Giáo trình Kiểm soát thủ tục hành chính
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG LÀO CAI
BÀI GIẢNG
MÔN HỌC: KIỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
NGÀNH: DỊCH VỤ PHÁP LÝ
(Áp dụng cho trình độ Trung cấp)
LƯU HÀNH NỘI BỘ
Năm 2017
1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
Bộ, cơ quan ngang Bộ và ba cơ quan:
Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Ngân hàng
Chính sách xã hội và Ngân hàng Phát
triển Việt Nam
Bộ, cơ quan
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang
Bộ và Tổng giám đốc cơ quan: Bảo hiểm
xã hội Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã
hội và Ngân hàng Phát triển Việt Nam
Ủy ban nhân dân tỉnh
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan
UBND
Cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản
quy phạm pháp luật
Cục Kiểm soát thủ tục hành chính
Phòng Cục Kiểm soát thủ tục hành
chính
Cơ quan chủ trì soạn thảo
Cục KSTTHC
Phòng KSTTHC
Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục
hành chính
CSDLQG
Đánh giá tác động của thủ tục hành
chính
ĐGTĐ
Đề án Đơn giản hoá TTHC trên các
lĩnh vực quản lý của Nhà nước giai đoạn
2007 – 2010 đƣợc Thủ tướng Chính phủ
ban hành kèm theo Quyết định số30/QĐ-
TTg ngày 10/01/2007
Đề án 30
Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày
08/6/2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ
tục hành chính
Nghị định 63/2010/NĐ-CP
Nghị định 48/2013/NĐ-CP
Nghị định số 48/2013/NĐ-CP ngày
14/5/2013 của Chính phủ về sửa đổi, bổ
sung một số điều của các nghị định liên
quan đến kiểm soát thủ tục hành chính
Nghị định số 20/2008/NĐ-CP ngày
14/02/2008 của Chính phủ về tiếp nhận, xử
lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức
về quy định hành chính
Nghị định 20/2008/NĐ-CP
PAKN
Phản ánh, kiến nghị
Phòng KSTTHC
TTHC
Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính
Thủ tục hành chính
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương
UBND cấp tỉnh
Ủy ban nhân dân quận, huyện, thành
phố thuộc tỉnh
UBND cấp huyện
UBND cấp xã
VBQPPL
Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn
Văn bản quy phạm pháp luật
2
Văn
bản
hợp
nhất
số4621/VBHN-BTP ngày12/6/2013 của Bộ
Tƣ pháp hợp nhất Nghị định số
63/2010/NĐ- CP ngày 08/6/2010 của Chính
phủ về kiểm soát thủ tục hành chính và
Văn bản hợp nhất 4621/VBHN-
BTP
Nghị
định
số48/2013/NĐ-CP
ngày14/5/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ
sung một số điều của các nghị định liên
quan đến kiểm soát thủ tục hành chính
Văn
bản
hợp nhất
số4620/VBHN-BTP ngày12/6/2013 của Bộ
Tư pháp hợp nhất Nghị định số
20/2008/NĐ- CP ngày 14/02/2008 của
Chính phủ về tiếp nhận, xử lý phản ánh,
kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định
hành chính và Nghị định số 48/2013/NĐ-
CP ngày 14/5/2013 của Chính phủ sửa đổi,
bổ sung một số điều của các nghị định liên
quan đến kiểm soát thủ tục hành chính
Văn bản hợp nhất 4620/VBHN-
BTP
3
Lời nói đầu
“Thể chế có chất lượng cao với thủ tục hành chính đơn giản, công khai, minh bạch
và trách nhiệm giải trình đầy đủ sẽ tạo ra môi trường thuận lợi cho đầu tư kinh doanh,
ngăn chặn tham nhũng lãng phí, góp phần quan trọng nâng cao sức cạnh tranh tổng thể
của nền kinh tế”
Thông điệp của Thủ tuớng Chính
phủ
Xây dựng nền hành chính phục vụ, tôn trọng và bảo vệ các quyền công dân, tạo
môi trường thuận lợi cho kinh tế - xã hội phát triển thông qua hệ thống thể chế có chất
lượng cao là một trong những yêu cầu đang đặt ra hiện nay của Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Trong điều kiện đó, cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính
luôn được Chính phủ xác định là một Chương trình lớn cần quan tâm thực hiện với mục
tiêu xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện
đại, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo các nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa
dưới sự lãnh đạo của Đảng, đáp ứng yêu cầu quản lý, phát triển nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa.
Kiểm soát thủ tục hành chính là nhiệm vụ trực tiếp, cụ thể, thiết thực, có hiệu quả,
góp phần đảm bảo thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu về cải cách thủ tục hành chính, trong đó
nhiệm vụ trọng tâm được Chính phủ đề ra trong giai đoạn hiện nay là: “cắt giảm và nâng
cao chất lƣợng thủ tục hành chính ở tất cả các lĩnh vực quản lý nhà nước, nhất là thủ tục
hành chính liên quan tới người dân, doanh nghiệp”; từ đó góp phần hoàn thiện và nâng
cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm thực hiện quyền và lợi ích hợp
pháp của người dân, tổ chức và doanh nghiệp; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của
bộ máy hành chính nhà nƣớc trong bối cảnh chủ động hội nhập quốc tế.
Hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính là hoạt động mang tính chuyên môn,
nghiệp vụ cao, được thực hiện theo một quy trình chặt chẽ, từ khâu soạn thảo văn bản
quy phạm pháp luật cho đến việc tổ chức thực hiện, rà soát, đánh giá thủ tục hành chính
và kiểm tra việc thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính. Vì vậy, việc nắm vững các quy
định pháp luật về lĩnh vực này, sử dụng thành thạo các công cụ, thực hiện nghiêm túc quy
trình, thủ tục trong quá trình kiểm soát thủ tục hành chính, từ đó thực hiện tốt nhiệm vụ
4
tổng hợp, tham mưu, hướng dẫn là một trong những yếu tố quan trọng bảo đảm thành
công.
