Pháp luật hình sự Việt Nam trước những rào cản và thách thức của an ninh phi truyền thống
Hội thảo Khoa học
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TRƯỚC NHỮNG RÀO CẢN
VÀ THÁCH THỨC CỦA AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG
VIETNAM CRIMINAL LAW BEFORE TRADITIONAL SECURITY
BARRIERS AND CHALLENGES
TS. Nguyễn Ngọc Kiện1, ThS. Trịnh Tuấn Anh2
Tóm tắt – An ninh phi truyền thống (Non-Traditional Security) là vấn đề
của thế kỉ XXI và đang là thách thức đặt ra trên toàn thế giới. Hiện nay, các mối
đe dọa của an ninh phi truyền thống đang nổi lên ở khu vực châu Á – Thái Bình
Dương như tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố, rửa tiền, công nghệ cao… đang
đe dọa trực tiếp đến sự ổn định, phát triển bền vững của quốc gia, khu vực và
toàn nhân loại. Giải quyết vấn đề an ninh phi truyền thống đòi hỏi phải sử dụng
tổng thể các biện pháp từ chính trị, an ninh, quốc phòng, văn hóa, xã hội, pháp
luật… Bài viết phân tích những thách thức và rào cản của an ninh phi truyền
thống đối pháp luật hình sự Việt Nam. Đồng thời, bài viết góp phần làm sáng tỏ
các yêu cầu đặt ra, và sự phát triển của pháp luật hình sự trong việc ứng phó
trước các thách thức và rào cản của tội phạm phi truyền thống. Trên cơ sở đó,
tham luận kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự và biện pháp đảm
bảo thực thi hiệu quả các quy định này nhằm ứng phó hiệu quả trước các thách
thức của tội phạm phi truyền thống.
Từ khóa: an ninh phi truyền thống, pháp luật hình sự, tội phạm phi
truyền thống.
1.
NHỮNG RÀO CẢN VÀ THÁCH THỨC AN NINH PHI TRUYỀN
THỐNG ĐỐI VỚI PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
An ninh phi truyền thống (Non-Traditional Security) (ANPTT) mặc dù là
khái niệm mới xuất hiện gần 20 năm trở lại đây (sau sự kiện khủng bố ngày
11/9/2001 tại nước Mĩ gây chấn động thế giới), sau đó đã nhanh chóng trở thành
mối quan tâm lớn của các quốc gia trên thế giới [1].
Hiện nay, trong khoa học và thực tiễn, nhiều quan điểm khác nhau về
ANPTT đang tồn tại. Nghiên cứu sách báo pháp lí ở nước ngoài về ANPTT, cho
thấy các luận điểm khoa học điển hình. Mely Caballero Anthony (Nanyang
Technological University, Singapore) quan niệm: ANPTT là thách thức đối với sự
1 Trường Đại học Luật, Đại học Huế
373
Hội thảo Khoa học
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”
tồn vong và thịnh vượng của các quốc gia, dân tộc, xuất hiện chủ yếu trong các
nguồn phi quân sự, chẳng hạn sự thay đổi khí hậu, suy thoái môi trường xuyên
biên giới và nguồn tài nguyên cạn kiệt, bệnh truyền nhiễm, thiên tai, di cư bất hợp
pháp, tình trạng thiếu lương thực, buôn lậu, buôn bán ma túy và các hình thức tội
phạm xuyên quốc gia [2]; hoặc Amitav Acharya (American University,
Washington, D.C) cho rằng: ANPTT là các thách thức đối với sự tồn vong và chất
lượng cuộc sống của con người và nhà nước có nguồn gốc phi quân sự như thay
đổi khí hậu, khan hiếm nguồn lực, bệnh dịch, thiên tai, di cư không kiểm soát,
thiếu lương thực, buôn người, buôn ma túy, tội phạm có tổ chức [3]. Các quan
