Thực trạng áp dụng quy định pháp luật về di sản dùng vào việc thờ cúng
THỰC TRẠNG ÁP DỤNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ DI SẢN
DÙNG VÀO VIỆC THỜ CÚNG
Nguyễn Thị Kiều Diễm, Nguyễn Thị Hải Yến, Đồ Thị Phương
Khoa Luật, Trường Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh
GVHD: ThS. Hà Thị Hồng Thắm
TÓM TẮT
Đến nay luôn xem việc hương hỏa, thờ cúng tổ tiên là một trong những mặt không thể thiếu
trong đời sống tâm linh, đó không chỉ là một nét văn hóa đặc trưng mà còn là sự biểu hiện
mặt về đạo đức về thờ cúng nói chung, và di sản thờ cúng nói riêng mang nhiều ý nghĩa và
có cách tương đối sơ lược về vấn đề chung dẫn đến nhiều vấn đề xảy ra trên thực tế tập
trung phân tích, so sánh, tìm cơ sở văn hóa, nhiều vướng mắc xảy ra trên thực tế. Tìm cơ
sở văn hóa nguồn gốc của việc thờ cúng tổ tiên mối quan hệ giữa di sản thờ cúng với di sản
thừa kế. Đó là hình thức của sự thiếu hiếu thuận và lòng biết ơn của con cháu đối với các
bậc sinh thành. Có lẽ vì vậy di sản dùng vào việc thờ cúng không chỉ được sự thỏa thuận
chặt chẽ của người trong gia đình, dòng tộc. Đến nay xem việc hương hỏa thờ cúng tổ tiên
là một trong những việc không thể thiếu trong đời sống tâm linh, đó không chỉ là một nét văn
hóa đặc trưng mà còn là sự biểu hiện về mặt đạo đức. Di sản dùng vào việc thờ cúng quy
định tại Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015 đã phần nào đáp ứng được phong tục tập quán tồn
tại từ lâu đời trong Nhân dân ta thờ cúng là tổ tiên và những người đã chết trong gia đình,
dòng họ. Tuy nhiên, quy định này chưa phù hợp với quan hệ xã hội hiện đại và chưa đáp
ứng triệt để mục đích và phong tục thờ cúng như một nét văn hóa độc đáo trong Nhân dân.
Trong phạm vi bài viết này, nhóm tác giả thực trạng quy định pháp luật về di sản dùng vào
việc thờ cúng, từ đó kiến nghị hoàn thiện vấn đề này.
Từ khóa: di sản, đạo đức, tổ tiên, thờ cúng, thừa kế.
1 QUAN NIỆM CHUNG
Thờ cúng là nếp sống văn hóa lâu đời của nhân dân ta, thể hiện lòng tôn kính đối với
người đã chết và nhằm dạy dỗ con cháu tôn kính và công ơn của những người đi trước.
Và là một nếp sống văn hóa, là tình nghĩa giữa người sống và người đã khuất nên các hệ
thống luật trên thế giới mà chúng ta biết không coi đây là vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh
của pháp luật.
Di sản dùng vào việc thờ cúng được hiểu là tài sản được dùng vào mục đích thờ cúng. Tài
sản này không nên hiểu theo nghĩa cơ học của chính nó mà phải hiểu bản chất tài sản, có
chứa đựng bản chất giá trị tài sản dùng vào việc thờ cúng. Như vậy, di sản dùng vào việc
thờ cúng trước hết là tài sản, tài sản này xét về giá trị phục vụ cho mục đích thờ cúng. Loại
1971
tài sản dùng vào việc thờ cúng không đồng nhất với hóa, lý, sinh, nhưng đồng nhất về mặt
tài sản dùng với mục đích thờ cúng.