Để góp phần giúp các học sinh, sinh viên ngành dịch vụ pháp lý có thêm kiến thức
lý luận và thực tiễn trong hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính, tác giả đã biên soạn tập
bài giảng “Kiểm soát thủ tục hành chính”. Nội dung tập bài giảng cập nhật những quy
định mới về kiểm soát thủ tục hành chính, đề cập đến những kiến thức, kỹ năng cơ bản về
tham gia ý kiến, thẩm định; công bố, công khai; đánh giá tác động và rà soát; tiếp nhận,
xử lý phản ánh, kiến nghị của tổ chức, cá nhân; chế độ báo cáo tình hình, kết quả và việc
kiểm tra thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính…
Tác giả mong nhận được nhiều ý kiến góp ý về nội dung cuốn sách để tiếp tục bổ
sung, chỉnh lý và hoàn thiện.
Tác giả
Lê Thị Hương Giang – Giảng viên Khoa Pháp lý
5
TẬP BÀI GIẢNG
MÔN HỌC: KIỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
Mục tiêu môn học:
- Về kiến thức: Học phần này trang bị những kiến thức cơ bản về kiểm soát thủ tục
hành chính cho người học
- Về kỹ năng:
Sau khi học xong học phần này, người học có thể đánh giá, theo dõi nhằm bảo
đảm tính khả thi của thủ tục hành chính, đáp ứng yêu cầu công khai, minh bạch trong quá
trình tổ chức thực hiện thủ tục hành chính; có thể tham mưu những nội dung cần thực
hiện đối với cơ quan nhà nước nơi mình làm việc.
- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm:
+ Có ý thức tôn trọng pháp luật, đặc biệt là tôn trọng các quyết định của chủ thể có
thẩm quyền trong quản lí hành chính nhà nước;
+ Có quan điểm đúng về nền hành chính ở Việt Nam hiện nay;
+ Tích cực đấu tranh bảo vệ công lí;
+ Nghiêm túc, khách quan trong nghiên cứu khoa học và đánh giá các vấn đề lí
luận, thực tiễn quản lí hành chính nhà nước;
+ Có ý thức vận dụng các kiến thức và pháp luật đã học trong cuộc sống và công
tác.
6
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KIỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
I. VỊ TRÍ, VAI TRÕ CỦA CÔNG TÁC KIỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
Duới góc độ quản lý nhà nước nói chung, TTHC là công cụ, phương tiện quan trọng để
các cơ quan hành chính thực hiện việc quản lý đối với từng ngành, lĩnh vực cụ thể. Còn dưới góc
độ xã hội, TTHC là cầu nối để chuyển tải nhiều quy định cụ thể về chính sách của Nhà nước vào
cuộc sống, đảm bảo cho người dân, tổ chức tiếp cận và thực hiện chính sách, trong đó cơ bản và
chủ yếu là các quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của công dân, tổ chức. Như các luật gia nước
ngoài thường nói, ở đâu pháp luật càng đơn giản thì ở đó xã hội càng văn minh, kinh tế càng phát
triển; quy định về TTHC cũng như quá trình thực hiện thể hiện rõ nét về sự văn minh, tiến bộ của
bộ máy chính quyền, tính chất dân chủ của một xã hội.
Kiểm soát TTHC là một chức năng, nhiệm vụ mới của các cơ quan tư pháp và Tổ chức
pháp chế Bộ, cơ quan.
Từ tính chất quan trọng của TTHC, quy định về TTHC, năm 1994, cải cách TTHC đã
đƣợc Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xác định là nhiệm vụ cần được ưu tiên thực hiện (Nghị
quyết số 38/CP ngày 04 tháng 5 năm 1994 về cải cách một bước TTHC trong giải quyết công
việc của công dân và tổ chức); đặc biệt, giai đoạn 2007 – 2010 với những kết quả đạt được trong
thực hiện đơn giản hóa TTHC trên các lĩnh vực quản lý nhà nước, Đề án 30 thực sự là điểm nhấn
quan trọng của quá trình cải cách TTHC của Chính phủ, là giai đoạn “bản lề” của tổ chức và hoạt
động kiểm soát TTHC.
Từ kết quả đạt được của việc thực hiện Đề án 30, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tiếp
tục xác định cải cách TTHC là một nhiệm vụ trọng tâm của Chính phủ khóa XIII và cũng là đòi
hỏi của thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta. Bài học kinh nghiệm từ Đề án 30 và các
hoạt động cải cách tương tự cho thấy nhận thức về tầm quan trọng của công tác cải cách TTHC
và quyết tâm chính trị của lãnh đạo cơ quan hành chính các cấp là yếu tố quan trọng, cần thiết
bảo đảm sự thành công của công cuộc cải cách; đồng thời cũng là yếu tố để thu hút sự tham gia
tích cực, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức và sự chung tay, góp sức của nhân dân và
cộng đồng doanh nghiệp đối với công tác này.
Theo Khoản 5 Điều 3 của Nghị định 63/2010/NĐ-CP thì nội hàm khái niệm kiểm soát
TTHC được hiểu là việc xem xét, đánh giá, theo dõi nhằm bảo đảm tính khả thi của quy định về
TTHC, đáp ứng yêu cầu công khai, minh bạch trong quá trình tổ chức thực hiện TTHC.
Kiểm soát TTHC là một quy trình chặt chẽ, toàn diện bắt đầu từ kiểm soát quy định về
TTHC trong dự án, dự thảo VBQPPL đến tổ chức thực hiện TTHC này trên thực tế, trong đó bao
gồm các nội dung chủ yếu sau:
7
- Nhiệm vụ kiểm soát quy định TTHC Hướng dẫn thực hiện và thực hiện ĐGTĐ trong dự
thảo các VBQPPL trên cơ sở các tiêu chí về sự cần thiết, tính hợp lý, hợp pháp và tính hiệu quả;
Phối hợp tham gia ý kiến về quy định TTHC trong dự án, dự thảo VBQPPL;
Phối hợp thẩm định dự án, dự thảo VBQPPL trên cơ sở xem xét, đánh giá cụ thể về quy
định TTHC trong dự án, dự thảo VBQPPL.
Nhiệm vụ kiểm soát việc thực hiện TTHC
+ Công bố TTHC;
+ Công khai TTHC
Thực hiện báo cáo về tình hình kết quả thực hiện kiểm soát TTHC;
Giải quyết TTHC và đôn đốc giải quyết TTHC cho cá nhân, tổ chức;
Kiểm tra việc thực hiện công tác kiểm soát TTHC.
