Giáo trình Pháp luật đại cương (Phần 2)

Chương 7: Luật dân sự và luật tố tụng dân sự  
Chương 7  
LUẬT DÂN SỰ VÀ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ  
7.1. KHÁI LUẬN CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ  
7.1.1. Khái niệm  
Luật dân sự là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bao gồm tổng  
thể các quy phạm pháp luật dân sự do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ tài  
sản và các quan hệ nhân thân phi tài sản hoặc có liên quan đến tài sản của cá nhân, pháp  
nhân và các chủ thể khác, dựa trên nguyên tắc bình đẳng về mặt pháp lý, quyền tự định đoạt,  
quyền khởi kiện dân sự và trách nhiệm tài sản của những người tham gia quan hệ đó.  
Nguồn của Luật dân sự: Bộ luật dân sự được Quốc hội thông qua vào ngày 14-6-2005, có  
hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-2006 (sau đây gọi tắt là Bộ luật dân sự). Ngoài ra, còn có  
các nguồn khác là đạo luật khác, các văn bản hướng dẫn thi hành khác có liên quan đến từng  
chế định cụ thể, từng quan hệ pháp luật dân sự cụ thể được ban hành nhằm quy định chi tiết  
và cụ thể hoá các quy định trong Bộ luật dân sự hiện hành.  
7.1.2. Đối tượng điều chỉnh  
7.1.2.1. Quan hệ tài sản  
Quan hệ tài sản là quan hệ giữa người với người thông qua một tài sản dưới dạng tư liệu  
sản xuất, một tư liệu tiêu dùng hoặc dịch vụ nhằm tạo ra một tài sản nhất định. Tài sản trong  
Luật dân sự Việt Nam được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm: tài sản, quyền về tài sản và  
nghĩa vụ về tài sản.  
7.1.2.2. Quan hệ nhân thân  
Quan hệ nhân thân là quan hệ giữa người với người không mang tính kinh tế, không tính  
được thành tiền, nó phát sinh do một giá trị tinh thần gắn liền với một người hoặc một tổ  
chức và không chuyển dịch được. Ví dụ: quyền được đứng tên với các tác phẩm văn học  
nghệ thuật, công trình mà người đó là tác giả hay quyền bất khả xâm phạm về nhãn hiệu  
hàng hoá của một doanh nghiệp.  
7.1.3. Nguyên tắc cơ bản của Luật dân sự Việt Nam  
Quá trình xây dựng, ban hành cũng như áp dụng các quy phạm pháp luật dân sự đều phải  
dựa trên những nguyên tắc chung của pháp luật. Ngoài ra, Luật dân sự còn có những nguyên  
tắc cơ bản được quy định tại Bộ luật dân sự năm 2005. Cụ thể là:  
7.1.3.1. Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận  
Quyền tự do cam kết, thoả thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp  
luật bảo đảm, nếu cam kết, thoả thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái  
đạo đức xã hội.  
Trong quan hệ dân sự, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được áp đặt, cấm  
đoán, cưỡng ép, đe doạ, ngăn cản bên nào.  
Cam kết, thoả thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên và phải  
được cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác tôn trọng.  
96  
Chương 7: Luật dân sự và luật tố tụng dân sự  
7.1.3.2. Nguyên tắc bình đẳng  
Trong quan hệ dân sự, các bên đều bình đẳng, không được lấy lý do khác biệt về dân tộc,  
giới tính, thành phần xã hội, hoàn cảnh kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề  
nghiệp để đối xử không bình đẳng với nhau.  
7.1.3.3. Nguyên tắc thiện chí, trung thực  
Trong quan hệ dân sự, các bên phải thiện chí, trung thực trong việc xác lập, thực hiện  
quyền, nghĩa vụ dân sự, không bên nào được lừa dối bên nào.  
7.1.3.4. Nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự  
Các bên phải nghiêm chỉnh thực hiện nghĩa vụ dân sự của mình và tự chịu trách nhiệm về  
việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ, nếu không tự nguyện thực hiện thì  
có thể bị cưỡng chế thực hiện theo quy định của pháp luật.  
7.1.3.5. Nguyên tắc tôn trọng đạo đức, truyền thống tốt đẹp  
Việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự phải bảo đảm giữ gìn bản sắc dân tộc, tôn  
trọng và phát huy phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp, tình đoàn kết, tương thân, tương  
ái, mỗi người vì cộng đồng, cộng đồng vì mỗi người và các giá trị đạo đức cao đẹp của các  
dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.  
Đồng bào các dân tộc thiểu số được tạo điều kiện thuận lợi trong quan hệ dân sự để từng  
bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của mình.  
Việc giúp đỡ người già, trẻ em, người tàn tật trong việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự  
được khuyến khích.  
7.1.3.6. Nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự  
Tất cả các quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác được tôn trọng và được  
pháp luật bảo vệ.  
Khi quyền dân sự của một chủ thể bị xâm phạm thì chủ thể đó có quyền tự bảo vệ theo  
quy định của Bộ luật dân sự hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền:  
- Công nhận quyền dân sự của mình;  
- Buộc chấm dứt hành vi vi phạm;  
- Buộc xin lỗi, cải chính công khai;  
- Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự;  
- Buộc bồi thường thiệt hại.  
7.1.3.7. Nguyên tắc tôn trọng lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp  
pháp của người khác  
Việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích của  
Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.  
7.1.3.8. Nguyên tắc tuân thủ pháp luật  
Việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự phải tuân theo quy định của Bộ luật dân sự  
97  
Chương 7: Luật dân sự và luật tố tụng dân sự  
và quy định khác của pháp luật.  
7.1.3.9. Nguyên tắc hoà giải  
Trong quan hệ dân sự, việc hoà giải giữa các bên phù hợp với quy định của pháp luật  
được khuyến khích.  
Không ai được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực khi tham gia quan hệ dân sự, giải  
quyết các tranh chấp dân sự.  