điểm trên cho thấy, ANPTT chính là thách thức đối với sự sống còn và phúc lợi
của các dân tộc và quốc gia. Những thách thức này phát sinh từ các nguyên nhân
phi quân sự mang nguy cơ cao: biến đổi khí hậu, khan hiếm nguồn nước, các bệnh
truyền nhiễm, thiên tai, di cư bất hợp pháp, thiếu lương thực, buôn lậu người,
buôn bán ma túy và tội phạm có tổ chức, tội phạm xuyên quốc gia. Những nguy
cơ, mối đe dọa này thường có phạm vi xuyên quốc gia, xuyên biên giới, không thể
khắc chế bằng các biện pháp đơn phương mà cần có các chính sách toàn diện về
kinh tế, xã hội, và sử dụng kết hợp các biện pháp về trao đổi thông tin, thực thi
pháp luật, đào tạo, xây dựng năng lực thể chế trong các thể chế liên kết trong
phạm vi khu vực và quốc tế. Đặc biệt, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ lần
thứ tư đang diễn ra trên thế giới ở giai đoạn đầu trên nền tảng các thành tựu vượt
bậc của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ lần thứ ba, xóa nhòa ranh giới giữa
các lĩnh vực vật lí, kĩ thuật số và sinh học với trung tâm là sự phát triển trí tuệ
nhân tạo, tự động hóa – robot và Internet of things (Internet kết nối vạn vật) sẽ có
thể thúc đẩy sự liên kết giữa tội phạm trong các lĩnh vực khác nhau và diễn ra
những phân khúc mới của thị trường tội phạm [4].
Từ khái niệm đã nêu trên, chúng ta có thể chỉ ra các đặc điểm nổi trội mang
tính thống nhất của ANPTT như sau:
(i) ANPTT có tính chất bạo lực phi quân sự (khủng bố, buôn lậu ma túy, tội
phạm có tổ chức) và có tính chất phi bạo lực (ô nhiễm môi trường, khủng hoảng
tài chính tiền tệ…);
(ii) ANPTT có đặc điểm mở rộng, tràn lan và có tính xuyên quốc gia. Thực
tiễn cho thấy, chủ nghĩa khủng bố, buôn lậu ma túy, lan tràn dịch bệnh, rửa tiền
phi pháp; đều có tính chất “xuyên quốc gia”;
(iii) ANPTT đe dọa, uy hiếp đối với sinh mệnh, đời sống của công dân các
quốc gia, và an ninh quốc gia, khu vực, và toàn cầu với phương thức, mức độ và
hậu quả khác nhau. Ví du, Hiệp định Tương trợ tư pháp hình sự ASEAN năm
2004 nhấn mạnh hoạt động phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia ASEAN tập
trung vào 08 loại tội phạm (buôn bán ma tuý bất hợp pháp, cướp biển, buôn bán
người, khủng bố, buôn lậu vũ khí, rửa tiền, tội phạm kinh tế, tội phạm công
nghệ cao);
374
Hội thảo Khoa học
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”
(iv) Các vấn đề của ANPTT có sự tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau và
có quá trình tích lũy tiềm tàng, có thể bùng phát đột xuất, kích thích lây lan. Một
số vấn đề đã hình thành “chuỗi xích” của “vấn đề – khủng hoảng – xung đột”, có
thể kích thích lẫn nhau và tạo thành hiệu ứng nguy hại mang tính dây chuyền với
phạm vi lớn hơn, đồng thời tạo thành “uy hiếp” song trùng hoặc nhiều hơn đối với
ANQG và an ninh quốc tế, như vấn đề tôn giáo dân tộc, vấn đề chủ nghĩa khủng
bố... Các vấn đề ANPTT thường là bùng phát đột xuất dưới hình thức khủng
hoảng, từ đó tạo thành mối đe dọa nghiêm trọng trực tiếp đối với ANQG, như
khủng hoảng kinh tế, tiền tệ, bệnh dịch, khủng bố, nên chúng càng trở nên khó
kiểm soát, khó giải quyết [5].