Nhiệm vụ rà soát, đánh giá, đơn giản hóa TTHC để đề nghị sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc
bãi bỏ, hủy bỏ quy định TTHC.
Nhiệm vụ tiếp nhận, xử lý PAKN về quy định hành chính của cá nhân, tổ chức.
8
II. HỆ THỐNG CƠ QUAN, ĐƠN VỊ KIỂM SOÁT TTHC
SƠ ĐỒ HỆ THỐNG CƠ QUAN, ĐƠN VỊ KIỂM SOÁT TTHC
Bộ, cơ quan
Bộ Tư
UBND
ngang Bộ
pháp
cấp tỉnh
Cục KSTTHC
Tổ chức
Sở
pháp chế
Tư pháp
Chỉ đạo,
hướng
dẫn, kiểm tra
về
chuyên môn,
nghiệp vụ
Phòng
Phòng
KSTTHC
KSTTHC
Cán bộ đầu
mối kiểm
soát TTHC ở
Tổng cục
và tương
đương, Vụ,
Cán bộ đầu mối
kiểm soát
TTHC ở Tổng
cục và
tương đương, Vụ,
Cục
Cán bộ đầu
mối kiểm
soát TTHC ở
Sở, ban,
ngành, UBND
cấp
Cục thuộc Bộ,
cơ quan
thuộc Bộ Tư pháp
huyện
ngang Bộ
9
CHƯƠNG II: QUY TRÌNH THỰC HIỆN KIỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
I. THAM GIA Ý KIẾN VỀ QUY ĐỊNH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
Việc tham gia ý kiến về quy định TTHC được thực hiện trên cơ sở quy định tại Khoản 2
Điều 1 Nghị định 48/2013/NĐ-CP (sửa đổi Điều 9 Nghị định 63/2010/NĐ-CP).
1. Vai trò của quy định TTHC trong dự án, dự thảo VBQPPL
Khi cần thiết có quy định TTHC thì quy định TTHC là một cấu thành quan trọng trong
dự án, dự thảo VBQPPL
Giải thích về thuật ngữ TTHC tại Nghị định số 63/2013/NĐ-CP cho phép chúng ta đánh
giá đúng ý nghĩa, vai trò của quy định TTHC trong quản lí hành chính nhà nước, cụ thể:
Quy định TTHC là một bảo đảm pháp lý cho việc thực hiện các quy định nội dung
Trong mối tương quan giữa quy định nội dung và quy định thủ tục của VBQPPL, thì quy
định TTHC là một bảo đảm pháp lý cho việc thực hiện các quy định nội dung. Quy định TTHC là
một bộ phận quan trọng của quy phạm pháp luật hành chính, là phƣơng tiện để đƣa các quy
phạm nội dung của Luật hành chính và một số ngành luật khác vào cuộc sống.
Quy phạm nội dung quy định các nguyên tắc quản lý, thẩm quyền của cơ quan quản lý
hành chính nhà nƣớc, quyền lợi và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức… và quy phạm TTHC chỉ ra
cách thức cụ thể để thực hiện các nội dung đó.
Ví dụ: từ quy phạm nội dung về khai sinh: trẻ em có quyền được khai sinh và có quốc tịch;
cha mẹ, ông bà, hoặc những người thân thích khác có trách nhiệm đi khai sinh cho trẻ em, pháp
luật hộ tịch quy định thủ tục “Đăng ký khai sinh” để bảo đảm thực hiện quyền khai sinh của trẻ
em...
Các quy phạm TTHC là phương tiện để thực hiện các quy phạm nội dung, thiếu các quy
phạm thủ tục thì việc áp dụng quy phạm nội dung sẽ không thống nhất, dễ mất trật tự trong hoạt
động quản lý. Thực tế, người dân quan tâm nhiều đến quy định TTHC vì quy định TTHC buộc họ
phải biết và chấp hành khi có yêu cầu hoặc đề nghị cơ quan hành chính giải quyết một công việc
hành chính cụ thể liên quan đến quyền, nghĩa vụ của họ. Đây cũng chính lý do để các cơ quan có
thẩm quyền đặt ra vấn đề hoàn thiện hệ thống quy phạm TTHC.
Quy định TTHC trực tiếp liên quan đến việc thực hiện thẩm quyền của các chủ thể
quản lí hành chính nhà nước và việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức
Mỗi một quy định TTHC đều có sự hiện hữu của hai nhóm chủ thể: cơ quan có thẩm
quyền giải quyết và cá nhân, tổ chức tham gia. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết đƣợc quyền
nhân danh nhà nƣớc buộc đối tƣợng tham gia phải tuân thủ quy định pháp luật, quy định TTHC
10
… (tính chất mệnh lệnh phục tùng, bất bình đẳng trong quan hệ). Vì tính chất này mà khi triển
khai thực hiện TTHC rất dễ dẫn đến tình trạng nhũng nhiễu, ban phát, “xin – cho”… nhất là khi
các quy định TTHC không đảm bảo rõ ràng, còn mập mờ, khó hiểu hoặc thiếu hợp lý, không phù
hợp với thực tiễn cuộc sống…
Có thể khẳng định quy định TTHC là một hiện hữu thực tế để minh chứng về giá trị hiệu
lực của quy định pháp luật với đời sống
dân sinh, phản ánh sống động về ý thức tuân thủ pháp luật và niềm tin của người dân đối
với các cấp chính quyền.
Quy định TTHC chuẩn mực là cơ sở để đảm bảo chấp hành nghiêm kỷ luật, kỷ cương
hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong quản lý hành chính nhà nước
Thông qua quy định TTHC chuẩn mực, cơ quan nhà nƣớc, cán bộ, công chức có thẩm
quyền và các tổ chức, cá nhân ở khu vực ngoài nhà nước có thể kiểm tra, giám sát việc giải quyết
TTHC của cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước; đồng thời thúc đẩy quá trình giải quyết công
việc nhanh chóng, chính xác theo đúng pháp luật, góp phần chống tham nhũng, sách nhiễu nhân
dân.
Quy định TTHC là biểu hiện trình độ văn minh trong tổ chức, điều hành hoạt động quản lý
của các cơ quan hành chính nhà nước. Do đó, TTHC chính là chất keo kết dính mọi yếu tố và sự
vận hành của nền hành chính.