7.1.3.10. Nguyên tắc áp dụng tập quán, quy định tương tự pháp luật  
Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thoả thuận thì có thể áp  
dụng tập quán; nếu không có tập quán thì áp dụng quy định tương tự của pháp luật. Tập quán và  
quy định tương tự của pháp luật không được trái với những nguyên tắc quy định trong Bộ luật  
dân sự.  
7.2. MỘT SỐ CHẾ ĐỊNH CƠ BẢN CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005  
7.2.1. Cá nhân  
7.2.1.1. Năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự của cá nhân  
a. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân  
Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa  
vụ dân sự. Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau. Năng lực pháp luật dân  
sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết.  
Cá nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự sau đây:  
- Quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản;  
- Quyền sở hữu, quyền thừa kế và các quyền khác đối với tài sản;  
- Quyền tham gia quan hệ dân sự và có nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó.  
Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không bị hạn chế, trừ trường hợp do pháp luật quy  
định.  
b. Năng lực hành vi dân sự của cá nhân  
Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác  
lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.  
- Năng lực hành vi dân sự của người thành niên:  
Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại Điều 22  
(mất năng lực hành vi dân sự) và Điều 23 (hạn chế năng lực hành vi dân sự) của Bộ luật dân  
sự.  
- Năng lực hành vi dân sự của người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười  
tám tuổi:  
+ Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự  
phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh  
hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác.  
98  
Chương 7: Luật dân sự và luật tố tụng dân sự  
+ Trong trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có tài sản  
riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà  
không cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có  
quy định khác.  
- Người không có năng lực hành vi dân sự:  
Người chưa đủ sáu tuổi không có năng lực hành vi dân sự. Giao dịch dân sự của người  
chưa đủ sáu tuổi phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.  
- Mất năng lực hành vi dân sự:  
Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ  
được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra  
quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định.  
Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu  
của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định huỷ  
bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.  
Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp  
luật xác lập, thực hiện.  
- Hạn chế năng lực hành vi dân sự:  
Người nghiện ma tuý, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phát tán tài sản của gia  
đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan, Toà  
án có thể ra quyết định tuyên bố là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.  
Người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi  
đại diện do Toà án quyết định. Giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị hạn chế  
năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch  
nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày.  
Khi không còn căn cứ tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì theo yêu  
cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu  
quan, Toà án ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự.  
7.2.1.2. Quyền nhân thân  
- Quyền nhân thân:  
Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật dân sự là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá  
nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.  
- Bảo vệ quyền nhân thân:  
Khi quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm thì người đó có quyền: a) Tự mình cải  
chính; b) Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người  
vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai; c) Yêu cầu người vi phạm  
hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại.  
- Quyền đối với họ, tên:  
99  
Chương 7: Luật dân sự và luật tố tụng dân sự  
Cá nhân có quyền có họ, tên. Họ, tên của một người được xác định theo họ, tên khai sinh  
của người đó. Cá nhân xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự theo họ, tên của mình đã  
được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận. Việc sử dụng bí danh, bút danh không  
được gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.  
- Quyền thay đổi họ, tên:  
Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ,  
tên trong các trường hợp sau đây: a) Theo yêu cầu của người có họ, tên mà việc sử dụng họ,  
tên đó gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền, lợi ích hợp pháp  
của người đó; b) Theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi về việc thay đổi họ, tên cho con nuôi  
hoặc khi người con nuôi thôi không làm con nuôi và người này hoặc cha đẻ, mẹ đẻ yêu cầu  
lấy lại họ, tên mà cha đẻ, mẹ đẻ đã đặt; c) Theo yêu cầu của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc người con  
khi xác định cha, mẹ cho con; d) Thay đổi họ cho con từ họ của cha sang họ của mẹ hoặc  
ngược lại; đ) Thay đổi họ, tên của người bị lưu lạc đã tìm ra nguồn gốc huyết thống của  
mình; e) Thay đổi họ, tên của người được xác định lại giới tính; f) Các trường hợp khác do  
pháp luật về hộ tịch quy định.  
Việc thay đổi họ, tên cho người từ đủ chín tuổi trở lên phải có sự đồng ý của người đó.  
Việc thay đổi họ, tên của cá nhân không làm thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự  
được xác lập theo họ, tên cũ.  
- Quyền xác định dân tộc:  
Cá nhân khi sinh ra được xác định dân tộc theo dân tộc của cha đẻ, mẹ đẻ. Trong trường  
hợp cha đẻ và mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau thì dân tộc của người con được xác định là  
dân tộc của cha đẻ hoặc dân tộc của mẹ đẻ theo tập quán hoặc theo thoả thuận của cha đẻ,  
mẹ đẻ.  
Người đã thành niên, cha đẻ và mẹ đẻ hoặc người giám hộ của người chưa thành niên có  
quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định lại dân tộc trong các trường hợp  
sau đây: xác định lại theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ, nếu cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân  
tộc khác nhau; xác định lại theo dân tộc của cha đẻ, mẹ đẻ trong trường hợp làm con nuôi  
của người thuộc dân tộc khác mà được xác định theo dân tộc của cha nuôi, mẹ nuôi do  
không biết cha đẻ, mẹ đẻ là ai.  
Trong trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ hoặc người giám hộ của người chưa thành niên yêu cầu  
xác định lại dân tộc cho người chưa thành niên từ đủ mười lăm tuổi trở lên theo quy định tại  
khoản 2 Điều 28 Bộ luật dân sự thì phải được sự đồng ý của người chưa thành niên đó.  
- Quyền được khai sinh: cá nhân khi sinh ra có quyền được khai sinh.  
- Quyền được khai tử:  
Khi có người chết thì người thân thích, chủ nhà hoặc cơ quan, tổ chức nơi có người chết  
phải khai tử cho người đó. Trẻ sơ sinh, nếu chết sau khi sinh thì phải được khai sinh và khai  
tử; nếu chết trước khi sinh hoặc sinh ra mà chết ngay thì không phải khai sinh và khai tử.  