Di sản để thờ cúng: nếu hiểu theo nghĩa vật chất tài sản thì không phải vật (tài sản) nào
cũng được dùng để thờ cúng. Vật (tài sản) được dùng để thờ cúng là vật được sử dụng trực
tiếp để thờ cúng. Mâm cỗ, hoa, quả, rượu, nước, hương nhang, nến, câu đối, lục bình, chân
dung (ảnh) của những người đã chết, câu đối, rèm bàn thờ và bàn thờ... còn những tài sản
tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể khác không thể đặt lên bàn thờ để thờ cúng: xe hơi, xe
môtô, quyền xử dụng đất, quyền tác giả sản phẩm thuộc quyền sở hữu trí tuệ, quyền đòi bồi
thường thiệt hại, quyền đòi nợ, quyền hưởng tiền bảo hiểm, một con vật nuôi còn sống...
2 THỰC TRẠNG
Thứ nhất, về việc xác lập di sản thờ cúng. Tại khoản 1 Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015 quy
định: “Trong trường hợp người lập di chúc có để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng
thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho một người đã chỉ định trong di
chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng”. Theo đó, việc xác định di sản là di sản thờ cúng
cần căn cứ vào di chúc của người để lại di sản, vậy có thể xảy ra một trường hợp là có một
phần tài sản trên thực tế đã được sử dụng vào việc thờ cúng từ đời này sang đời khác,
nhưng không được nhắc đến trong di chúc những người thừa kế có thể thỏa thuận thống
nhất để tự xác định đây là di sản thờ cúng, vậy di sản này có được pháp luật công nhận với
nội dung như trên, hoặc họ không thỏa thuận được và cần nhờ đến Tòa án xem xét thì lúc
này di sản thờ cúng (về mặt thực tế sử dụng) có còn được pháp luật bảo vệ, hay Tòa án
xem đây là phần tài sản cần phải được chia theo thừa kế pháp luật. Cũng không loại trừ
trường hợp người chết không để lại di chúc nên việc xác định di sản để thờ cúng cũng
không thể thực hiện. Rất dễ nhận thấy rằng, điều này có thể dẫn tới những mâu thuẫn trong
nội bộ gia tộc, gia đình thậm trí là tranh chấp, vì vậy thiết nghĩ cần có sự xác lập sâu rộng
hơn về di sản dùng vào việc thờ cúng, để từ đó đưa ra những cách giải quyết hợp lý và rõ
ràng hơn sau hệ quả của nó.
Thứ hai, về tính chất pháp lý của di sản thờ cúng. Về mặt pháp lý, di sản thờ cúng vẫn xác
định là tài sản. Tuy nhiên, quyền và nghĩa vụ đối với tài sản này lại không được quy định một
cách đầy đủ, Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015 chỉ ghi nhận nghĩa vụ quản lý di sản của người
được giao cho quản lý mà không quy định cụ thể, và quyền được thỏa thuận của những
người thừa kế khác để chọn ra người quản lý. Trong khi trên thực tế, một trong những vấn
đề được đặt ra nhất là liệu di sản thờ cúng có được chuyển nhượng hay thế chấp thì cũng
không được quy định trong pháp luật. Tất nhiên, di sản thờ cúng cần phải được gìn giữ để
bảo tồn những giá trị văn hóa nói chung, cũng như để bảo vệ ý trí của người để lại di sản nói
riêng, vì vậy cũng cần có những hạn chế nhất định đối với một số quyền sử dụng và định
đoạt đối với di sản thờ cúng. Quyền sử dụng đất dùng vào việc thờ cúng sẽ không được
chia thừa kế, nó được quản lý bởi một người chỉ định trong di chúc hoặc do những người
thừa kế thỏa thuận cử ra. Thế nên quyền sử dụng đất dùng vào việc thờ cúng không thuộc
sở hữu của riêng bất cứ cá nhân nào, không ai có quyền chuyển dịch quyền sử dụng đất
này. Tuy nhiên, do tính chất quyền sử dụng đất là tài sản có giá trị lớn nên những người
được giao quản lý dễ nảy sinh ý đồ chiếm đoạt. Tìm mọi cách để hợp thức hóa quyền sử
1972
dụng đất dùng vào việc thờ cúng thành tài sản của mình hay chuyển nhượng cho người
khác để hưởng lợi.