Chất lượng và hiệu quả của TTHC liên quan đến chất lượng và hiệu quả giải quyết công
việc của cơ quan hành chính nhà nƣớc và cán bộ, công chức nhà nƣớc, biểu hiện cụ thể qua các
tiêu chí: giải quyết đúng quy định, giải quyết trong thời gian ngắn nhất (nhanh chóng, kịp thời) và
mang lại sự hài lòng cho cá nhân, tổ chức có yêu cầu giải quyết TTHC.
Quy định TTHC có ảnh hưởng, tác động lớn đến các hoạt động hợp tác kinh tế quốc tế
và thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
Giao lưu, hợp tác quốc tế và đầu tư nước ngoài có ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế -
xã hội. Trong xu thế liên kết, hội nhập, phân công lao động quốc tế, đầu tƣ nƣớc ngoài nói chung
và đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài nói riêng đang trở thành xu hƣớng của thời đại, đƣợc nhiều quốc
gia sử dụng nhƣ một chính sách lâu dài, ổn định. Đối với các nước đang phát triển, trong đó có
Việt Nam, thì hợp tác kinh tế quốc tế, thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài là con đƣờng tốt nhất để rút
ngắn sự tụt hậu so với các nƣớc khác và có điều kiện để phát huy những lợi thế so sánh của mình
trong phân công lao động và hợp tác quốc tế. Trước nhu cầu đó, vai trò trọng tâm, có tính chất
quyết định nằm ở chính hệ thống luật pháp nói chung và quy định TTHC nói riêng. Bởi vì hệ
thống luật pháp và quy định TTHC thân thiện, phù hợp chính là yếu tố quan trọng để thu hút,
khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài, dòng vốn nƣớc ngoài đầu tư vào Việt Nam.
11
Cải cách TTHC là nhiệm vụ cấp thiết, khó khăn, lâu dài và thường xuyên
TTHC là biểu hiện cụ thể của quản lý hành chính nhà nƣớc và có liên quan trực tiếp đến
thẩm quyền của cơ quan hành chính nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước. Mục tiêu cải cách
TTHC là đúng đắn, cần thiết nhưng việc thực hiện thì không đơn giản, vì đề xuất cắt giảm thủ
tục, hay yêu cầu cải tiến quy định thủ tục theo hƣớng tạo thuận lợi tối đa cho ngƣời dân, tổ chức,
tăng cường chức năng phục vụ, “công bộc” của phía cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước hoặc
phân tích, chỉ ra những hạn chế, bất cập của quy định thủ tục ….không phải lúc nào, bao giờ cũng
dễ được cơ quan quản lý, cơ quan chủ trì soạn thảo chấp nhận, đồng tình. Tuy nhiên, đấu tranh
với cái cũ, thực hiện những cái mới để xã hội phát triển, để bộ máy hành chính nhà nước ngày
càng phát huy tính hiệu lực, hiệu quả trong quản lý, vận hành luôn là đòi hỏi, thách thức của
nhiệm vụ cải cách TTHC.
Tóm lại, TTHC là một bộ phận quan trọng của VBQPPL, là bảo đảm pháp lý cho việc thực
hiện các quy phạm nội dung; quy định
TTHC là một hiện hữu thực tế để minh chứng về tính hiệu lực, hiệu quả của quy định pháp
luật hành chính với đời sống kinh tế - xã hội, đồng thời phản ánh sống động về ý thức tuân thủ
pháp luật và niềm tin của người dân đối với các cấp chính quyền; quy định TTHC chuẩn mực là
cơ sở để đảm bảo chấp hành nghiêm kỷ luật, kỷ cương hành chính. Vì vậy, việc kiểm soát chất
lượng quy định TTHC ngay từ khâu soạn thảo sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với việc nâng cao chất
lượng VBQPPL và việc triển khai thực hiện TTHC nói riêng, thi hành pháp luật nói chung trong
thực tế.
2. Tìm hiểu bản chất của hoạt động tham gia ý kiến về quy định TTHC
2.1. Tham gia ý kiến về quy định TTHC trong dự án, dự thảo VBQPPL là gì?
Lấy ý kiến là một công đoạn bắt buộc trong quá trình soạn thảo, ban hành VBQPPL; được
tiến hành trước khi gửi thẩm định và trách nhiệm thuộc về cơ quan chủ trì soạn thảo. Thời hạn lấy
ý kiến đƣợc quy định tối thiểu là sáu mƣơi ngày. Đối tượng lấy ý kiến gồm: toàn thể công chúng,
đặc biệt là các những đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản và các cơ quan, tổ chức
hữu quan.
Tham gia ý kiến về quy định TTHC được xác định là hoạt động chuyên môn. Người tham
gia ý kiến dựa trên kiến thức chuyên môn về TTHC, kiểm soát TTHC và kinh nghiệm thực tiễn
để thể hiện quan điểm đồng ý hay không đồng ý với cơ quan chủ trì soạn thảo dự án, dự thảo
VBQPPL về quy định TTHC trên cơ sở đánh giá, nhận xét (chỉ ưu điểm, hạn chế, bất cập…) của
quy định TTHC, đồng thời đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo chuẩn hóa quy định TTHC theo các
tiêu chí xác định.
12
Hoạt động tham gia ý kiến về quy định TTHC gắn với trách nhiệm gửi lấy ý kiến của cơ
quan chủ trì soạn thảo và được giới hạn nhất định trong khoảng thời gian cơ quan chủ trì soạn
thảo phải gửi lấy ý kiến về dự án, dự thảo VBQPPL.
2. Mục đích của việc tham gia ý kiến về quy định TTHC trong dự án, dự thảo
VBQPPL
Tham gia ý kiến về quy định TTHC trong dự án, dự thảo VBQPPL để giúp cơ quan chủ trì
soạn thảo “sàng lọc4” các quy định về TTHC, giảm áp lực về mặt thời gian cũng như trách nhiệm
cho các cơ quan chức năng khác, đảm bảo tính công bằng, khách quan của các quy định; hài hòa
các mục tiêu quản lý nhà nước và tạo thuận lợi tối đa cho đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của
quy định TTHC.
Sàng lọc là loại bỏ hoặc chọn lấy: loại bỏ những cái không cần thiết không đạt yêu cầu;
lựa chọn những cái cần thiết, đạt yêu cầu.
