Tội phạm có tổ chức và phương hướng hoàn thiện pháp luật hình sự ở Việt Nam

TỘI PHẠM CÓ TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG HƯỚNG  
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM  
PHẠM CÔNG TÙNG*  
Tội phạm có tổ chức được xem là một hiện tượng xã hội tiêu cực hình thành khá sớm  
trên thế giới và ở Việt Nam với nhiều hình thức khác nhau và diễn biến ngày càng phức  
tạp, khó lường. Trên cơ sở nghiên cứu, bài viết tập trung làm rõ một số vấn đề về khái  
niệm, đặc trưng, các mối quan hệ cơ bản của tội phạm có tổ chức, từ đó đề xuất phương  
hướng góp phần hoàn thiện pháp luật hình sự ở Việt Nam trong thời gian tới.  
Từ khóa: Tội phạm có tổ chức; phòng, chống tội phạm có tổ chức.  
Ngày nhận bài: 17/4/2021; Biên tập xong: 26/4/2021; Duyệt đăng: 26/4/2021  
Organized crime is considered as an early negative social phenomenon in the  
world and Vietnam with different forms and complicated raising. The article clarifies  
definition, characteristics and basic relationships of organized crime, thereby proposes  
directions to perfect Vietnamese criminal law in the near future.  
Keywords: Organized crime, preventing and fighting against organized crime.  
1. Khái niệm tội phạm có tổ chức  
về việc mô tả hình thức thực hiện tội phạm  
của nhiều người là thành viên của tổ chức tội  
phạm hoặc của nhiều tổ chức tội phạm: “Tội  
phạm có tổ chức là hoạt động tội phạm của những  
nhóm người thực hiện tội phạm nghiêm trọng với  
kế hoạch đã được tính trước, có sự phân công cho  
thời gian dài nhằm thu được lợi nhuận”.3  
Tại Việt Nam, đa số các học giả cũng cho  
rằng: “Tội phạm có tổ chức là tội phạm được thực  
hiện có tính hệ thống bởi tổ chức tội phạm thực hiện  
bằng thủ đoạn phạm tội có tổ chức nhằm mục đích  
lợi ích vật chất bất hợp pháp”.4  
Trên thế giới, tội phạm có tổ chức được  
nhiều học giả, các cơ quan, tổ chức tại các quốc  
gia và quốc tế nghiên cứu, định nghĩa theo  
nhiều góc độ khác nhau như khoa học luật  
hình sự, tội phạm học, xã hội học, khoa học  
điều tra tội phạm, tâm lý học… Tuy nhiên, hầu  
hết các định nghĩa mới chỉ mô tả được về mặt  
hình thức hoặc một số đặc điểm cơ bản của tội  
phạm có tổ chức. Vì vậy, các định nghĩa còn có  
nhiều cách hiểu chưa thống nhất, cụ thể như  
sau:  
Có ý kiến cho rằng, tội phạm có tổ chức là  
khái niệm chỉ hoạt động (tội phạm) của tổ chức  
tội phạm, hoặc nói cách khác là chỉ hoạt động  
(tội phạm) do tổ chức tội phạm thực hiện. Theo  
đó, “bất kỳ nhóm nào có một số cách cấu trúc được  
chính thức hóa và có mục tiêu chính là thu được  
tiền thông qua các hoạt động bất hợp pháp “.1  
Ý kiến khác lại xác định tội phạm có tổ chức  
là một bộ phận trong cơ cấu chung của các tội  
phạm đã xảy ra khi cho rằng hiện tượng tội  
phạm có tổ chức là “tổng thể tất cả tội phạm đã  
được thực hiện có kế hoạch bởi những nhóm người  
được liên kết với nhau thành hệ thống có sự phân  
cấp rõ ràng của trật tự trên - dưới ”.2  
Tuy nhiên, một số ít các học giả định nghĩa:  
“Tội phạm có tổ chức là một hiện tượng xã hội tiêu  
cực phản ánh việc các cá nhân liên kết với nhau  
trong một cơ cấu bền vững hoặc linh hoạt để thực  
hiện hoạt động phạm tội nhằm đạt được mục đích  
kinh tế, chính trị, tôn giáo hoặc mục đích khác”.5  
Hoặc ý kiến đã đồng nhất khái niệm tội phạm  
có tổ chức với khái niệm đồng phạm có tổ chức (hay  
còn gọi là phạm tội có tổ chức) trong Bộ luật  
hình sự Việt Nam.  
* Thạc sĩ, Khoa Luật, Học viên An ninh nhân dân  
3ꢀ Xem: Wolfgang Steinke, in Kriminalistik 2/1982 tr.82.  
4ꢀ Xem: Hoàng Anh Tuyên, “Bàn về các khái niệm tổ  
chức tội phạm, tội phạm có tổ chức và tội phạm có tổ chức  
xuyên quốc gia”, Tạp chí Kiểm sát số 19, tháng 10/2009.  
Hoặc cách định nghĩa tội phạm có tổ chức  
1ꢀ  
Xem: Wikipedia. Link: de.wikipedia.org/wiki/ 5ꢀ Xem: Nguyễn Khắc Hải, “Nhận diện tội phạm có tổ  
Organnisierte Kriminalitaet, truy cập ngày 15/4/2021. chức”, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội,  
2ꢀ Xem: Hans Kollmar, in Kriminalistik 1/1974 tr.7.  
Luật học, tập 29, số 4 (2013), tr. 30– 43.  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát  
5
TỘI PHẠM CÓ TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG HƯỚNG...  