Thứ ba, nghĩa vụ của người thực hiện thờ cúng theo di chúc. Người được chỉ định quản lý di
sản dùng vào việc thờ cúng để thực hiện nghĩa vụ thờ cúng theo sự định đoạt của người lập
di chúc thì phải thực hiện nghĩa vụ của mình. Tuy nhiên, nếu người được chỉ định quản lý di
sản dùng vào việc thờ cúng và thực hiện thờ cúng, nhưng lại không thực hiện nghĩa vụ đó
thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác
quản lý để thờ cúng. Cách thức chuyển giao di sản cho người khác quản lý theo thỏa thuận
của những người thừa kế thì người được chỉ định có nghĩa vụ quản lý di sản đó để dùng di
sản vào việc thờ cúng. Như vậy, chủ thể quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng được xác
định dựa trên một trong 02 căn cứ sau: theo sự chỉ định của người lập di chúc để lại di sản
đó và theo thỏa thuận của những người thừa kế và của những người để lại di sản.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015 quy định “Nếu người được chỉ định
không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của những người thừa kế, thì
những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác để
thờ cúng” theo quy định trên, sự cần thiết phải xác định hành vi của người chỉ định không
thực hiện đúng theo di chúc hoặc không theo thỏa thuận của những người thừa kế trong
thực hiện nghĩa vụ thờ cúng.
Trước hết phải người được chỉ định quản lý di sản vào việc thờ cúng phải thực hiện nghĩa vụ
đúng theo di chúc, do người để lại di sản đó yêu cầu. Như vậy, hành vi của người vi phạm
vào việc thờ cúng được xác định do người đó đã không thực hiện hoặc thực hiện không
đúng nội dung của di chúc, sử dụng di sản dùng vào việc thờ cúng, để có căn cứ xác định
người quản lý vi phạm nghĩa vụ thờ cúng.
Thứ hai, người quản lý di sản không thực hiện nghĩa vụ thờ cúng theo thỏa thuận của
những người thừa kế, là căn cứ quyết định người quản lý di sản thờ cúng vi phạm nghĩa
vụ thờ cúng.
Theo nhóm tác giả, người có nghĩa vụ quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng được chỉ
định của người để lại di sản được hoặc theo thỏa thuận của những người thừa kế cử ra
nếu vi phạm những yêu cầu theo di chúc hoặc vi phạm theo những thỏa thuận của những
người thừa kế thì người quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng bị xác định là vi phạm
nghĩa vụ thờ cúng. Việc giao di sản dùng vào việc thờ cúng cho ai quản lý để sử dụng
dùng vào việc thờ cũng là do những người thừa kế quyết định thỏa thuận. Theo đó, khi có
tranh chấp phát sinh có liên quan đến di sản dùng vào việc thờ cúng thì cơ quan áp dụng
pháp luật phải căn cứ vào nội dung của di chúc định đoạt di sản này hoặc phải cản cứ vào
việc thỏa thuận của những người thừa kế và của những người để lại di sản thờ cúng để
giải quyết tranh chấp. Khi giải quyết tranh chấp này, sự cần thiết phải xác định di sản dùng
vào việc thờ cúng là loại tài sản nào: là một khoản tiền, kim khí quý, đá quý, nhà thờ hay
quyền tài sản... của người chết để lại. Khi xác định di sản dùng vào việc thờ cúng là vật cụ
thể, hay quyền tài sản hay một khoản tiền hoặc một khoản lợi tức, những hoa lợi thu được
từ những tài sản thì quyền xác định từ những lợi ích tài sản thu được từ tài sản này (nếu
có) cũng cần phải xác định.