Mục đích quan trọng của hoạt động tham gia ý kiến là để góp phần tạo lập các quy định
TTHC tốt, đạt chất lƣợng, đáp ứng các tiêu chí chuẩn của một TTHC, góp phần nâng cao chất
lượng của dự án, dự thảo VBQPPL, mang lại hiệu lực, hiệu quả cho hoạt động quản lý hành
chính nhà nước.
3 .Yêu cầu của việc tham gia ý kiến về quy định TTHC trong dự án, dự thảo
VBQPPL
Để đạt được mục đích đề ra, người tham gia ý kiến phải nắm chắc yêu cầu về nghiệp vụ
kiểm soát quy định TTHC và quan hệ phối hợp trong công tác...
5. Trách nhiệm tham gia ý kiến về quy định TTHC
Các cơ quan sau đây có trách nhiệm tham gia ý kiến về quy định TTHC:
Bộ Tư pháp: cho ý kiến về TTHC quy định trong dự án VBQPPL do Chính phủ trình Quốc
hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, dự thảo VBQPPL thuộc thẩm quyền ban hành của Chính phủ,
Thủ tƣớng Chính phủ, trong đó, Cục KSTTHC là cơ quan chịu trách nhiệm chuẩn bị các ý kiến
góp ý về quy định TTHC.
Tổ chức pháp chế Bộ, cơ quan ngang Bộ: cho ý kiến về TTHC quy định trong dự thảo
VBQPPL thuộc thẩm quyền ban hành của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ;
Tổ chức pháp chế thuộc cơ quan: Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Ngân hàng Phát triển Việt
Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội cho ý kiến về thủ tục giải quyết công việc được hướng dẫn
trong dự thảo văn bản thuộc thẩm quyền của Tổng Giám đốc: Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Ngân
hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội.
Phòng KSTTHC thuộc Tổ chức pháp chế chịu trách nhiệm chuẩn bị ý kiến góp ý về quy
định TTHC.
13
Sở Tư pháp: cho ý kiến về TTHC quy định trong dự thảo VBQPPL thuộc thẩm quyền ban
hành của UBND cấp tỉnh; Phòng KSTTHC thuộc Sở Tư pháp chịu trách nhiệm chuẩn bị ý kiến
góp ý về quy định TTHC.
6. Phương thức tham gia ý kiến về quy định TTHC
Ý kiến tham gia về quy định TTHC tại dự án, dự thảo VBQPPL đƣợc thể hiện dưới hình
thức văn bản. Tùy thuộc vào nội dung cần tham gia ý kiến và thời gian cho ý kiến, cơ quan có
trách nhiệm tham gia ý kiến về quy định TTHC có thể lựa chọn phương thức nghiên cứu độc lập
để xây dựng văn bản tham gia ý kiến hoặc tổ chức lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức liên quan
và đối tƣợng chịu sự tác động trực tiếp của quy định TTHC để tổng hợp thành văn bản tham gia
ý kiến gửi cơ quan chủ trì soạn thảo.
Thông thường, khi nhận được hồ sơ gửi đề nghị tham gia ý kiến về quy định TTHC, thủ
trưởng cơ quan, đơn vị được phân công quản lý, theo dõi ngành, lĩnh vực có trách nhiệm tổ chức
nghiên cứu độc lập và phân công cho một hoặc một nhóm chuyên viên chuẩn bị văn bản tham gia
ý kiến về quy định TTHC.
Trong trường hợp cần thiết, các cơ quan được phân công chuẩn bị ý kiến tham gia về quy
định TTHC có thể báo cáo Lãnh đạo cơ quan, đơn vị để tổ chức lấy ý kiến cơ quan, tổ chức có
liên quan và đối tượng chịu sự tác động của quy định về TTHC bằng hình thức tham vấn, hội
nghị, hội thảo hoặc thông qua biểu mẫu lấy ý kiến do Bộ Tư pháp ban hành. Cách thức này giúp
thu thập được các thông tin từ thực tế khách quan thông qua ý kiến tham gia của các đại biểu đại
diện cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân; đồng thời tạo cơ hội, điều kiện thuận lợi để các cơ quan,
tổ chức, cá nhân được đóng góp ý kiến, xây dựng quy định về TTHC. Tuy nhiên, để có chất
lượng, hiệu quả trong khi lấy ý kiến, cơ quan có trách nhiệm tham gia ý kiến về quy định TTHC
phải phân tích, định hướng vấn đề cần tham vấn, hoặc đưa ra các gợi ý để tập trung thảo luận.
Các trường hợp cần thiết tổ chức lấy ý kiến cơ quan, tổ chức có liên quan và đối tượng
chịu sự tác động của quy định TTHC là những trường hợp nào? Do việc tổ chức lấy ý kiến về quy
định TTHC có thể làm kéo dài thời gian tham gia ý kiến, làm chậm thời hạn phải gửi văn bản
tham gia ý kiến về quy định TTHC. Vì vậy, chỉ trong các trường hợp cần thiết, cơ quan có trách
nhiệm tham gia ý kiến về quy định TTHC mới tổ chức lấy ý kiến. Có thể xác định các trường hợp
sau đây là trường hợp cần thiết:
Quy định TTHC tiềm ẩn nhiều tác động tiêu cực như quá nhiều thành phần giấy tờ trong
hồ sơ thủ tục, trình tự thực hiện rƣờm rà, phức tạp, tốn nhiều thời gian thực hiện, có khả năng
tăng chi phí, rủi ro cho doanh nghiệp, người dân và cả cơ quan nhà nước liên quan, như các thủ
tục trong lĩnh vực kinh doanh đặt cược quy định tại dự thảo Nghị định của Chính phủ về kinh
doanh đặt cược;
14
Quy định TTHC có liên quan đến thẩm quyền giải quyết của nhiều cơ quan;
Quy định TTHC thuộc các lĩnh vực trọng tâm cần tập trung như: Đầu tư; đất đai; xây
dựng; sở hữu nhà ở; thuế; hải quan; xuất khẩu, nhập khẩu; y tế; giáo dục; lao động; bảo hiểm;
khoa học, công nghệ và các lĩnh vực khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định theo yêu cầu cải
cách trong từng giai đoạn;
Quy định TTHC có liên quan đến việc thực hiện các điều ước, hiệp ước, cam kết quốc tế...