- Quyền của cá nhân đối với hình ảnh:  
Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình. Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải  
100  
Chương 7: Luật dân sự và luật tố tụng dân sự  
được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự,  
chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại  
diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp vì lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng hoặc  
pháp luật có quy định khác. Nghiêm cấm việc sử dụng hình ảnh của người khác mà xâm  
phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh.  
- Quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể:  
Cá nhân có quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể. Khi phát hiện  
người bị tai nạn, bệnh tật mà tính mạng bị đe dọa thì người phát hiện có trách nhiệm đưa đến  
cơ sở y tế; cơ sở y tế không được từ chối việc cứu chữa mà phải tận dụng mọi phương tiện,  
khả năng hiện có để cứu chữa. Việc thực hiện phương pháp chữa bệnh mới trên cơ thể một  
người, việc gây mê, mổ, cắt bỏ, cấy ghép bộ phận của cơ thể phải được sự đồng ý của người  
đó; nếu người đó chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự hoặc là bệnh nhân bất tỉnh  
thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người giám hộ của người đó đồng  
ýý; trong trường hợp có nguy cơ đe dọa đến tính mạng của bệnh nhân mà không chờ được ý  
kiến của những người trên thì phải có quyết định của người đứng đầu cơ sở y tế.  
Việc mổ tử thi được thực hiện trong các trường hợp sau đây:  
+ Có sự đồng ý của người quá cố trước khi người đó chết;  
+ Có sự đồng ý của cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người giám hộ khi không  
có ý kiến của người quá cố trước khi người đó chết;  
+ Theo quyết định của tổ chức y tế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp  
cần thiết.  
- Quyền hiến bộ phận cơ thể:  
Cá nhân có quyền được hiến bộ phận cơ thể của mình vì mục đích chữa bệnh cho người  
khác hoặc nghiên cứu khoa học. Việc hiến và sử dụng bộ phận cơ thể được thực hiện theo  
quy định của pháp luật.  
- Quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết:  
Cá nhân có quyền hiến xác, bộ phận cơ thể của mình sau khi chết vì mục đích chữa bệnh cho  
người khác hoặc nghiên cứu khoa học. Việc hiến và sử dụng xác, bộ phận cơ thể của người chết  
được thực hiện theo quy định của pháp luật.  
- Quyền nhận bộ phận cơ thể người:  
Cá nhân có quyền nhận bộ phận cơ thể của người khác để chữa bệnh cho mình. Nghiêm  
cấm việc nhận, sử dụng bộ phận cơ thể của người khác vì mục đích thương mại.  
- Quyền xác định lại giới tính:  
Cá nhân có quyền được xác định lại giới tính. Việc xác định lại giới tính của một người  
được thực hiện trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa  
định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ về giới tính. Việc  
xác định lại giới tính được thực hiện theo quy định của pháp luật.  
- Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín:  
101  
Chương 7: Luật dân sự và luật tố tụng dân sự  
Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.  
- Quyền bí mật đời tư:  
Quyền bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Việc thu thập,  
công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp  
người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ,  
chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp thu thập,  
công bố thông tin, tư liệu theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Thư tín, điện  
thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật.  
Việc kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân  
được thực hiện trong trường hợp pháp luật có quy định và phải có quyết định của cơ quan nhà  
nước có thẩm quyền.  
- Quyền kết hôn:  
Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình có  
quyền tự do kết hôn. Việc tự do kết hôn giữa những người thuộc các dân tộc, tôn giáo khác  
nhau, giữa những người theo tôn giáo và không theo tôn giáo, giữa công dân Việt Nam với  
người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.  
- Quyền bình đẳng của vợ chồng:  
Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình  
và trong quan hệ dân sự, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc,  
bền vững.  
- Quyền được hưởng sự chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình:  
Các thành viên trong gia đình có quyền được hưởng sự chăm sóc, giúp đỡ nhau phù hợp  
với truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam. Con, cháu chưa thành niên được  
hưởng sự chăm sóc, nuôi dưỡng của cha mẹ, ông bà; con, cháu có bổn phận kính trọng,  
chăm sóc và phụng dưỡng cha mẹ, ông bà.  
- Quyền ly hôn: vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc ly  
hôn.  
- Quyền nhận, không nhận cha, mẹ, con:  
Người không được nhận là cha, mẹ hoặc là con của người khác có quyền yêu cầu cơ quan  
nhà nước có thẩm quyền xác định mình là cha, mẹ hoặc là con của người đó.  
Người được nhận là cha, mẹ hoặc là con của người khác có quyền yêu cầu cơ quan nhà  
nước có thẩm quyền xác định mình không phải là cha, mẹ hoặc là con của người đó.  
- Quyền được nuôi con nuôi và quyền được nhận làm con nuôi:  
Quyền được nuôi con nuôi và quyền được nhận làm con nuôi của cá nhân được pháp luật  
công nhận và bảo hộ. Việc nhận con nuôi và được nhận làm con nuôi được thực hiện theo  
quy định của pháp luật.  
- Quyền đối với quốc tịch:  
Cá nhân có quyền có quốc tịch. Việc công nhận, thay đổi, nhập quốc tịch, thôi quốc tịch  
102  
Chương 7: Luật dân sự và luật tố tụng dân sự  
Việt Nam được thực hiện theo quy định của pháp luật về quốc tịch.  
- Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở:  
Cá nhân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Việc vào chỗ ở của một người phải được  
người đó đồng ý. Chỉ trong trường hợp được pháp luật quy định và phải có quyết định của cơ  
quan nhà nước có thẩm quyền mới được tiến hành khám xét chỗ ở của một người; việc khám  
xét phải theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.  
- Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo:  
Cá nhân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào.  
Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để  
xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.  
- Quyền tự do đi lại, tự do cư trú:  
Cá nhân có quyền tự do đi lại, tự do cư trú. Quyền tự do đi lại, tự do cư trú của cá nhân  
chỉ có thể bị hạn chế theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và theo trình tự,  
thủ tục do pháp luật quy định.  