Có thể thấy rằng, các cách định nghĩa về tội điều này đã dẫn tới các cách định nghĩa khác  
nhau về tội phạm có tổ chức. Tổ chức tội phạm  
theo pháp luật quốc tế và trong pháp luật hình  
sự của các quốc gia được xác định gồm:  
phạm có tổ chức trên thế giới và ở Việt Nam  
mới chỉ tập trung làm rõ một số dấu hiệu đặc  
trưng của tội phạm có tổ chức chứ chưa phản  
ánh đầy đủ tính chất, dấu hiệu đặc trưng về  
cấu trúc, hoạt động và những vấn đề nảy sinh  
khác trong thực tiễn phòng, chống tội phạm có  
tổ chức. Ở phương diện lý luận, định nghĩa về  
tội phạm có tổ chức cần phải thống nhất một  
số vấn đề: Tội phạm có tổ chức do “nhóm có  
tổ chức” hay “nhóm người có sự liên kết chặt  
chẽ” vì nó biểu đạt đặc điểm của nhóm, tổ  
chức tội phạm và phạm tội có tổ chức (trường  
hợp chưa hình thành tổ chức tội phạm hay  
nhóm tội phạm chưa rõ nét); số lượng thành  
viên tham gia thực hiện tội phạm có tổ chức;  
tính tổ chức của nhóm người phạm tội; tính  
tổ chức trong từng hành vi phạm tội cụ thể và  
mối quan hệ giữa hai mối liên hệ đó; thời gian  
tồn tại của mối liên kết; loại tội phạm căn cứ  
theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội  
của hành vi mà tội phạm có tổ chức thực hiện;  
mục đích thực hiện hoạt động tội phạm của tội  
phạm có tổ chức; loại tội phạm phổ biến mà tội  
phạm có tổ chức thực hiện; các mối quan hệ cơ  
bản của tội phạm có tổ chức với các hình thức  
phạm tội khác.  
Thứ nhất, tổ chức tội phạm là loại tổ chức  
kiểu “Mafia” có mức độ tổ chức cao nhất6;  
Thứ hai, tổ chức tội phạm bao gồm cả tổ  
chức tội phạm kiểu “Mafia” và hội tội phạm có  
mức độ tổ chức thấp hơn7;  
Thứ ba, tổ chức tội phạm là băng, nhóm tội  
phạm và hội tội phạm8;  
Thứ tư, tổ chức tội phạm là tổ chức có  
những đặc điểm nhất định.  
Như vậy, căn cứ vào mức độ tổ chức có thể  
chia tội phạm có tổ chức thành dạng “Mafia”  
và tổ chức tội phạm khác (băng, nhóm hoặc hội  
tội phạm).  
Các định nghĩa về tội phạm có tổ chức dựa  
trên cách xác định tổ chức tội phạm đều thể  
hiện được đặc điểm chung và cũng là đặc điểm  
tối thiểu của một tổ chức tội phạm là: Tổ chức  
tội phạm là một nhóm được hình thành từ ít  
nhất 03 người, được tổ chức trong một thời  
gian, hoạt động có sự phối hợp và mục đích là  
thực hiện các tội phạm nhất định9.  
Khi định nghĩa về tội phạm có tổ chức,  
không được đồng nhất khái niệm tội phạm  
có tổ chức với tổ chức phạm tội. “Tổ chức”  
xét dưới nghĩa danh từ là tập hợp những cá  
nhân được tổ chức lại, hoạt động vì những  
quyền lợi chung, nhằm mục đích chung. Như  
vậy, “Tổ chức tội phạm” được hiểu là tập hợp  
người được tổ chức lại dưới các hình thức  
nhóm phạm tội với mục đích cấu kết lâu dài,  
bền vững với nhau để thực hiện tội phạm. Tuy  
nhiên, không phải băng, ổ, nhóm nào cũng đều  
là tổ chức tội phạm và không phải tổ chức tội  
phạm nào cũng có thể được xác định là chủ thể  
thực hiện tội phạm của tội phạm có tổ chức,  
mà chỉ một số có mức độ, có cấu kết, có tính  
cộng đồng bền vững; lập ra và hoạt động trong  
một thời gian khá dài, có quy định chặt chẽ về  
mặt tổ chức; có kết cấu chặt chẽ gồm nhiều cấp  
Qua nghiên cứu các văn kiện pháp lý quốc  
tế và pháp luật một số quốc gia trên thế giới  
quy định về tội phạm có tổ chức xác định  
tội phạm có tổ chức do chủ thể là tổ chức tội  
phạm tiến hành, không thể định nghĩa đúng  
tội phạm có tổ chức nếu không đề cập đến  
tổ chức tội phạm hay gắn nó với tổ chức tội  
phạm. Theo nghĩa rộng, tội phạm có tổ chức  
còn bao gồm cả hành vi liên quan đến sự hình  
thành, tồn tại của tổ chức tội phạm và những  
hành vi này được pháp luật hình sự quy định  
là tội phạm. Đây là cách hiểu về tội phạm có  
tổ chức trong Công ước của Liên hợp quốc về  
chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia. Cụ  
thể, Điều 2 và Điều 3 Công ước quy định tội  
phạm có tổ chức là tội phạm được thực hiện  
bởi tổ chức tội phạm, còn việc yêu cầu các  
quốc gia phải hình sự hóa việc tham gia vào  
nhóm tổ chức tội phạm thể hiện tội phạm có tổ  
chức là tội phạm liên quan đến sự hình thành  
và tồn tại của tổ chức tội phạm. Tuy nhiên, do  
thực tế hình thành và phát triển của tổ chức  
tội phạm tại các quốc gia trên thế giới là không  
giống nhau nên việc nhận thức, đánh giá và  
thừa nhận về tổ chức tội phạm cũng có sự khác  
biệt. Mặt khác, nhiều tổ chức tội phạm được  
hình thành và phát triển có phạm vi hoạt động  
6ꢀ Theo Bộ luật hình sự Italia năm 1982, tổ chức tội  
phạm là hội tội phạm kiểu Mafia.  