7. Tiêu chí chuẩn của quy định TTHC
Dựa trên các tiêu chí nào để xác định một TTHC đạt chất lượng tốt?
Một quy định TTHC đạt yêu cầu, có chất lƣợng tốt phải đáp ứng được các tiêu chí chuẩn.
Tiêu chí chuẩn của quy định TTHC là gì? Có thể hiểu, tiêu chí chuẩn của quy định TTHC
là những dấu hiệu được xác định, công nhận, hoặc được quy định dùng làm căn cứ đánh giá, đo
lường chất lượng của các quy định TTHC.
Đạt được tiêu chí chuẩn của quy định TTHC tức là đạt được mục tiêu của hoạt động kiểm
soát TTHC. Tiêu chí chuẩn của quy định TTHC không chỉ giúp cơ quan kiểm soát TTHC trong
công tác tham gia ý kiến, kiểm soát việc thực hiện mà còn giúp cơ quan chủ trì soạn thảo nâng
cao chất lượng quy định TTHC nói riêng, chất lượng văn bản nói chung; giúp cơ quan thẩm định,
cơ quan thẩm tra xem xét, đánh giá dự án, dự thảo VBQPPL cũng như quy định TTHC trong dự
án, dự thảo VBQPPL.
Trên cơ sở quy định tại Điều 7 và 8 của Nghị định 63/2010/NĐ-CP, có thể xác định các
tiêu chí sau đây là tiêu chí chuẩn của một quy định TTHC:
8. Nội dung tham gia ý kiến
Tham gia ý kiến về quy định TTHC là hoạt động chuyên môn, ngƣời tham gia ý kiến dựa
trên kiến thức chuyên môn về TTHC, kiểm soát TTHC và kinh nghiệm thực tiễn để đưa ra những
đánh giá, nhận xét (chỉ ra ưu điểm, hạn chế, bất cập…) của quy định TTHC, đồng thời thể hiện
quan điểm đồng ý hay không đồng ý với cơ quan chủ trì soạn thảo dự án, dự thảo VBQPPL về
quy định TTHC và đề nghị chuẩn hóa quy định TTHC theo các tiêu chí đã xác định.
Vậy, cần tham gia vào những vấn đề gì của quy định TTHC? Để có thể đưa ra được quan
điểm đồng ý hay không đồng ý với cơ quan chủ trì soạn thảo về quy định TTHC; đồng thời đưa
ra những đánh giá, nhận xét (chỉ ra ưu điểm, hạn chế, bất cập…) của quy định TTHC và đề nghị
chuẩn hóa quy định TTHC theo các tiêu chí xác định, cơ quan tham gia ý kiến về quy định TTHC
phải tập trung rõ các nội dung sau đây của quy định TTHC trong dự án, dự thảoVBQPPL:
8.1. Xác định có hay không có quy định TTHC trong dự án, dự thảo VBQPPL
Đây là nội dung cần xác định trước tiên để bảo đảm ý kiến tham gia phù hợp với phạm vi,
trách nhiệm của cơ quan kiểm soát TTHC.
15
8.2. Tham gia ý kiến về quy định TTHC trên cơ sở các nguyên tắc quy định tại Điều 7
Nghị định 63/2010/NĐ-CP
Xem xét, đánh giá quy định TTHC trên cơ sở các nguyên tắc quy định tại Điều 7 Nghị
định 63/2010/NĐ-CP giúp cơ quan kiểm soát TTHC có cơ sở để thể hiện quan điểm đồng ý hay
không đồng ý về quy định TTHC, đồng thời đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo hoàn chỉnh hoặc
loại bỏ quy định TTHC trong dự án, dự thảo VBQPPL.
Trên cơ sở nguyên tắc quy định TTHC, khi tham gia ý kiến, cơ quan có trách nhiệm phải
nhận xét, đánh giá được các nội dung sau đây:
Quy định TTHC phải bảo đảm quyền bình đẳng của các đối tượng thực hiện TTHC
Tiết kiệm thời gian và chi phí của các cá nhân, tổ chức và cơ quan hành chính nhà
nước
Đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất, đồng bộ của các quy định về TTHC
Bảo đảm tính liên thông giữa các quy định TTHC có liên quan
Thực hiện phân công, phân cấp rõ ràng, minh bạch, hợp lý
8.3. Tham gia ý kiến về quy định TTHC theo nội dung quy định tại Điều 8 Nghị định
63/2010/NĐ-CP
Điều 8 Nghị định 63/2010/NĐ-CP xác định các yêu cầu khi quy định TTHC. Tham gia ý
kiến chính là xem xét, góp ý để quy định TTHC bảo đảm đáp ứng được các yêu cầu đó. Khái quát
yêu cầu quy định tại Điều 8 nêu trên, ở mục “Tiêu chí chuẩn của quy định TTHC” đã xác định
hai tiêu chí: “cấu trúc bên trong của quy định TTHC phù hợp, rõ ràng, khoa học” và “ngôn ngữ,
kỹ thuật soạn thảo chuẩn mực, rõ ràng, dễ hiểu”. Trên cơ sở các tiêu chí đó, ý kiến tham gia cần
tập trung làm rõ các vấn đề sau đây:
- Về hình thức của văn bản chứa đựng quy định TTHC
- Các bộ phận tạo thành một TTHC
8.4. Xem xét, đánh giá về kỹ thuật, ngôn ngữ soạn thảo quy định TTHC
Quy định TTHC phải bảo đảm chuẩn mực, rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu và dễ thực hiện. Đó
là tiêu chí đạt chuẩn về kỹ thuật, ngôn ngữ soạn thảo quy định TTHC. Trên cơ sở tiêu chí chuẩn
về kỹ thuật, ngôn ngữ soạn thảo quy định TTHC, cơ quan tham gia ý kiến phải đối chiếu, nghiên
cứu kỹ các quy định; nếu quy định có hạn chế về kỹ thuật soạn thảo thì cơ quan tham gia ý kiến
phải đưa ra được nhận xét cụ thể về các hạn chế đó của quy định thủ tục, đồng thời đề nghị
hướng chỉnh sửa. Hạn chế về kỹ thuật soạn thảo quy định TTHC có thể biểu hiện như sau:
Bố cục, kết cấu về quy định TTHC lộn xộn, thiếu chặt chẽ: Cùng một quy định TTHC
nhưng bị xé lẻ ở nhiều điều, nhiều mục thậm chí ở nhiều văn bản khác nhau, kết cấu không hợp
lý, không theo trình tự thời gian của sự việc, ví dụ: quy định về nội dung lại đặt sau quy định thủ
16
tục hoặc quy định về hồ sơ, trình tự thực hiện thủ tục lại được đặt trước quy định về yêu cầu, điều
kiện thực hiện thủ tục…
Ngôn ngữ, văn phong, cách diễn đạt không chính xác, khó hiểu, “mập mờ”, dẫn đến người
tuân thủ có thể diễn dịch quy định cho phù hợp với lợi ích của bản thân mình hoặc ngườì thi hành
có thể tùy tiện thực hiện để làm khó cho đối tượng tham gia…
Quy định TTHC trong dự thảo VBQPPL không viện dẫn mà sao chép, “nhắc lại” quy định
thủ tục ở VBQPPL có hiệu lực pháp lý cao hơn dẫn đến lãng phí về thời gian, kinh phí, thậm chí
có thể hiểu sai khi áp dụng.