- Quyền lao động:  
Cá nhân có quyền lao động. Mọi người đều có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm,  
nghề nghiệp, không bị phân biệt đối xử về dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, tín ngưỡng,  
tôn giáo.  
- Quyền tự do kinh doanh:  
Quyền tự do kinh doanh của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Cá  
nhân có quyền lựa chọn hình thức, lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh, lập doanh nghiệp,  
tự do giao kết hợp đồng, thuê lao động và các quyền khác phù hợp với quy định của pháp  
luật.  
- Quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo:  
Cá nhân có quyền tự do nghiên cứu khoa học - kỹ thuật, phát minh, sáng chế, sáng kiến cải  
tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật và tham gia các hoạt  
động nghiên cứu, sáng tạo khác.  
Quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Không ai  
được cản trở, hạn chế quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo của cá nhân.  
7.2.1.3. Giám hộ  
Giám hộ là việc cá nhân, tổ chức (sau đây gọi chung là người giám hộ) được pháp luật  
quy định hoặc được cử để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của  
người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự (sau đây gọi chung là người được  
giám hộ).  
Người được giám hộ bao gồm:  
- Người chưa thành niên không còn cha, mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc cha, mẹ  
đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị Toà án hạn chế quyền  
103  
Chương 7: Luật dân sự và luật tố tụng dân sự  
của cha, mẹ hoặc cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó và  
nếu cha, mẹ có yêu cầu;  
- Người mất năng lực hành vi dân sự.  
Người chưa đủ mười lăm tuổi được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 58 Bộ luật dân sự và  
người được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 8 Bộ luật dân sự phải có người giám hộ.  
Một người có thể giám hộ cho nhiều người, nhưng một người chỉ có thể được một người  
giám hộ, trừ trường hợp người giám hộ là cha, mẹ hoặc ông, bà theo quy định tại khoản 2  
Điều 61 hoặc khoản 3 Điều 62 của Bộ luật dân sự.  
Điều kiện của cá nhân làm người giám hộ: cá nhân có đủ các điều kiện sau đây có thể làm  
người giám hộ: a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; b) Có tư cách đạo đức tốt; không phải  
là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc người bị kết án nhưng chưa được xoá án  
tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản  
của người khác; có điều kiện cần thiết bảo đảm thực hiện việc giám hộ.  
7.2.1.4. Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, tuyên bố mất tích, tuyên bố  
chết  
- Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người  
đó:  
Khi một người biệt tích sáu tháng liền trở lên thì những người có quyền, lợi ích liên quan  
có quyền yêu cầu Toà án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú theo quy định  
của pháp luật tố tụng dân sự và có thể yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của  
người vắng mặt quy định tại Điều 75 của Bộ luật dân sự.  
- Quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú:  
Theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án giao tài sản của người vắng  
mặt tại nơi cư trú cho những người sau đây quản lý: đối với tài sản đã được người vắng mặt  
uỷ quyền quản lý thì người được uỷ quyền tiếp tục quản lý; đối với tài sản chung thì do chủ  
sở hữu chung còn lại quản lý; tài sản do vợ hoặc chồng đang quản lý thì vợ hoặc chồng tiếp  
tục quản lý; nếu vợ hoặc chồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực  
hành vi dân sự thì con đã thành niên hoặc cha, mẹ của người vắng mặt quản lý.  
Trong trường hợp không có những người được quy định này thì Toà án chỉ định một  
người trong số những người thân thích của người vắng mặt tại nơi cư trú quản lý tài sản; nếu  
không có người thân thích thì Toà án chỉ định người khác quản lý tài sản.  
- Nghĩa vụ của người quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú: người quản lý tài  
sản của người vắng mặt tại nơi cư trú có các nghĩa vụ sau đây:  
+ Giữ gìn, bảo quản tài sản của người vắng mặt như tài sản của chính mình;  
+ Bán ngay tài sản là hoa màu, sản phẩm khác có nguy cơ bị hư hỏng;  
+ Thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, thanh toán nợ đến hạn của người vắng mặt bằng tài sản  
của người đó theo quyết định của Toà án;  
+ Giao lại tài sản cho người vắng mặt khi người này trở về và phải thông báo cho Toà án  
104  
Chương 7: Luật dân sự và luật tố tụng dân sự  
biết; nếu có lỗi trong việc quản lý tài sản mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.  
- Quyền của người quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú: người quản lý tài sản  
của người vắng mặt tại nơi cư trú có các quyền sau đây:  
+ Quản lý tài sản của người vắng mặt;  
+ Trích một phần tài sản của người vắng mặt để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, nghĩa vụ  
thanh toán nợ đến hạn của người vắng mặt;  
+ Được thanh toán các chi phí cần thiết trong việc quản lý tài sản.  
- Tuyên bố một người mất tích:  
Khi một người biệt tích hai năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp  
thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức  
xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích  
liên quan, Toà án có thể tuyên bố người đó mất tích. Thời hạn hai năm được tính từ ngày biết  
được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì  
thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu  
không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu  
tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.  
Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Toà án giải  
quyết cho ly hôn.  
- Quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích:  
Người đang quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú quy định tại khoản 1 Điều  
75 của Bộ luật dân sự tiếp tục quản lý tài sản của người đó khi người đó bị Toà án tuyên bố  
mất tích và có các quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 76 và Điều 77 của Bộ luật dân sự.  
Trong trường hợp Toà án giải quyết cho vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích ly  
hôn thì tài sản của người mất tích được giao cho con đã thành niên hoặc cha, mẹ của người  
mất tích quản lý; nếu không có những người này thì giao cho người thân thích của người mất  
tích quản lý; nếu không có người thân thích thì Toà án chỉ định người khác quản lý tài sản.  
- Huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích:  
Khi người bị tuyên bố mất tích trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống thì theo  
yêu cầu của người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định huỷ bỏ  
quyết định tuyên bố một người mất tích.  