7ꢀ Bộ luật hình sự Cộng hòa Áo có 02 điều luật quy  
định về “Tổ chức tội phạm” và “Hội tội phạm”.  
8ꢀ Bộ luật hình sự Cộng hòa Liên bang Đức quy định  
khái niệm băng, nhóm và khái niệm hội tội phạm.  
9ꢀ Xem cách quy định về tổ chức tội phạm của Áo, Cộng  
hòa Liên bang Đức, Canada, Công ước của Liên hợp  
xuyên quốc gia, đe dọa an ninh thế giới. Chính quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia.  
6
Khoa học Kiểm sát  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
PHẠM CÔNG TÙNG  
khác nhau và có sự điều khiển, chỉ huy theo  
luật riêng của băng, nhóm đó; lấy hoạt động  
phạm tội làm phương hướng mục đích chính  
của băng nhóm. Thực tế, mối quan hệ giữa  
băng, nhóm với tội phạm có tổ chức vẫn chưa  
được giải quyết triệt để, mặc dù chúng có điểm  
chung là hình thức để các đối tượng cấu kết  
với nhau, cùng chung mục đích thực hiện tội  
phạm, tức là đều phản ánh cơ cấu thành viên,  
sự cấu kết của các thành viên đó trong tổ chức  
và mục đích hoạt động của chúng. Sự khác  
nhau giữa băng, nhóm với tổ chức tội phạm  
chính là ở mức độ liên kết.  
Dưới góc độ pháp lý, có thể thống nhất về  
khái niệm tội phạm có tổ chức ở hai cấp độ:  
Cấp độ phản ánh hành vi (tội phạm trong khoa  
học Luật hình sự) và cấp độ phản ánh một tình  
hình tội phạm có tổ chức (một hiện tượng xã  
hội dưới góc độ Tội phạm học). Ở cấp độ hành  
vi: Tội phạm có tổ chức được thực hiện bởi một  
nhóm người đã cấu kết với nhau để thực hiện  
tội phạm một cách có tổ chức. Ở cấp độ chỉ một  
hiện tượng xã hội: Tội phạm có tổ chức là khái  
niệm chỉ tình hình tội phạm do các tổ chức tội  
phạm gây ra đối với xã hội trong một khoảng  
thời gian nhất định, trong một không gian nhất  
định.  
Tội phạm có tổ chức trước tiên phải là tội  
phạm, nghĩa là nó mang những thuộc tính cơ  
bản của tội phạm. Tuy nhiên, tội phạm có tổ  
chức được xác định là một bộ phận đặc biệt  
của tội phạm nói chung. Tội phạm có tổ chức  
được khoa học hình sự tiếp cận trên cơ sở  
nguyên tắc hành vi: Là những hành vi xử sự xã  
hội tiêu cực, được thực hiện với lỗi cố ý và có  
tổ chức. Dấu hiệu “có tổ chức” được khoa học  
luật hình sự phân tích và luận giải bằng 02 yếu  
tố: Sự liên kết chặt chẽ của hai hay nhiều người  
và mục đích phạm tội có tổ chức.  
Đặc trưng của tội phạm có tổ chức được  
biểu hiện bởi hệ thống những hành vi phạm tội  
nghiêm trọng. Khoa học Luật hình sự xem xét  
tội phạm có tổ chức trong trường hợp là một cơ  
chế đa hành vi, đa vai trò chủ thể, tội phạm có  
tổ chức không phải là một tội danh cụ thể mà  
bao gồm hàng loạt các hành vi khác nhau trong  
quá trình thực hiện tội phạm của những người  
mà hành vi phạm tội đã trở thành hoạt động  
thường xuyên. Như vậy, tội phạm có tổ chức  
vừa phản ánh đồng phạm ở mức độ cao, vừa  
là đa tội phạm. Khi các yếu tố của đồng phạm  
đã phát triển đến một mức độ nhất định sẽ có  
sự biến đổi về chất để tạo ra đồng phạm ở một  
trạng thái mới đó là tội phạm có tổ chức.  
Có quan điểm cho rằng, xem xét vấn đề tội  
phạm có tổ chức trong mối liên hệ không tách  
rời với chế định đồng phạm10. Trên thực tế, các  
công trình nghiên cứu khi đề cập đến vấn đề  
này đều không bỏ qua thuật ngữ “phạm tội  
có tổ chức”. Sự liên kết “có tổ chức” trước tiên  
phải được xét dưới góc độ Luật hình sự. Từng  
hành vi phạm tội cụ thể phải được thực hiện  
dưới hình thức đồng phạm, phạm tội có tổ  
chức. Phạm tội có tổ chức là dấu hiệu pháp lý  
cơ bản của tội phạm có tổ chức, tức là hành vi  
phạm tội cụ thể trong mối liên kết nhóm phải  
có 02 người trở lên cố ý cùng thực hiện một  
tội phạm; có sự cấu kết chặt chẽ giữa những  
người cùng thực hiện một tội phạm. Đồng  
phạm, phạm tội có tổ chức là chế định pháp lý  
làm cơ sở để xem xét có hay không có tội phạm  
có tổ chức hay đòi hỏi hoạt động của tội phạm  
có tổ chức phải có sự liên kết thực hiện một  
tội phạm cụ thể. Phạm tội có tổ chức là hình  
thức đồng phạm vừa để xác định các biểu hiện  
liên kết nhóm lại vừa có thể được coi là một bộ  
phận cấu thành của tội phạm có tổ chức.  