II. THẨM ĐỊNH VỀ QUY ĐỊNH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
Cơ sở pháp lý của việc thẩm định quy định TTHC được thực hiện theo quy định tại Khoản
3 và Khoản 4 Điều 1 Nghị định 48/2013/NĐ-CP (sửa đổi Điều 10 và Điều 11 Nghị định
63/2010/NĐ-CP).
1. Mục đích, ý nghĩa của việc thẩm định về quy định TTHC
1.1. Thẩm định về quy định TTHC là một nội dung của thẩm định dự án, dự thảo
VBQPPL
Thẩm định về quy định TTHC là hoạt động xem xét, đánh giá dự án, dự thảo VBQPPL
dưới góc độ cụ thể về quy định TTHC.
Thẩm định về quy định TTHC có đặc điểm, tính chất sau đây:
Việc thẩm định về quy định TTHC được hình thành từ yêu cầu kiểm soát các quy định
TTHC và gắn kết chặt chẽ với hoạt động thẩm định dự án, dự thảo VBQPPL.
Thẩm định về quy định TTHC là hoạt động có tính chuyên môn cao. Người tham gia thẩm
định về quy định TTHC dựa trên kiến thức nghiệp vụ về cải cách TTHC, kiểm soát TTHC và
kinh nghiệm thực tiễn để xem xét, đánh giá quy định TTHC dƣới các tiêu chí cụ thể, đồng thời
thể hiện quan điểm đồng ý hay không đồng ý với nội dung quy định TTHC tại dự án, dự thảo
VBQPPL; trên cơ sở đó, đưa ra các đề nghị thiết thực, cụ thể để hoàn thiện hoặc đơn giản hóa các
quy định TTHC.
Thẩm định quy định TTHC là kiểm định lại nội dung, kết quả chuẩn bị của cơ quan chủ trì
soạn thảo về quy định TTHC. Thông qua việc thực hiện thẩm định quy định TTHC, buộc cơ quan
chủ trì soạn thảo phải đề cao tinh thần trách nhiệm khi thiết lập các quy định TTHC cũng như
phải chuẩn bị kỹ nội dung dự án, dự thảo VBQPPL trước và sau khi gửi thẩm định.
1.2. Mục đích, ý nghĩa của việc thẩm định về quy định TTHC
Thẩm định quy định TTHC để góp phần tạo lập các quy định TTHC thật sự cần thiết, hợp
pháp, thống nhất, đạt chất lƣợng, đáp ứng các tiêu chí chuẩn của một TTHC.
Thẩm định quy định TTHC là cách nhìn nhận, đánh giá khách quan, công bằng đối với dự
án, dự thảo VBQPPL ở góc độ cụ thể về quy định TTHC, giúp ngăn chặn những quy định TTHC
17
không cần thiết, không hợp lý, không hợp pháp và không hiệu quả; đồng thời giúp cơ quan chủ trì
soạn thảo tiếp tục hoàn thiện quy định TTHC đảm bảo chất lượng, khả thi, phục vụ phát triển
kinh tế - xã hội. Nếu một quy định TTHC kém chất lượng, thiếu khả thi thì không chỉ ảnh hưởng
trực tiếp đến một ngành, lĩnh vực mà còn ảnh hưởng đến toàn hệ thống cơ quan hành pháp và cả
nền kinh tế.
Thẩm định quy định TTHC giúp đánh giá những mặt được, chưa được của quy định
TTHC, từ đó đề xuất giải pháp phù hợp để nâng cao chất lượng quy định.
Trong vai trò độc lập, khách quan, cơ quan có chức năng thẩm định sẽ đánh giá, nhìn nhận
nội dung dự án, dự thảo VBQPPL một cách tổng thể, đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng, xã
hội, nhà nƣớc, ngăn ngừa những quy định nội dung, quy định TTHC có tính chất bản vị, cục bộ
chỉ có lợi cho một ngành, lĩnh vực, hoặc một địa phương mà gây tác động xấu đến lợi ích chung
của cả nước.
Thẩm định quy định TTHC cũng chính là biện pháp để kiểm định lại kết quả làm việc của
cơ quan chủ trì soạn thảo trong thực hiện các công đoạn của quy trình soạn thảo, như: ĐGTĐ, lấy
ý kiến cơ quan, tổ chức, cá nhân về dự án, dự thảo VBQPPL, trong đó đặc biệt là việc lấy ý kiến
cơ quan có chức năng kiểm soát TTHC về quy định TTHC, cũng như việc giải trình, tiếp thu ý
kiến để hoàn thiện dự án, dự thảo VBQPPL.
Thẩm định quy định TTHC chính là cơ chế để đảm bảo, tăng cường và nâng cao trách
nhiệm phối hợp, giám sát của các cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động xây dựng, ban hành
VBQPPL nói chung, TTHC nói riêng.
Thẩm định quy định TTHC có ý nghĩa định hƣớng, chỉ dẫn và cung cấp các thông tin cần
thiết cho cơ quan, người có thẩm quyền ban hành VBQPPL; giúp cơ quan, người có thẩm quyền
ban hành VBQPPL xem xét, quyết định việc ban hành VBQPPL.