Người bị tuyên bố mất tích trở về được nhận lại tài sản do người quản lý tài sản chuyển  
giao sau khi đã thanh toán chi phí quản lý.  
Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích đã được ly hôn thì dù  
người bị tuyên bố mất tích trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống, quyết định  
cho ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật.  
- Tuyên bố một người là đã chết:  
Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Toà án ra quyết định tuyên bố một người  
là đã chết trong các trường hợp sau đây:  
105  
Chương 7: Luật dân sự và luật tố tụng dân sự  
+ Sau ba năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Toà án có hiệu lực pháp luật  
mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;  
+ Biệt tích trong chiến tranh sau năm năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin  
tức xác thực là còn sống;  
+ Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau một năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm hoạ,  
thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có  
quy định khác;  
+ Biệt tích năm năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này  
được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 78 của Bộ luật dân sự.  
Tuỳ từng trường hợp, Toà án xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết căn cứ  
vào các trường hợp quy định trên.  
- Quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của người bị Toà án tuyên bố là đã chết:  
Khi quyết định của Toà án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan  
hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như  
đối với người đã chết. Quan hệ tài sản của người bị Toà án tuyên bố là đã chết được giải  
quyết như đối với người đã chết; tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của  
pháp luật về thừa kế.  
- Huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết:  
Khi một người bị tuyên bố là đã chết trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống  
thì theo yêu cầu của người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định  
huỷ bỏ quyết định tuyên bố người đó là đã chết.  
Quan hệ nhân thân của người bị tuyên bố là đã chết được khôi phục khi Toà án ra quyết  
định huỷ bỏ quyết định tuyên bố người đó là đã chết, trừ các trường hợp sau đây:  
+ Vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố là đã chết đã được Toà án cho ly hôn theo quy định  
tại khoản 2 Điều 78 của Bộ luật dân sự thì quyết định cho ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật;  
+ Vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố là đã chết đã kết hôn với người khác thì việc kết hôn  
đó vẫn có hiệu lực pháp luật.  
Người bị tuyên bố là đã chết mà còn sống có quyền yêu cầu những người đã nhận tài sản  
thừa kế trả lại tài sản, giá trị tài sản hiện còn.  
Trong trường hợp người thừa kế của người bị tuyên bố là đã chết biết người này còn sống mà  
cố tình giấu giếm nhằm hưởng thừa kế thì người đó phải hoàn trả toàn bộ tài sản đã nhận, kể cả  
hoa lợi, lợi tức; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.  
7.2.2. Pháp nhân  
Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây: được thành  
lập hợp pháp; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự  
chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách  
độc lập.  
Pháp nhân được thành lập theo sáng kiến của cá nhân, tổ chức hoặc theo quyết định của cơ  
106  
Chương 7: Luật dân sự và luật tố tụng dân sự  
quan nhà nước có thẩm quyền.  
Các loại pháp nhân:  
- Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân.  
- Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.  
- Tổ chức kinh tế.  
- Tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp.  
- Quỹ xã hội, quỹ từ thiện.  
- Tổ chức khác có đủ các điều kiện quy định tại Điều 84 của Bộ luật dân sự.  
7.2.3. Giao dịch dân sự  
Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi  
hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.  
- Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự:  
Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây: người tham gia giao dịch có  
năng lực hành vi dân sự; mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của  
pháp luật, không trái đạo đức xã hội; người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.  
Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp  
luật có quy định.  
- Mục đích của giao dịch dân sự:  
Mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được khi  
xác lập giao dịch đó.  
- Hình thức giao dịch dân sự:  
Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.  
Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi  
là giao dịch bằng văn bản.  
Trong trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản,  
phải có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy  
định đó.  
- Giao dịch dân sự có điều kiện:  
Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về điều kiện phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch dân  
sự thì khi điều kiện đó xảy ra, giao dịch dân sự phát sinh hoặc hủy bỏ.  
Trong trường hợp điều kiện làm phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự không thể xảy ra  
được do hành vi cố ý cản trở của một bên hoặc của người thứ ba thì coi như điều kiện đó đã  
xảy ra; nếu có sự tác động của một bên hoặc của người thứ ba cố ý thúc đẩy cho điều kiện để  
làm phát sinh hoặc huỷ bỏ giao dịch dân sự xảy ra thì coi như điều kiện đó không xảy ra.  
- Giải thích giao dịch dân sự:  
Trong trường hợp giao dịch dân sự có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau thì việc  
107  
Chương 7: Luật dân sự và luật tố tụng dân sự  
giải thích giao dịch dân sự đó được thực hiện theo thứ tự sau đây: theo ý muốn đích thực của  
các bên khi xác lập giao dịch; theo nghĩa phù hợp với mục đích của giao dịch; theo tập quán  
nơi giao dịch được xác lập.  
Việc giải thích hợp đồng dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 409 của Bộ luật  
dân sự, việc giải thích nội dung di chúc được thực hiện theo quy định tại Điều 673 của Bộ  
luật dân sự.  
- Giao dịch dân sự vô hiệu:  
Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 122 của Bộ  
luật dân sự thì vô hiệu.  
- Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội:  
Giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức  
xã hội thì vô hiệu. Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép  
chủ thể thực hiện những hành vi nhất định. Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử  
chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.  
- Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo:  
Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì  
giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó  
cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật dân sự. Trong trường hợp xác lập giao dịch giả tạo nhằm  
trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch đó vô hiệu.  
- Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự,  
người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện:  
Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc  
người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại  
diện của người đó, Toà án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật  
giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện.  
- Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn:  
Khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch dân sự mà xác  
lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó,  
nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch  
vô hiệu.  
Trong trường hợp một bên do lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao  
dịch thì được giải quyết theo quy định tại Điều 132 của Bộ luật dân sự.  
- Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa:  
Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầu  
Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu. Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của  
một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của  
đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó. Đe dọa trong giao  
dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao  
108  
Chương 7: Luật dân sự và luật tố tụng dân sự  
dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của  
mình hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình.  
- Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi  
của mình:  
Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không  
nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch  
dân sự đó là vô hiệu.  
- Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức:  
Trong trường hợp pháp luật quy định hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực  
của giao dịch mà các bên không tuân theo thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Toà án, cơ  
quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức  
của giao dịch trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu.  
- Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần:  
Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần khi một phần của giao dịch vô hiệu nhưng không ảnh  
hưởng đến hiệu lực của phần còn lại của giao dịch.  
- Thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu:  
Thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu được quy định tại các điều  
từ Điều 130 đến Điều 134 của Bộ luật dân sự là hai năm, kể từ ngày giao dịch dân sự được  
xác lập. Đối với các giao dịch dân sự được quy định tại Điều 128 và Điều 129 của Bộ luật  
dân sự thì thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế.  
- Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu:  
Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân  
sự của các bên kể từ thời điểm xác lập. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục  
lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng  
hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được  
bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.  
- Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu:  
Trong trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản giao dịch là động sản không  
phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba  
ngay tình thì giao dịch với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại Điều  
257 của Bộ luật dân sự.  
Trong trường hợp tài sản giao dịch là bất động sản hoặc là động sản phải đăng ký quyền  
sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao  
dịch với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản  
này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan  
nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở  
hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa.  
7.2.4. Đại diện  
109  
Chương 7: Luật dân sự và luật tố tụng dân sự  
7.2.4.1. Khái niệm  
Đại diện là việc một người (sau đây gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của  
người khác (sau đây gọi là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong  
phạm vi đại diện.  
Cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có thể xác lập, thực hiện giao dịch dân sự thông qua  
người đại diện. Cá nhân không được để người khác đại diện cho mình nếu pháp luật quy  
định họ phải tự mình xác lập, thực hiện giao dịch đó.  
Quan hệ đại diện được xác lập theo pháp luật hoặc theo uỷ quyền. Người được đại diện  
có quyền, nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch dân sự do người đại diện xác lập.  
Người đại diện phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại khoản  
2 Điều 143 của Bộ luật dân sự.  
7.2.4.2. Đại diện theo pháp luật  
Đại diện theo pháp luật là đại diện do pháp luật quy định hoặc cơ quan nhà nước có thẩm  
quyền quyết định.  
Người đại diện theo pháp luật bao gồm:  
- Cha, mẹ đối với con chưa thành niên;  
- Người giám hộ đối với người được giám hộ;  
- Người được Toà án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;  
- Người đứng đầu pháp nhân theo quy định của điều lệ pháp nhân hoặc quyết định của cơ  
quan nhà nước có thẩm quyền;  
- Chủ hộ gia đình đối với hộ gia đình;  
- Tổ trưởng tổ hợp tác đối với tổ hợp tác;  
- Những người khác theo quy định của pháp luật.  
7.2.4.3. Đại diện theo uỷ quyền  
Đại diện theo uỷ quyền là đại diện được xác lập theo sự uỷ quyền giữa người đại diện và  
người được đại diện. Hình thức uỷ quyền do các bên thoả thuận, trừ trường hợp pháp luật quy  
định việc uỷ quyền phải được lập thành văn bản.  
7.2.4.4. Người đại diện theo uỷ quyền  
Cá nhân, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có thể uỷ quyền cho người khác  
xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.  
Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể là người đại diện theo uỷ  
quyền, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ đủ mười tám  
tuổi trở lên xác lập, thực hiện.  
7.2.4.5. Phạm vi đại diện  
Người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích  
của người được đại diện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Phạm vi đại diện theo uỷ  
110  
Chương 7: Luật dân sự và luật tố tụng dân sự  
quyền được xác lập theo sự uỷ quyền. Người đại diện chỉ được thực hiện giao dịch dân sự  
trong phạm vi đại diện. Người đại diện phải thông báo cho người thứ ba trong giao dịch dân sự  
biết về phạm vi đại diện của mình. Người đại diện không được xác lập, thực hiện các giao dịch  
dân sự với chính mình hoặc với người thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó,  
trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.  
7.2.4.6. Hậu quả của giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực  
hiện  
Giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện không làm phát  
sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ trường hợp người đại diện hoặc người  
được đại diện đồng ý. Người đã giao dịch với người không có quyền đại diện phải thông báo  
cho người được đại diện hoặc người đại diện của người đó để trả lời trong thời hạn ấn định;  
nếu hết thời hạn này mà không trả lời thì giao dịch đó không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ  
đối với người được đại diện, nhưng người không có quyền đại diện vẫn phải thực hiện nghĩa  
vụ đối với người đã giao dịch với mình, trừ trường hợp người đã giao dịch biết hoặc phải  
biết về việc không có quyền đại diện.  
Người đã giao dịch với người không có quyền đại diện có quyền đơn phương chấm dứt  
thực hiện hoặc huỷ bỏ giao dịch dân sự đã xác lập và yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường  
hợp người đó biết hoặc phải biết về việc không có quyền đại diện mà vẫn giao dịch.  
7.2.4.7. Hậu quả của giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá  
phạm vi đại diện  
Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện không  
làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đối với phần giao dịch được thực  
hiện vượt quá phạm vi đại diện, trừ trường hợp người được đại diện đồng ý hoặc biết mà  
không phản đối; nếu không được sự đồng ý thì người đại diện phải thực hiện nghĩa vụ đối  
với người đã giao dịch với mình về phần giao dịch vượt quá phạm vi đại diện.  
Người đã giao dịch với người đại diện có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hoặc  
huỷ bỏ giao dịch dân sự đối với phần vượt quá phạm vi đại diện hoặc toàn bộ giao dịch dân  
sự và yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp người đó biết hoặc phải biết về việc vượt  
quá phạm vi đại diện mà vẫn giao dịch.  
Trong trường hợp người đại diện và người giao dịch với người đại diện cố ý xác lập, thực  
hiện giao dịch dân sự vượt quá phạm vi đại diện mà gây thiệt hại cho người được đại diện thì  
phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại.  