Như vậy, khái niệm tội phạm có tổ chức,  
phạm tội có tổ chức và đồng phạm là những  
khái niệm giáp ranh nhau nhưng không đồng  
nhất. Chế định đồng phạm được nhà lập pháp  
hình sự xây dựng nhằm xác định cơ chế thực  
hiện hành vi phạm tội, có ý nghĩa với việc xác  
định trách nhiệm hình sự và hình phạt đối  
với những người tham gia thực hiện hành vi  
phạm tội đó, nhằm cá thể hóa trách nhiệm  
hình sự. Đồng phạm có tổ chức không chỉ có  
đồng dự mưu mà đã có sự nhất quán về mục  
tiêu, phương thức hành động, cấu kết lợi ích.  
Tuy nhiên, tội phạm có tổ chức không chỉ cần  
được chú ý đến dấu hiệu “có tổ chức” như một  
dấu hiệu bổ sung (trong mặt khách quan hoặc  
chủ quan nào đó) thì chưa đủ mà phải xét tới  
cả việc hình thành nên các tổ chức mà không  
biết tổ chức tội phạm đó đã thực hiện được  
tội phạm cụ thể nào hay chưa. Đồng phạm thì  
phải chung mục đích và cùng thực hiện một tội  
phạm. Nhưng tội phạm có tổ chức thì khác, nó  
vừa là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy  
định trong Bộ luật hình sự vừa là một cơ cấu  
đa chiều các hành vi (nhiều tội phạm).11  
Ở một phương diện khác của Luật hình sự,  
tội phạm có tổ chức được quy định là một dấu  
hiệu tăng nặng trách nhiệm nói chung hoặc là  
10ꢀ Xem: Hồ Trọng Ngũ, “Tội phạm có tổ chức - Lịch sử  
và vấn đề hôm nay”, Nxb Công an nhân dân.  
11ꢀ Xem: Trần Văn Nho, “Một số vấn đề lý luận và thực  
tiễn trong đấu tranh chống tội phạm có tổ chức ở Việt Nam”.  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát  
7
TỘI PHẠM CÓ TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG HƯỚNG...  
tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, định trên. Tuy nhiên, không phải mối liên kết nào  
khung hình phạt. Nghĩa là, chúng ta mới chỉ của các thành viên trong nhóm cũng là liên kết  
coi dấu hiệu có tổ chức là một dấu hiệu bổ sung của tổ chức tội phạm, các mối liên kết chỉ được  
(trong mặt khách quan hoặc chủ quan nào đó). công nhận khi sự liên kết hành vi của các cá  
nhân có sự thống nhất chung giữa các thành  
Loại tội phạm mà tội phạm có tổ chức  
viên hoặc theo tôn chỉ, mục đích của nhóm,  
thực hiện phải là tội phạm ở mức độ  
theo mệnh lệnh của các tên chỉ huy, đại diện  
nghiêm trọng trở lên, gắn với các đặc điểm  
cho tổ chức.  
về phương thức, thủ đoạn phạm tội như: Bạo  
lực, tham nhũng, rửa tiền nhằm mục đích lợi  
Xét về tổ chức tội phạm, trước tiên phải xem  
nó là sự liên kết xã hội của một nhóm người  
để thực hiện các hành vi phạm tội dưới dạng  
đồng phạm hoặc phạm tội có tổ chức vì mục  
đích vụ lợi. “Tổ chức tội phạm” được xác định  
trên cơ sở dựa vào hành vi thành lập, tham  
gia vào tổ chức tội phạm hoặc xác định qua  
hoạt động phạm tội cụ thể khác của tổ chức  
tội phạm thông qua chế định đồng phạm hoặc  
phạm tội có tổ chức trong Luật hình sự (liên  
kết giữa các cá nhân, mối quan hệ tác động của  
các thành viên trong mối liên kết có tổ chức khi  
hoạt động tội phạm). Đây là cơ sở để phân biệt  
vai trò của các cá nhân tham gia vào thực hiện  
một hành vi phạm tội, làm cơ sở cho việc cá thể  
hóa trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, trong tội  
phạm có tổ chức, các thành viên của các nhóm  
tội phạm, tổ chức tội phạm không phải lúc nào  
cũng là người đồng phạm hoặc chỉ là đồng  
phạm giản đơn.  
Về lý luận, tính liên kết nhóm của tội phạm  
có tổ chức phản ánh qua các đặc tính như: Tính  
tự trị của tội phạm có tổ chức thể hiện nhóm  
tội phạm có tổ chức đó phải có ranh giới hoạt  
động trong môi trường xã hội; tính tích hợp  
của nhóm tội phạm có tổ chức là khả năng bảo  
tồn nhóm và các chức năng phát triển tổ chức;  
tính cố kết là mức độ tổng hợp, tích hợp cao của  
nhóm tội phạm có tổ chức đó thể hiện tính bền  
vững của nhóm, gắn bó với nhau của các thành  
viên nhóm trong việc thực hiện tội phạm và đặc  
điểm kiểm tra nhóm đối với các thành viên theo  
hệ thống thứ bậc đang tồn tại trong nhóm; tính  
ổn định trong một thời gian của các hành vi liên  
kết có tổ chức, nghĩa là nó không được xác định  
dựa trên hành vi đơn lẻ của một cá nhân mà  
là tập hợp các hành vi của nhiều người trong  
nhóm tội phạm tại một khoảng thời gian nhất  
định. Các hành vi liên kết có tổ chức được xác  
định không phải là hành vi đơn lẻ của một cá  
nhân mà đó là tập hợp các hành vi liên kết có  
tổ chức của ít nhất hai người trở lên trong một  
thời gian nhất định. Tính ổn định trong một  
thời gian dài của các hành vi liên kết, có tổ chức  
thể hiện mối liên hệ và phản ánh tính chuyên  
nghiệp của tội phạm. Tính chuyên nghiệp càng  
cao thì tính tổ chức của nó càng rõ nét.  