Thẩm định dự án, dự thảo VBQPPL, trong đó có thẩm định quy định TTHC đóng vai trò
quan trọng trong hoạt động xây dựng, ban hành VBQPPL, thể hiện vai trò “tiền kiểm” với mục
đích xem xét, đánh giá, phản biện nhằm chỉ rõ các hạn chế, bất cập trong nội dung dự án, dự thảo
VBQPPL, nội dung quy định TTHC giúp cơ quan chủ trì soạn thảo có biện pháp khắc phục và cơ
quan có thẩm quyền ban hành VBQPPL có thêm thông tin để quyết định ký ban hành hoặc thông
qua VBQPPL.
2. Yêu cầu của việc thẩm định về quy định TTHC
Khi thực hiện thẩm định về quy định TTHC, người thực hiện phải nắm vững một số yêu
cầu cơ bản sau đây:
Nội dung thẩm định quy định TTHC bảo đảm tuân thủ nghiêm quy định của tại Khoản 3
và Khoản 4 Điều 1 Nghị định 48/2013/NĐ-CP (sửa đổi Điều 10 và Điều 11 Nghị định
63/2010/NĐ-CP) và phù hợp với pháp luật, chủ trương, chính sách hiện hành của Nhà nước.
18
Nắm vững tính chất, đặc điểm và các tiêu chí chuẩn của quy định TTHC; hiểu rõ nội dung,
yêu cầu ĐGTĐ. Trên cơ sở đó xem xét, đánh giá quy định TTHC dưới giác độ các tiêu chí: cần
thiết, hợp lý, hợp pháp và hiệu quả.
Độc lập trong quá trình thực hiện thẩm định quy định TTHC, bảo đảm không bị chi phối
hay bị can thiệp bởi cá nhân hay tổ chức nào. Người thẩm định quy định TTHC phải khách quan,
trung thực, nêu cao ý thức trách nhiệm, tinh thần hợp tác, chính xác, toàn diện.
Trong khi thực hiện việc thẩm định quy định TTHC phải thường xuyên liên hệ chặt chẽ
với cơ quan chủ trì thẩm định; tham khảo thêm ý kiến của các đơn vị, tổ chức, chuyên gia về
ngành, lĩnh vực có liên quan; đồng thời khảo sát nhanh tình hình thực tiễn và ý kiến của đối
tượng chịu sự tác động trực tiếp của quy định TTHC để có ý kiến thẩm định sâu về tiêu chí hợp
lý của quy định TTHC.
Có kiến thức sâu, rộng về ngành, lĩnh vực liên quan đến quy định TTHC cần xem xét,
đánh giá. Ý kiến thẩm định phải thể hiện rõ quan điểm đồng ý hay không đồng ý về nội dung quy
định TTHC và có lý lẽ, lập luận khi trình bày quan điểm đó; đồng thời chỉ ra giải pháp, hướng đi
cho cơ quan chủ trì soạn thảo. Phát hiện, làm rõ những mặt hạn chế, không chính xác, không đầy
đủ… cũng như các rủi ro tiềm ẩn của quy định TTHC.
Thực hiện thẩm định kịp thời, đúng tiến độ theo yêu cầu, bảo đảm làm ảnh hưởng thời hạn
quy định chung về thẩm định cũng như quy trình soạn thảo VBQPPL.
3. Trách nhiệm thẩm định quy định về TTHC
Bộ Tư pháp, Tổ chức pháp chế Bộ, cơ quan ngang Bộ và Sở Tư pháp có chức năng thẩm
định dự án, dự thảo VBQPPL, cụ thể như sau:
Bộ Tư pháp có trách nhiệm thẩm định dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết do
Chính phủ trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội; dự thảo nghị định của Chính phủ; dự thảo
quyết định của Thủ tướng Chính phủ; Tổ chức pháp chế Bộ, cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm
thẩm định dự thảo thông tư do các đơn vị khác thuộc bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì soạn thảo;
Sở Tư pháp có trách nhiệm thẩm định nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh do Uỷ
ban nhân dân cùng cấp trình; dự thảo quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.
Ngoài việc thẩm định nội dung dự án, dự thảo VBQPPL theo quy định của Luật Ban hành
VBQPPL, các cơ quan nêu trên còn có trách nhiệm thẩm định quy định về TTHC theo quy định
của Nghị định 48/2013/NĐ-CP. Thẩm định quy định về TTHC là nhiệm vụ bắt buộc đòi hỏi cơ
quan thẩm định phải tổ chức thực hiện đồng thời với việc thẩm định nội dung dự án, dự thảo
VBQPPL.
Trong phạm vi nội bộ của mình, Thủ trưởng cơ quan thẩm định giao trách nhiệm chủ trì
thẩm định cho một đơn vị chức năng và trách nhiệm tham gia thẩm định quy định về TTHC cho
cơ quan, đơn vị kiểm soát TTHC, cụ thể như sau:
19
Ở Bộ Tư pháp, cơ quan tham gia thẩm định quy định TTHC là Cục KSTTHC;
Tổ chức pháp chế ở các Bộ, ngành Trung ƣơng giao trách nhiệm tham gia thẩm định quy
định TTHC cho Phòng KSTTHC trực thuộc;
Ở Sở Tư pháp, trách nhiệm tham gia thẩm định quy định TTHC được giao cho Phòng
KSTTHC.
Cục KSTTHC thuộc Bộ Tư pháp, các Phòng KSTTHC thuộc Tổ chức pháp chế Bộ, ngành
Trung ương và các Phòng KSTTHC thuộc Sở Tư pháp phải chịu trách nhiệm phối hợp chặt chẽ
với cơ quan chủ trì thẩm định để bảo đảm thực hiện đúng yêu cầu về tiến độ, chất lượng thẩm
định dự án, dự thảo VBQPPL.
Tùy theo yêu cầu thực tế và đề nghị của cơ quan chủ trì thẩm định, Cục KSTTHC, các
Phòng KSTTHC có thể tham gia thẩm định bằng hình thức văn bản hoặc phát biểu trực tiếp tại
cuộc họp thẩm định hoặc tƣ vấn thẩm định dự án, dự thảo VBQPPL.
20
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Kiểm soát thủ tục hành chính", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giao_trinh_kiem_soat_thu_tuc_hanh_chinh.pdf