7.2.4.8. Chấm dứt đại diện của cá nhân  
Đại diện theo pháp luật của cá nhân chấm dứt trong các trường hợp sau đây:  
- Người được đại diện đã thành niên hoặc năng lực hành vi dân sự đã được khôi phục;  
- Người được đại diện chết;  
- Các trường hợp khác do pháp luật quy định.  
Đại diện theo uỷ quyền của cá nhân chấm dứt trong các trường hợp sau đây:  
111  
Chương 7: Luật dân sự và luật tố tụng dân sự  
- Thời hạn uỷ quyền đã hết hoặc công việc được uỷ quyền đã hoàn thành;  
- Người uỷ quyền huỷ bỏ việc uỷ quyền hoặc người được uỷ quyền từ chối việc uỷ quyền;  
- Người uỷ quyền hoặc người được uỷ quyền chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành  
vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết.  
Khi chấm dứt đại diện theo uỷ quyền, người đại diện phải thanh toán xong các nghĩa vụ  
tài sản với người được đại diện hoặc với người thừa kế của người được đại diện.  
7.2.4.9. Chấm dứt đại diện của pháp nhân  
Đại diện theo pháp luật của pháp nhân chấm dứt khi pháp nhân chấm dứt.  
Đại diện theo uỷ quyền của pháp nhân chấm dứt trong các trường hợp sau đây:  
- Thời hạn uỷ quyền đã hết hoặc công việc được uỷ quyền đã hoàn thành;  
- Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân huỷ bỏ việc uỷ quyền hoặc người được uỷ quyền  
từ chối việc uỷ quyền;  
- Pháp nhân chấm dứt hoặc người được uỷ quyền chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực  
hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết.  
Khi chấm dứt đại diện theo uỷ quyền, người đại diện phải thanh toán xong các nghĩa vụ  
tài sản với pháp nhân uỷ quyền hoặc pháp nhân kế thừa.  
7.2.5. Tài sản và quyền sở hữu  
7.2.5.1. Tài sản  
Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản.  
- Bất động sản và động sản:  
Bất động sản là các tài sản bao gồm: đất đai; nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất  
đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; các tài sản khác gắn liền với  
đất đai; các tài sản khác do pháp luật quy định.  
Động sản là những tài sản không phải là bất động sản.  
- Hoa lợi, lợi tức:  
Hoa lợi là sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại. Lợi tức là các khoản lợi thu được từ việc  
khai thác tài sản.  
- Vật chính và vật phụ:  
Vật chính là vật độc lập, có thể khai thác công dụng theo tính năng. Vật phụ là vật trực  
tiếp phục vụ cho việc khai thác công dụng của vật chính, là một bộ phận của vật chính,  
nhưng có thể tách rời vật chính. Khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật chính thì phải  
chuyển giao cả vật phụ, trừ trường hợp có thoả thuận khác.  
- Vật chia được và vật không chia được:  
Vật chia được là vật khi bị phân chia vẫn giữ nguyên tính chất và tính năng sử dụng ban  
đầu. Vật không chia được là vật khi bị phân chia thì không giữ nguyên được tính chất và tính  
năng sử dụng ban đầu. Khi cần phân chia vật không chia được thì phải trị giá thành tiền để  
112  
Chương 7: Luật dân sự và luật tố tụng dân sự  
chia.  
- Vật tiêu hao và vật không tiêu hao:  
Vật tiêu hao là vật khi đã qua một lần sử dụng thì mất đi hoặc không giữ được tính chất,  
hình dáng và tính năng sử dụng ban đầu. Vật tiêu hao không thể là đối tượng của hợp đồng  
cho thuê hoặc hợp đồng cho mượn.  
Vật không tiêu hao là vật khi đã qua sử dụng nhiều lần mà cơ bản vẫn giữ được tính chất,  
hình dáng và tính năng sử dụng ban đầu.  
- Vật cùng loại và vật đặc định:  
Vật cùng loại là những vật có cùng hình dáng, tính chất, tính năng sử dụng và xác định được  
bằng những đơn vị đo lường. Vật cùng loại có cùng chất lượng có thể thay thế cho nhau.  
Vật đặc định là vật phân biệt được với các vật khác bằng những đặc điểm riêng về ký  
hiệu, hình dáng, màu sắc, chất liệu, đặc tính, vị trí. Khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật  
đặc định thì phải giao đúng vật đó.  
- Vật đồng bộ:  
Vật đồng bộ là vật gồm các phần hoặc các bộ phận ăn khớp, liên hệ với nhau hợp thành  
chỉnh thể mà nếu thiếu một trong các phần, các bộ phận hoặc có phần hoặc bộ phận không  
đúng quy cách, chủng loại thì không sử dụng được hoặc giá trị sử dụng của vật đó bị giảm  
sút.  
Khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật đồng bộ thì phải chuyển giao toàn bộ các phần  
hoặc các bộ phận hợp thành, trừ trường hợp có thoả thuận khác.  
- Quyền tài sản:  
Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự,  
kể cả quyền sở hữu trí tuệ.  
7.2.5.2. Nội dung quyền sở hữu  
a. Quyền chiếm hữu  
Quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ, quản lý tài sản. Quyền chiếm hữu được chia thành:  
- Quyền chiếm hữu của chủ sở hữu:  
Trong trường hợp chủ sở hữu chiếm hữu tài sản thuộc sở hữu của mình thì chủ sở hữu  
được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, quản lý tài sản nhưng không  
được trái pháp luật, đạo đức xã hội.  
Việc chiếm hữu của chủ sở hữu không bị hạn chế, gián đoạn về thời gian, trừ trường hợp  
chủ sở hữu chuyển giao việc chiếm hữu cho người khác hoặc pháp luật có quy định khác.  
- Quyền chiếm hữu của người được chủ sở hữu uỷ quyền quản lý tài sản:  
Khi chủ sở hữu uỷ quyền quản lý tài sản cho người khác thì người được uỷ quyền thực  
hiện quyền chiếm hữu tài sản đó trong phạm vi, theo cách thức, thời hạn do chủ sở hữu xác  
định.  
