yếu tố: kinh nghiệm thực tiễn và nhà nghiên cứu uy tín. Điều này tăng thêm sức nặng  
cho án lệ ở một nền văn hóa pháp luật thành văn. Ở Việt Nam hiện nay thì chưa có được  
điều đó dù đã cố gắng khỏa lấp bằng cơ chế Hội đồng tư vấn án lệ và cơ quan có tính chất  
khoa học của Tòa án Nhân dân tối cao. Nhưng, chỉ điều đó là chưa đủ để án lệ có vị trí  
xứng tầm khi nó đã sinh sau đẻ muộn ở một quốc gia có nền văn hóa pháp luật thành văn  
và đã từng hiện hữu chủ nghĩa thực chứng rất khắt khe.  
5. Thay lời kết  
Sự hình thành và phát triển án lệ ở Nga là quá trình phát triển tự nhiên, hợp quy  
luật của nhà nước và pháp luật nước Nga hiện đại trong một thế giới hội nhập ngày càng  
sâu rộng. Vì vậy, dù không có một văn bản nào quy định một cách chính thức thừa nhận  
án lệ như là một loại nguồn pháp luật, án lệ vẫn hình thành và được sử dụng trong thực  
tiễn. Án lệ của Nga khác nhiều so với truyền thống án lệ Anh - Mỹ với nguyên tắc “stare  
decisis” kinh điển, mà thực chất là hoạt động giải thích pháp luật thông qua việc giải  
quyết các vụ việc, yêu cầu cụ thể. Các quan điểm pháp lý hay các giải pháp pháp lý được  
hình thành trên cơ sở đó, trải qua kiểm nghiệm thực tiễn chứng minh giá trị của nó bằng  
sự hợp lý, ưu việt và công bằng hơn cả trong giải quyết các vấn đề của luật thành văn và  
rồi các tòa án cấp dưới viện dẫn trong nhiều trường hợp cụ thể thì mới được thừa nhận là  
án lệ. Tất nhiên, các án lệ của Tòa án Hiến pháp Liên bang là một ngoại lệ.  
296  
Án lệ rất khó có được vị trí trang trọng và xứng đáng trong một quốc gia có văn  
hóa pháp luật thành văn (thậm chí là truyền thống thực chứng Xô Viết). Nhưng, từ kinh  
nghiệm nước Nga cho thấy, điều đó hoàn toàn có thể nếu xây dựng được cách làm phù  
hợp. Cùng với những nỗ lực cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền, xã hội dân  
chủ thì muốn án lệ có vị trí tốt hơn, cần thiết phải hướng đến một mô hình bảo hiến  
chuyên nghiệp và độc lập và đội ngũ thẩm phán ở tầng cao nhất của hệ thống tư pháp  
phải thực sự là tinh hoa, nơi hội tụ của cả kinh nghiệm xét xử và uy tín của một học giả.  
Không thể có án lệ tốt nếu không xuất phát từ các thẩm phán tốt và không thể có án lệ có  
vị trí tốt ở một nước theo truyền thống pháp luật thành văn nếu án lệ không gắn với bảo  
hiến chuyên nghiệp và độc lập.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Xem thêm: “Văn hóa pháp luật nước Nga: Những đặc trưng cơ bản” của Mai Văn  
Thắng. In trong sách “Văn hóa pháp luật: Những vấn đề lý luận cơ bản và ứng dụng  
chuyên ngành”, Hoàng Thị Kim Quế, Ngô Huy Cương (Đồng Chủ biên), Nxb.  
ĐHQGHN, Hà Nội, 2011.  
[2] Khoản 1, Điều 46 Hiến pháp Liên bang Nga 1993.  
[3] Khoản 2, Điều 3 Bộ Luật Tố tụng Dân sự Liên bang Nga năm 2002.  
[4] Xem Khoản 1 Điều 71 Bộ Luật Liên bang về Tố tụng trọng tài năm 2002.  
[5] Интернет-интервью с В. Д. Зорькиным «Предварительные итоги деятельности  
Конституционного Суда РФ на пороге 15-летия» // Справ. правовая система  
«КонсультантПлюс  
[6] Điều 10 Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993.  
[7] Nguyễn Văn Quân, Pháp luật trong nhà nước pháp quyền: Một số vấn đề lý luận và  
thực tiễn. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở năm 2016. Khoa Luật, ĐHQGHN.  
26.6.2017).  
[9]Xem các quyết định của Tòa án hiến pháp: http://www.ksrf.ru/ru/Pages/default.aspx  
[10] Xem: Козлова Е.И. Источники Конституционного права// Конституционное  
право России: Учебник 2-е изд. М.2004, С.18; Бондарь Н.С. Решения  
Конституционного суда РФ в системе правового регулирования налоговых  
отношений// Налоговое право России: Учебник для вузов/ От.ред. Ю.А. Крохина,  
М. 2003, 131 и др.  
[11] Кулапов В.Л. Формы права // Теория государства и права: Курс лекций / Под  
ред. Н.И. Матузова и А.В. Малько. 2-е изд. М., 2004, С. 378.  
[12]Г.А. Василевич, Судебный прецедент в национальной правовой системе//  
Материалы международной научно-практической конференции 13.5.2011  
p1ai/upload/site126/document_file/kt7NMgoeyS.pdf).  
297  
[13] Xem thêm những quan niệm khác nhau tại: В.В. Гриценко, О соотношении  
судебного прецедента и источников налогового права // Вестник ВГУ, серия Право,  
№ 1-2006, С. 209-2015.  
[14] Dẫn theo: В.В. Гриценко, О соотношении судебного прецедента и источников  
налогового права // Вестник ВГУ, серия Право, № 1-2006, С. 209-2015.  
298  
pdf 14 trang Thùy Anh 11600 Free
Bạn đang xem tài liệu "Án lệ trong hệ thống pháp luật Liên Bang Nga hiện đại và một số khuyến nghị đối với việc phát triển án lệ ở Việt Nam hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfan_le_trong_he_thong_phap_luat_lien_bang_nga_hien_dai_va_mot.pdf