nhuận về tài chính, kinh tế.12  
Xét về hành vi, tội phạm có tổ chức có thể  
được xem là đồng phạm phức tạp, bởi nó là  
tập hợp của những dấu hiệu khách quan và  
chủ quan, chủ thể của tội phạm. Song ngoài  
việc xem xét nó dưới góc độ Luật hình sự với  
ý nghĩa là một hành vi nguy hiểm cho xã hội  
trong từng cấu thành tội phạm cụ thể, cần xem  
xét tội phạm có tổ chức còn là một hiện tượng  
trong đồng phạm gắn liền với những đặc điểm  
của hoàn cảnh cụ thể, trong mối quan hệ tương  
tác với những hiện tượng khác mà các quy  
định của pháp luật hình sự không thể phản  
ánh hết được, hay đúng hơn là không có chức  
năng phản ánh chúng.  
Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái  
niệm về tội phạm có tổ chức như sau:  
Tội phạm có tổ chức là hoạt động tội phạm do  
tổ chức tội phạm có cơ cấu bền vững hoặc linh hoạt  
hình thành trong một thời gian nhất định thông  
qua hình thức phạm tội có tổ chức với mục đích  
thực hiện một hoặc nhiều tội phạm nghiêm trọng  
để trực tiếp hoặc gián tiếp nhận được lợi ích về tài  
chính hay vật chất khác.  
2. Đặc trưng và các mối quan hệ cơ bản  
của tội phạm có tổ chức  
2.1. Đặc trưng của tội phạm có tổ chức  
Cấu trúc liên kết có tổ chức: Tội phạm có tổ  
chức luôn có xu hướng tìm kiếm, xây dựng các  
mạng lưới ngầm với nhiều mối quan hệ khác  
nhau trong xã hội để duy trì và phát triển quy  
mô tổ chức, kết nạp thêm thành viên nhằm  
gia tăng điều kiện cấu trúc nhóm hoặc liên kết  
nhóm hoạt động một cách tương đối ổn định.  
Khác với tội phạm thông thường, cơ cấu liên  
kết có tổ chức trong tổ chức tội phạm thể hiện  
qua 02 mối quan hệ: Tính tổ chức của nhóm  
người phạm tội, tính tổ chức trong từng hành  
vi phạm tội và quan hệ giữa hai mối quan hệ  
12ꢀ Xem: Công ước của Liên hợp quốc về chống tội  
phạm có tổ chức xuyên quốc gia, Quan điểm của  
Interpol và Bộ luật hình sự của một số quốc gia khác như  
Canada, Áo…  
8
Khoa học Kiểm sát  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
PHẠM CÔNG TÙNG  
Các dạng liên kết có tổ chức ngoài phương  
Ngoài ra, tội phạm có tổ chức không chỉ  
diện liên kết giữa các thành viên trong các dừng lại ở việc thực hiện các hoạt động hay  
nhóm tội phạm, tổ chức tội phạm còn thể hiện  
ở liên kết giữa các nhóm, tổ chức tội phạm với  
nhau. Mỗi dạng nhóm tội phạm, tổ chức tội  
phạm thì tính chất liên kết lại thể hiện những  
đặc điểm khác nhau về quy mô, cấu trúc.  
Hành động khuôn mẫu hóa: Các cá nhân khi  
tham gia vào tổ chức tội phạm đều phải vận  
hành dựa trên khuôn mẫu, các quy tắc của tổ  
chức. Các quy tắc, khuôn mẫu này có tính ổn  
định theo thời gian và được lặp đi lặp lại có tác  
dụng chuẩn hóa hoạt động và các mối quan hệ  
giữa các thành viên mà không phụ thuộc vào  
các yếu tố mang tính chất cá nhân.  
Cấu trúc thang bậc quyền lực: Bất kỳ nhóm, tổ  
chức tội phạm nào cũng phân cấp theo thang  
quyền lực gắn với những vị trí nhất định. Cách  
thức này giúp cho các thành viên trong tổ chức  
thấy được vị trí, vai trò, giới hạn của mình.  
Ngoài ra, cấu trúc thang bậc quyền lực của các  
tổ chức tội phạm có thể được xây dựng thành  
quy tắc, nội quy công khai hoặc có thể được  
công nhận một cách tự nhiên, quy ước không  
chính thức thông qua “quyền lực ngầm”.  
Hoạt động phạm tội phổ biến: Tội phạm có tổ  
chức có thể thực hiện các hoạt động bất hợp  
pháp hay đạt được các mục tiêu hợp pháp  
bằng các biện pháp phi pháp. Các biện pháp  
được sử dụng có thể là những phương thức  
tinh vi, khó nhận biết đến những biện pháp  
thô bạo, trực tiếp, công khai nhằm thiết lập sự  
độc quyền từng phần hay toàn phần trong việc  
cung cấp hàng hóa và dịch vụ bất hợp pháp  
cho người tiêu dùng vì hoạt động này mang  
lại cho chúng lợi nhuận kinh tế cao. Dịch vụ  
bất hợp pháp là những dịch vụ mà kinh doanh  
hợp pháp không cung cấp và bị pháp luật cấm.  