1973
Thứ tư, xử lý di sản dùng vào việc thờ cúng: theo quy định tại khoản 645 Bộ luật Dân sự
2015 quy định “Trong trường hợp tất cả người thừa kế theo di chúc đã chết thì phần di sản
dùng thờ cúng thì thuộc về người đang quản lý di sản đó trong số những người thuộc diện
thừa kế theo pháp luật”. Theo đó có thể hiểu rằng, di sản thờ cúng chỉ tồn tại khi người được
thừa kế theo di chúc còn sống và sẽ chấm dứt sự tồn tại khi người thừa kế cuối cùng của
người được hưởng di chúc chết, và sau đó di sản này lại thuộc về người đang quản lý hợp
pháp di sản đó. Đối với những người được chỉ định để quản lý di sản thờ cún theo di chúc
nếu muốn để di chúc cho người khác tiếp tục quản lý di sản thờ cúng lại không thể thực hiện
được vì họ không phải là chủ sở hữu, tài sản đó không nằm trong di sản của họ nên cũng
không thể định đoạt. Như vậy, mô hình chung có thể nói pháp luật hiện hành chỉ cho phép
sự tồn tại của di sản thờ cúng là trong một đời người của những người thừa kế theo di chúc.
Theo quy định trên di sản dùng vào việc thờ cúng không phải là di sản được coi là trường
tồn mà loại di sản dùng vào việc thờ cúng chỉ tồn tại trong một thời hạn nhất định. Thời hạn
di sản thờ cúng không được là di sản thờ cúng nữa, phụ thuộc vào sự kiện pháp lý tất cả
người thừa kế theo di chúc đều đã chết hết, theo đó phần di sản phụ thuộc vào người đang
quản lý hợp pháp trong số những người được thừa kế theo các hàng tại điều 651 hoặc hàng
thừa kế vị 652 Bộ luật Dân sự 2015. Theo quy định này thì người đang quản lý di sản dùng
vào việc thờ cúng, đồng thời là người thuộc diện thừa kế theo pháp luật của người để lại di
sản là chủ sở hữu của di sản dùng vào việc thờ cúng, nếu tất cả những người thừa kế theo
di chúc đã chết trong trường hợp này, người là chủ sở hữu di sản có quyền định đoạt theo ý
chí của chủ sở hữu, di sản được dùng vào việc thờ cúng không còn là di sản thờ cúng nữa
mà là tài sản thuộc quyền sở hữu riêng của người xác lập quyền sở hữu đối với loại di sản
này, theo quy định của pháp luật. Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015 chỉ định về một trường hợp
giải quyết di sản vào việc thờ cúng mà không quy định trong trường hợp người quản lý di
sản dùng vào việc thờ cúng không thuộc diện thừa kế của người để lại di sản mà tất cả
những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để thờ cúng sẽ được
giải quyết như thế nào?
Nếu người quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng không thuộc diện thừa kế theo pháp luật
của người để lại di sản đó mà tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì di
sản dùng vào việc thờ cúng được giải quyết như thế nào, pháp luật không quy định. Người
lập di chúc có quyền chỉ định bất kỳ ai, người thuộc diện thừa kế theo pháp luật quản lý di
sản dùng việc thờ cúng hoặc chỉ định người ngoài diện thừa kế của mình quản lý di sản.
Trong trường hợp lập di chúc chỉ định người ngoại diện thừa kế theo pháp luật quản lý di
sản dùng vào việc thờ cúng và tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì di
sản thờ cúng trong trường hợp này thì không thuộc về người quản lý.
Theo nhóm tác giả, để giải quyết di sản dùng vào việc thờ cúng trong trường hợp này cần
thiết phải tuân thủ nguyên tắc phân chia di sản thừa kế theo pháp luật đối với phân chia di
sản dùng vào việc thờ cúng vì sự kiện pháp lý phát sinh khi tất cả người thừa theo di chúc
đều đã chết, phần di sản này được đem ra chia theo pháp luật. Vì điều kiện tất cả những
người thừa kế theo di chúc đều đã chết là một căn cứ chấm dứt nghĩa vụ của người quản lý
di sản dùng vào việc thờ cúng, đồng thời quyền sở hữu đối với di sản đó ở người đang quản
1974
lý trong người thừa kế theo pháp luật nhưng trong trường hợp người quản lý di sản dùng
vào việc thờ cúng không thuộc diện thừa kế theo pháp luật, di sản đó được trả lại cho những
người thừa kế theo pháp luật để họ sử dụng theo ý trí. Những người thừa kế trong trường
hợp này có hai cách giải quyết:
Một là, họ tiếp tục thỏa thuận với nhau để chỉ định người quản lý di sản và thực hiện nghĩa
vụ thờ cúng và không tuân theo cách thức giải quyết di sản thờ cúng theo quy định của pháp
luật. Cách thức này phù hợp phong tục thờ cúng và là cách thức khác với quy định của pháp
luật, không trái với nguyên tắc của pháp luật dân sự, không trái đạo đức xã hội.