113  
Chương 7: Luật dân sự và luật tố tụng dân sự  
Người được uỷ quyền quản lý tài sản không thể trở thành chủ sở hữu đối với tài sản được  
giao theo căn cứ về thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều 247 của Bộ luật dân sự.  
- Quyền chiếm hữu của người được giao tài sản thông qua giao dịch dân sự:  
Khi chủ sở hữu giao tài sản cho người khác thông qua giao dịch dân sự mà nội dung không  
bao gồm việc chuyển quyền sở hữu thì người được giao tài sản phải thực hiện việc chiếm hữu  
tài sản đó phù hợp với mục đích, nội dung của giao dịch.  
Người được giao tài sản có quyền sử dụng tài sản được giao, được chuyển quyền chiếm  
hữu, sử dụng tài sản đó cho người khác, nếu được chủ sở hữu đồng ý.  
Người được giao tài sản không thể trở thành chủ sở hữu đối với tài sản được giao theo  
căn cứ về thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều 247 của Bộ luật dân sự.  
- Quyền chiếm hữu tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm, tài sản  
không xác định được ai là chủ sở hữu:  
Người phát hiện tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm phải thông báo  
hoặc trả lại ngay cho chủ sở hữu; nếu không biết ai là chủ sở hữu thì phải thông báo hoặc  
giao nộp cho Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn hoặc công an cơ sở gần nhất hoặc cơ  
quan nhà nước có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật.  
Người phát hiện tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ  
quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm được chiếm hữu tài sản đó từ thời điểm phát hiện đến thời  
điểm trả lại cho chủ sở hữu hoặc đến thời điểm giao nộp cho cơ quan nhà nước có thẩm  
quyền.  
Đối với tài sản do người khác tẩu tán nhằm che giấu hành vi vi phạm pháp luật hoặc trốn  
tránh việc thực hiện nghĩa vụ dân sự thì người phát hiện phải thông báo hoặc giao nộp ngay  
cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 427.  
- Quyền chiếm hữu gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc:  
Người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phải thông báo  
hoặc trả lại ngay cho chủ sở hữu; nếu chưa xác định được chủ sở hữu thì được chiếm hữu tài  
sản đó từ thời điểm phát hiện đến thời điểm trả lại cho chủ sở hữu.  
- Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình:  
Việc chiếm hữu tài sản không phù hợp với quy định tại Điều 183 của Bộ luật dân sự là  
chiếm hữu không có căn cứ pháp luật.  
Người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình là người chiếm hữu mà  
không biết và không thể biết việc chiếm hữu tài sản đó là không có căn cứ pháp luật.  
- Chiếm hữu liên tục:  
Việc chiếm hữu tài sản được thực hiện trong một khoảng thời gian mà không có tranh chấp  
về tài sản đó là chiếm hữu liên tục, kể cả khi tài sản được giao cho người khác chiếm hữu.  
- Chiếm hữu công khai:  
Việc chiếm hữu tài sản được coi là chiếm hữu công khai khi thực hiện một cách minh  
114  
Chương 7: Luật dân sự và luật tố tụng dân sự  
bạch, không giấu giếm; tài sản đang chiếm hữu được sử dụng theo tính năng, công dụng và  
được người chiếm hữu bảo quản, giữ gìn như tài sản của chính mình.  
b. Quyền sử dụng  
Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản.  
- Quyền sử dụng của chủ sở hữu:  
Trong trường hợp chủ sở hữu thực hiện quyền sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình thì  
chủ sở hữu được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản theo ý chí của mình  
nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công  
cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.  
- Quyền sử dụng của người không phải là chủ sở hữu:  
Quyền sử dụng tài sản có thể được chuyển giao cho người khác thông qua hợp đồng hoặc  
theo quy định của pháp luật. Người không phải là chủ sở hữu có quyền sử dụng tài sản đúng  
tính năng, công dụng, đúng phương thức.  
Người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình cũng có quyền khai thác  
công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản theo quy định của pháp luật.  
c. Quyền định đoạt  
Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó.  
- Điều kiện định đoạt:  
Việc định đoạt tài sản phải do người có năng lực hành vi dân sự thực hiện theo quy định  
của pháp luật. Trong trường hợp pháp luật có quy định trình tự, thủ tục định đoạt tài sản thì  
phải tuân theo trình tự, thủ tục đó.  
- Quyền định đoạt của chủ sở hữu:  
Chủ sở hữu có quyền bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ hoặc thực hiện  
các hình thức định đoạt khác phù hợp với quy định của pháp luật đối với tài sản.  
- Quyền định đoạt của người không phải là chủ sở hữu:  
Người không phải là chủ sở hữu tài sản chỉ có quyền định đoạt tài sản theo uỷ quyền của  
chủ sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật. Người được chủ sở hữu uỷ quyền định đoạt tài  
sản phải thực hiện việc định đoạt phù hợp với ý chí, lợi ích của chủ sở hữu.  
- Hạn chế quyền định đoạt:  
Quyền định đoạt chỉ bị hạn chế trong trường hợp do pháp luật quy định. Khi tài sản đem  
bán là di tích lịch sử, văn hoá thì Nhà nước có quyền ưu tiên mua. Trong trường hợp pháp  
nhân, cá nhân, chủ thể khác có quyền ưu tiên mua đối với tài sản nhất định theo quy định của  
pháp luật thì khi bán tài sản, chủ sở hữu phải dành quyền ưu tiên mua cho các chủ thể đó.  
7.2.5.3. Các hình thức sở hữu  
- Sở hữu nhà nước: tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước bao gồm đất đai, rừng tự  
nhiên, rừng trồng có nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên  
trong lòng đất, nguồn lợi tự nhiên ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản  
115  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 137 trang Thùy Anh 10300 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Pháp luật đại cương (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_phap_luat_dai_cuong_phan_2.pdf