Những dịch vụ này phổ biến gồm: Hoạt động  
cờ bạc dưới bất kỳ hình thức nào được tiến  
hành ngoài vòng pháp luật; bảo kê (hình thức  
tống tiền mà theo đó các thành viên tổ chức  
tội phạm tiếp cận chủ sở hữu của các doanh  
nghiệp nhỏ và đề nghị cung cấp cho họ sự bảo  
vệ trong các trường hợp thiệt hại do yếu tố  
khách quan mang lại); cho vay lãi nặng; kinh  
doanh mại dâm, buôn bán người…  
cung cấp các dịch vụ phi pháp mà sử dụng  
phương thức, thủ đoạn tinh vi như “rửa tiền”  
thông qua các cấu trúc kinh tế hợp pháp và  
phương thức thanh toán điện tử. Trên thực tế,  
có nhiều tập đoàn tội phạm đang thâm nhập  
sâu vào các hoạt động hợp pháp để thu lại lợi  
nhuận về kinh tế. Lý do là các thành viên của  
tổ chức tội phạm muốn hợp pháp hóa những  
lợi nhuận bất hợp pháp thu được, tạo vỏ bọc  
hợp pháp trong cộng đồng để tránh sự nghi  
ngờ của người dân và sự phát hiện của các cơ  
quan có thẩm quyền. Hoạt động này biểu hiện  
rất đa dạng và ngày càng phát triển. Hiện nay,  
nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ bất hợp pháp  
rất lớn đã khiến tội phạm có tổ chức tìm kiếm  
các cơ hội để xuất hiện dưới dạng các doanh  
nghiệp hợp pháp nhằm khai thác những thị  
trường bất hợp pháp này.  
Mục đích vụ lợi và các biểu hiện vụ lợi của tội  
phạm có tổ chức: Tội phạm có tổ chức là một hệ  
thống các mối liên hệ và quan hệ trong xã hội  
được hình thành thông qua việc khai thác, tìm  
kiếm lợi nhuận phi pháp với các hoạt động tội  
phạm cụ thể, thể hiện mối liên hệ phức tạp và  
ngày càng trở nên đa dạng hơn nhằm khai thác  
lợi nhuận.  
Tội phạm có tổ chức cần và thực tế đã sử  
dụng sức mạnh kinh tế và chính trị để đạt  
được mục tiêu lợi nhuận kinh tế. Hiện nay,  
việc sử dụng các phương thức phạm tội để  
đạt được mục tiêu lợi nhuận vẫn là thuộc tính  
quan trọng, là căn cứ để đưa ra định nghĩa  
về tội phạm có tổ chức. Đến nay, xét về bản  
chất , tội phạm có tổ chức vẫn xác định vấn  
đề kinh tế là trọng tâm của sự hình thành và  
thành công của các nhóm này, coi đây là động  
lực của hoạt động phạm tội có tổ chức, là vấn  
đề cốt lõi của các mối quan hệ kinh tế, là trung  
tâm điều chỉnh các mối quan hệ cá nhân hay  
thứ bậc hoặc văn hóa khác trong tổ chức tội  
phạm có tổ chức.  
Xu hướng xuyên quốc gia: Tội phạm có tổ  
chức xuyên quốc gia thực tế chỉ là một bộ phận  
của tình hình tội phạm có tổ chức nói chung.  
Dấu hiệu xuyên quốc gia như là một dấu hiệu  
riêng biệt, đặc trưng của tội phạm có tổ chức.  
Xu hướng liên kết các địa bàn, khu vực và  
cấu kết toàn cầu giữa các nhóm tội phạm có tổ  
chức xuyên quốc gia ngày càng mạnh mẽ. Hiện  
tượng này xuất hiện trong hoàn cảnh yêu cầu  
Cung cấp hàng hóa bất hợp pháp là hoạt  
động cung cấp các sản phẩm cụ thể mà một bộ  
phận công chúng mong muốn, nhưng không  
thể có được một cách hợp pháp. Do nhu cầu  
này, các nhóm tội phạm có tổ chức hình thành  
và phát triển đi kèm theo các vấn đề như buôn  
bán bất hợp pháp các sản phẩm văn hóa, y tế, kiểm soát các ranh giới hành chính địa phương  
vũ khí, phần mềm, ma túy.  
và đường biên giới quốc gia giảm đi, sự giao  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát  
9
TỘI PHẠM CÓ TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG HƯỚNG...  
lưu về mọi mặt của đời sống chính trị, kinh qua các bước hoặc duy trì một hình thức tương  
tế, văn hóa, xã hội được mở rộng. Tội phạm tác nhất định14. Song khủng bố chỉ là một dạng  
có tổ chức xuyên quốc gia có những đặc trưng  
cơ bản như: Thành lập nhiều mạng lưới chân  
rết ở nước ngoài để điều hành các hoạt động  
của tổ chức; quan hệ móc nối, chặt chẽ với  
chính quyền và chính khách nhiều quốc gia;  
liên kết chiến lược xuyên quốc gia nhằm mở  
rộng phạm vi, lĩnh vực hoạt động; tăng cường  
hỗ trợ lẫn nhau trong hoạt động phạm tội; che  
giấu dấu vết, tài sản, người phạm tội…  
Yếu tố xuyên quốc gia của tội phạm có tổ  
chức được xác định khi: (i) Nó được thực hiện  
ở nhiều quốc gia; (ii) Nó được thực hiện tại một  
quốc gia nhưng một phần chủ yếu của việc  
chuẩn bị, lập kế hoạch, chỉ đạo hoặc điều khiển  
diễn ra ở một quốc gia khác; (iii) Nó được thực  
hiện tại một quốc gia nhưng liên quan đến một  
nhóm tội phạm có tổ chức tham gia vào các  
hoạt động tội phạm tại nhiều quốc gia; hoặc là  
(iv) Nó được thực hiện tại một quốc gia nhưng  
có ảnh hưởng lớn ở một quốc gia khác.13  
biểu hiện của hành vi tội phạm “có tổ chức”,  
nó khác biệt với tội phạm có tổ chức. Khủng bố  
liên quan đến các tội ác được thực hiện với mục  
tiêu đe dọa người dân hoặc ép buộc chính phủ  
hoặc tổ chức quốc tế nhằm đạt được các mục  
tiêu chính trị hoặc xã hội, trong khi tội phạm có  
tổ chức luôn tìm cách đạt được lợi ích tài chính  
hoặc vật chất khác15. Ngoài ra, tội phạm có tổ  
chức để thực hiện tội phạm đòi hỏi “một nhóm  
người có tổ chức” trong khi khủng bố thì có thể  
do các cá nhân thực hiện.16  
Tội phạm có tổ chức với tệ nạn tham nhũng, hối  
lộ: Sự hình thành và phát triển tất yếu của tội  
phạm có tổ chức gắn với tệ nạn tham nhũng,  
hối lộ. Bởi lẽ, tội phạm có tổ chức luôn hướng  
tác động đến những người có vị trí, quyền lực  
trong các cơ quan nhà nước để tạo ra những  
điều kiện thuận lợi cho hoạt động phạm tội  
của mình, đồng thời tạo ra nhiều cơ hội làm  
ăn hơn, che giấu tài sản, trốn tránh pháp luật.  