Hai là, những người thừa kế trong hàng được hưởng có quyền chia di sản đó theo quy định
tại điều 651 Bộ luật Dân sự 2015.
Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015 cần phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp hơn đối với đời sống,
xã hội và phong tục tốt đẹp đã tồn tại rất lâu đời trong nước Việt Nam, không thuộc vào hoàn
cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế - xã hội. Nên quy định rõ tài sản dùng vào việc thờ cúng là
chiếm bao nhiêu tỷ lệ phần trăm tổng giá trị di sản của người chết để lại; di sản dùng vào
việc thờ cúng không những do người lập di chúc định đoạt từ tài sản của mình mà còn được
xác định theo thỏa thuận của những người thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản
đó. Ngoài ra, pháp luật nên có quy định thời hạn sử dụng di sản dùng vào việc thờ cúng để
tránh sự nhầm lẫn trong việc sử dụng di sản đó và đồng thời cũng nhằm ngăn chặn những
tranh chấp về di sản dùng vào việc thờ cúng trong dòng họ, trong gia đình để lại di sản đó,
nhằm gìn giữ sự bình ổn trong giao lưu dân sự và mối đòn kết trong Nhân dân và đó cũng là
mục đích điều chỉnh của pháp luật.
3 KẾT LUẬN
Di sản thờ cúng không những chỉ đơn thuần là tài sản mà nó là còn là đối tượng thiêng
liêng không thể xâm phạm, không thể bán, tặng cho... hoặc làm cho hao hụt vì nó gắn liền
với danh dự của gia đình, dòng họ và thực tế nó không thể bị chiếm đoạt trái với ý chí của
cả dòng họ, của các thành viên trong gia đình. Di sản dùng vào việc thờ cúng cũng có thể
mất đi do các sự kiện pháp lý nhưng ngay lập tức hoặc có thời gian di sản đó lại được khôi
phục nhanh chóng với quyết tâm của cả cộng đồng và dòng họ, của các con, các cháu và
những người để lại di sản đó. Thậm chí nói luôn được bổ sung nhiều hơn và đầy đủ hơn
theo quan niệm và phong tục thờ cúng của nhân dân và nó còn được đổi mới, thay thế
bằng những di sản khác với mục đích sử dụng trong việc thờ cúng. Di sản dùng vào việc
thờ cúng quy định tại Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015 đã phần nào đáp ứng được phong tục
tập quán từ lâu đời trong Nhân dân ta là thờ cúng tổ tiên và những người đã chết trong gia
đình, dòng họ. Tuy nhiên, quy định này chưa thực sự phù hợp với mối quan hệ trong xã
hội hiện đại và chưa đáp ứng triệt để mục đích và phong tục thờ cúng đã giống như một
nét văn hóa độc đáo trong Nhân dân. Do đo, cần phải tiếp tục hoàn thiện để thực thi trên
thực tế để đạt hiệu quả hơn.
1975
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Bộ luật Dân sự 1995.
[2] Bộ luật Dân sự 2005.
[3] Bộ luật Dân sự 2015.
[4] Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) Luật sư Tưởng Duy
Lượng (2018). Pháp luật dân sự và thực tiễn xét sử, NXB. Chính trị Quốc gia Sự
thật.Tr.399-400.
1976
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng áp dụng quy định pháp luật về di sản dùng vào việc thờ cúng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
thuc_trang_ap_dung_quy_dinh_phap_luat_ve_di_san_dung_vao_vie.pdf