Dưới góc độ khoa học pháp luật hình sự, ANPTT được hiểu là trạng thái an
ninh, trong đó chứa đựng các hành vi nguy hiểm cho xã hội có nguồn gốc phi
quân sự (an ninh lương thực, an ninh năng lượng, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường,
khủng bố, tội phạm mạng, biến đổi khí hậu…) gây nguy hiểm cho sự an toàn, ổn
định của các quốc gia, và cộng đồng quốc tế được thực hiện một cách cố ý từ bất
kì các tác nhân, chủ thể nào.
Với tư cách là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam,
pháp luật hình sự thực hiện chức năng bảo vệ bằng những biện pháp và phương
tiện riêng biệt các lợi ích của con người, của xã hội và Nhà nước tránh khỏi sự
xâm phạm có tính chất tội phạm [6]. Do đó, các rào cản và thách thức của ANPTT
đặt ra đối với pháp luật hình sự như sau:
Thứ nhất, ANPTT làm phát sinh những tội phạm mới có tính chất “xuyên
quốc gia” và thị trường tội phạm đe dọa đến an ninh quốc gia, và quyền con
người. Do đối tượng xâm phạm của ANPTT chuyển sang các lĩnh vực mới như
rửa tiền, hoạt động chuyển giá, tội phạm công nghệ cao, tội phạm nguồn, do đó đã
phát sinh các loại hành vi nguy hiểm cho xã hội mới; hoặc vẫn các hành vi phạm
tội cũ như phương thức, thủ đoạn mới có liên quan đến đặc tính “xuyên quốc gia”.
Dấu hiệu cơ bản của loại tội phạm này là sự hiện diện của “yếu tố nước ngoài”.
Theo đó, yếu tố nước ngoài của hành vi tội phạm có thể là hành vi này được thực
hiện trên lãnh thổ nhiều quốc gia, hoặc được thực hiện ở một quốc gia nhưng gây
thiệt hại nghiêm trọng cho quốc gia khác. Các loại tội phạm có tính chất quốc tế
ngày càng trở nên phức tạp và tinh vi hơn khi được thực hiện với các công cụ
công nghệ hiện đại [7]. Ví dụ: Tội cướp biển, tội buôn bán chất ma túy, tội buôn
bán nô lệ, tham nhũng,…
Thứ hai, ANPTT làm biến đổi các yếu tố và dấu hiệu của tội phạm như
phương thức, thủ đoạn phạm tội, phạm vi diễn ra và tác động của hành vi phạm
tội. Thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm cho thấy, trên phạm vi toàn cầu
trong thời gian gần đây xuất hiện và nổi lên các phương thức, thủ đoạn phạm tội
mới. Ví dụ: (i) Sử dụng mạng Internet và thiết bị viễn thông công nghệ cao thực
hiện các cuộc gọi giả mạo cơ quan chức năng đang thi hành công vụ để yêu cầu
375
Hội thảo Khoa học
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”
nạn nhân chuyển tiền vào tài khoản nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản; (ii) Sử
dụng thủ đoạn kinh doanh đa cấp (đầu tư, kinh doanh dịch vụ đa cấp như vụ
MB24, Liên kết Việt); (iii) Cài đặt các thiết bị đọc lấy cắp thông tin trên thẻ tín
dụng, thẻ ATM vào các máy rút tiền tự động của các ngân hàng thương mại, sau
đó làm giả thẻ tín dụng để rút tiền hoặc mua hàng qua Internet; (iv) Lợi dụng lỗ
hổng bảo mật web, tấn công truy cập, lấy cắp, phá hoại dữ liệu (Hacking of PCs
and networks); phát tán virus, phần mềm gián điệp (các loại trojan, worms,
malware) [8].
Thứ ba, ANPTT phát sinh các vấn đề về khả năng thụ lí và truy cứu trách
nhiệm hình sự (TNHS) đối với tội phạm, thẩm quyền xét xử của cơ quan tài phán
quốc gia và hiệu lực áp dụng pháp luật quốc gia, văn kiện pháp lí quốc tế.