2.2. Các mối quan hệ cơ bản của tội phạm  
có tổ chức  
3. Phương hướng hoàn thiện pháp luật  
hình sự ở Việt Nam  
Tội phạm có tổ chức với tội phạm có tính chất  
chuyên nghiệp: Tính chuyên nghiệp và tính có tổ  
chức có mối quan hệ với nhau nhưng không  
đồng nhất, nó là những dạng tội phạm độc lập.  
Tội phạm có tổ chức phức tạp hơn, liên quan  
đến hoạt động của những bộ phận tội phạm  
được tổ chức chứ không phải những cá nhân  
riêng biệt. Tội phạm có tổ chức có sự ổn định  
và quy mô lớn hơn, có sự khác biệt về kết cấu  
tổ chức, thành phần tham gia… Tội phạm có  
tổ chức là một khái niệm pháp lý - xã hội, là  
một hiện tượng xã hội phức tạp. Còn tội phạm  
có tính chất chuyên nghiệp là một hiện tượng  
pháp lý - hình sự đơn thuần, không có thuộc  
tính xã hội.  
Tội phạm có tổ chức với tội phạm có sử dụng  
bạo lực: Tội phạm có tổ chức cũng có dấu hiệu  
sử dụng bạo lực. Tuy nhiên, dấu hiệu “sử dụng  
bạo lực” trong tội phạm có tổ chức khác so với  
các tội phạm thông thường khác có sử dụng  
bạo lực là về quy mô, mục đích.  
Hiện nay, tăng cường phòng, chống tội  
phạm có tổ chức bằng pháp luật hình sự được  
coi là một trong những giải pháp nền tảng,  
quan trọng. Xu hướng này bắt đầu ở Italia từ  
những năm 1930 và phát triển ở Châu Âu và  
thế giới từ năm 2000 - thời điểm ra đời Công  
ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có  
tổ chức xuyên quốc gia17.  
Tăng cường phòng, chống tội phạm có tổ  
chức bằng pháp luật hình sự thể hiện trước hết  
ở việc các quốc gia thực hiện việc hình sự hóa  
các hành vi thành lập hoặc tham gia tổ chức tội  
14ꢀ Xem: Shelley (2005).  
15ꢀ Xem : Định nghĩa về Tội phạm có tổ chức trong Công  
ước của Liên hợp quốc về phòng, chống tội phạm có tổ  
chức xuyên quốc gia chỉ bao gồm các nhóm mà thông  
qua hoạt động của họ (trực tiếp hoặc gián tiếp) để thu  
“lợi ích tài chính hoặc vật chất khác”.  
16ꢀ Xem: Nghị quyết 55/25 của Đại hội đồng Liên hợp  
quốc thông qua Công ước chống tội phạm có tổ chức  
xuyên quốc gia cũng kêu gọi các quốc gia thừa nhận  
mối liên hệ giữa các hoạt động tội phạm có tổ chức  
xuyên quốc gia và các hoạt động khủng bố.  
Tội phạm có tổ chức với vấn đề khủng bố: Dựa  
vào hoạt động phạm tội và những biểu hiện về  
mục đích phạm tội của tội phạm có tổ chức và  
khủng bố có thể thấy, chúng có mối quan hệ tác  
động qua lại với nhau ở các mức độ nhất định,  
các nhóm này có thể tiến lên, lùi lại hoặc bỏ  
17ꢀ Hiện nay đã có trên 160 quốc gia và tổ chức quốc tế  
phê chuẩn Công ước, trong đó Việt Nam đã ký Công  
ước vào tháng 12 năm 2000 và phê chuẩn Công ước  
13ꢀ Xem: Điều 3 Công ước về chống tội phạm có tổ vào tháng 6 năm 2012. Công ước có hiệu lực đối với  
chức xuyên quốc gia.  
Việt Nam từ ngày 08/6/2012.  
10 Khoa học Kiểm sát  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
PHẠM CÔNG TÙNG  
phạm theo yêu cầu tại Điều 5 của Công ước. xuyên quốc gia mà Việt Nam ký kết, tham gia.  
Yêu cầu này được đặt ra xuất phát từ chính Bởi “nhóm tội phạm” ở đây chỉ có thể được  
sự nguy hiểm của tổ chức tội phạm, nghĩa là hiểu là “nhóm người đồng phạm”22. Mặt khác,  
nó không chỉ nguy hiểm khi thể hiện bằng các các khái niệm trong Bộ luật hình sự Việt Nam  
hoạt động phạm tội trong các loại tội phạm cụ về “phạm tội có tổ chức” hay “đồng phạm có  
tổ chức” hoàn toàn khác biệt với khái niệm tổ  
thể mà thể hiện ngay từ hành vi thành lập hoặc  
tham gia một tổ chức tội phạm vì nguy cơ thực  
hiện tội phạm nằm trong chính mục đích của  
tổ chức18. Nhiều quốc gia trên thế giới đã thừa  
nhận khái niệm tổ chức tội phạm và quy định  
hành vi thành lập hoặc tham gia tổ chức tội  
phạm là tội phạm nhưng theo các cách khác  
nhau. Một số ít các quốc gia quy định khái  
niệm tổ chức tội phạm trong phần chung và  
quy định tội thành lập hoặc tham gia tổ chức  
tội phạm trong phần riêng19. Nhiều quốc gia  
khác lại quy định thẳng tội danh liên quan đến  
hành vi thành lập hoặc tham gia tổ chức tội  
phạm trong phần riêng của Bộ luật hình sự20.  
Tăng cường đấu tranh chống tội phạm có tổ  
chức bằng pháp luật hình sự còn được thể hiện  
qua việc quy định tội phạm có tổ chức là một  
tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự21.  
Thực tế, Bộ luật hình sự Việt Nam mới chỉ  
đề cập đến tội Hoạt động thành lập hoặc tham  
gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân  
(Điều 109) và quy định việc thành lập hoặc  
tham gia nhóm tội phạm theo quy định tại Điều  
14 về chuẩn bị phạm tội. Ngoài ra, tình tiết “có  
tổ chức” mới chỉ được xác định là tình tiết tăng  
nặng trách nhiệm hình sự hoặc tăng nặng trách  
nhiệm hình sự định khung trong một số điều  
luật cụ thể. Việc bổ sung nhóm hành vi “thành  
lập, tham gia nhóm tội phạm” vào quy định  
về chuẩn bị phạm tội (Điều 14) được đánh giá  
là không phù hợp với lý luận về các giai đoạn  
thực hiện tội phạm cũng như quan niệm chung  
về chuẩn bị phạm tội và không đạt được mục  
đích nội luật hóa điều ước trong Công ước của  
Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức  
chức tội phạm theo tinh thần của Công ước23.  
Nhằm tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc cho  
hoạt động phòng, chống tội phạm có tổ chức  
tại Việt Nam, phù hợp với tinh thần của Công  
ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc  
gia mà Việt Nam là thành viên, thời gian tới  
cần hoàn thiện một số nội dung về pháp luật  
hình sự như:  
Một là, cần quy định các điều luật về “tổ  
chức tội phạm”; nguyên tắc xử lý trách nhiệm  
hình sự liên quan đến tổ chức tội phạm; hoặc  
bổ sung tình tiết “người phạm tội là thành viên  
của tổ chức tội phạm” là tình tiết tăng nặng  
24  
trách nhiệm hình sự tại phần chung của Bộ  
luật hình sự. Luật hình sự Việt Nam cần xác  
định khái niệm về tổ chức tội phạm, nguyên  
tắc xử lý tội phạm có tổ chức trên cơ sở đáp  
ứng các điều kiện, đặc điểm đặc trưng của tội  
phạm có tổ chức theo Công ước của Liên hợp  
quốc và phù hợp với thực tiễn tội phạm có tổ  
chức ở Việt Nam.  
Hai là, cần bổ sung tội danh “Thành lập  
hoặc tham gia tổ chức tội phạm” vào chương  
“Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự  
công cộng”.  
Ba là, bổ sung tình tiết “người phạm tội là  
thành viên của tổ chức tội phạm” là tình tiết  
định khung hình phạt tăng nặng ở một số tội  
phạm cụ thể (thường do tổ chức tội phạm thực  
hiện) và mức tăng nặng của khung hình phạt  
này phải nặng hơn so với khung hình phạt có  
tình tiết “phạm tội có tổ chức”./.  
22ꢀ Xem: Lê Thị Sơn, “Bộ luật hình sự Việt Nam với việc  
18ꢀ Xem: Lê Thị Sơn, “Bộ luật hình sự Việt Nam với việc thực thi Công ước của Liên Hợp quốc về chống tội phạm  
thực thi Công ước của Liên Hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, Luật học Việt Nam, Nxb Tư  
có tổ chức xuyên quốc gia”, Luật học Việt Nam, Nxb Tư pháp (2019).  
pháp (2019).  
23ꢀ Phạm tội có tổ chức hay đồng phạm có tổ chức  
19ꢀ Xem: Điều 35, Điều 210 Bộ luật hình sự Liên Bang theo Bộ luật hình sự Việt Nam là khái niệm chỉ hình  
Nga (bản tiếng Việt), Nxb Công an nhân dân (2011); thức phạm tội một tội phạm cụ thể còn khái niệm tổ  
Điều 26, Điều 294 Bộ luật hình sự Cộng hòa nhân dân chức tội phạm được dùng chỉ một nhóm người với  
Trung Hoa (bản tiếng việt), Nxb Tư pháp (2007).  
những đặc điểm đặc trưng nhất định tại Điều 2 của  
20ꢀ Xem: Điều 129 Bộ luật hình sự Cộng hòa Liên bang Công ước.  
Đức; Điều 260 Bộ luật hình sự Thụy Sỹ; Điều 278 và 24ꢀ Nếu so sánh phạm tội có tổ chức hay đồng phạm có  
Điều 278a Bộ luật hình sự Cộng hòa Áo; Điều 263 Bộ tổ chức là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì  
luật hình sự Hung-ga-ri.  
tình tiết người phạm tội là thành viên của tổ chức tội  
phạm phản ánh tính chất nguy hiểm cao hơn.  
21ꢀ Xem: Điều 98 Bộ luật hình sự Hung-ga-ri.  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 11  
pdf 7 trang Thùy Anh 15140 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tội phạm có tổ chức và phương hướng hoàn thiện pháp luật hình sự ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftoi_pham_co_to_chuc_va_phuong_huong_hoan_thien_phap_luat_hin.pdf