Mặc dù, các quốc gia đã tăng cường kí kết các văn kiện pháp lí quốc tế với
quy mô và cấp độ khác nhau về đấu tranh phòng chống các tội phạm ANPTT. Tuy
nhiên, các văn kiện pháp lí quốc tế đều có “mục tiêu chung” tăng cường các biện
pháp trao đổi thông tin, các vấn đề về pháp luật, thực thi pháp luật, đào tạo, xây
dựng năng lực thể chế và hợp tác ngoài khu vực [9]. Do đó, việc thụ lí và truy cứu
TNHS đối với tội phạm ANPTT được xác định theo pháp luật quốc gia chứ không
phải pháp luật quốc tế, mặc dù các tội phạm này liên quan đến nhiều quốc gia, đe
dọa trật tự, an ninh của quốc gia, khu vực và cộng đồng quốc tế. Từ đó, thẩm
quyền xét xử tội phạm ANPTT sẽ thuộc về cơ quan tài phán quốc gia mà không
thuộc về bất kì Tòa án quốc tế nào. Ngoài ra, hiện tượng chồng lấn về hiệu lực áp
dụng của đạo luật hình sự của các quốc gia sẽ xảy ra nếu không được điều chỉnh
rõ ràng. Chẳng hạn, Điều 15 Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có
tổ chức xuyên quốc gia năm 2000 quy định:
“Một quốc gia có thẩm quyền tài phán đối với hành vi phạm tội khi:
(i) Hành vi phạm tội được thực hiện trên lãnh thổ của quốc gia thành viên
đó; hoặc
(b) Hành vi phạm tội được thực hiện trên boong tàu mang cờ của quốc gia
thành viên đó hoặc trên máy bay đăng kí theo luật của quốc gia thành viên đó vào
thời điểm xảy ra hành vi phạm tội.
Mỗi quốc gia thành viên sẽ thông qua những biện pháp cần thiết để thiết lập
quyền tài phán của mình đối với những hành vi phạm tội khi người bị tình nghi là
tội phạm xuất hiện trên lãnh thổ của quốc gia đó và quốc gia đó không dẫn độ
người này với lí do họ là công dân của quốc gia đó. Nếu một quốc gia thành viên
thực hiện quyền tài phán của mình đã được thông báo hoặc bằng một cách khác
biết được rằng một hay nhiều quốc gia thành viên khác đang tiến hành việc điều
tra, truy tố hay xét xử đối với cùng hành vi đó, các cơ quan có thẩm quyền của
những quốc gia thành viên này sẽ, khi thích hợp, tham khảo với nhau để phối hợp
hoạt động” [10].
376
Hội thảo Khoa học
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”
Vì vậy, việc đánh giá về tính chất, và mức độ trong công tác đấu tranh
phòng chống tội phạm ANPTT sẽ khó khăn hơn nhiều so với tội phạm trong nội
bộ quốc gia. Điều này trước hết thể hiện ở địa bàn hoạt động của tội phạm vượt ra
khỏi lãnh thổ, biên giới quốc gia nên sẽ khó khăn trong công tác điều tra, thu thập
chứng cứ, xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội… Sự cấu kết, di chuyển đa
quốc gia của các chủ thể thực hiện tội phạm này tạo ra những thách thức lớn cho
các lực lượng chức năng trong việc phát hiện, bắt giữ đối tượng phạm tội [11].
Phạm vi tác động của tội phạm có tính chất “quốc tế” nên việc không thể xác định
đầy đủ, kịp thời thiệt hại để ngăn chặn và khắc phục hậu quả.
2. NHỮNG ĐIỂM MỚI TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015 (SỬA
ĐỔI, BỔ SUNG NĂM 2017) NHẰM ỨNG PHÓ HIỆU QUẢ TRƯỚC
NHỮNG RÀO CẢN VÀ THÁCH THỨC AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt
Nam đã xác định: “Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh… sẵn sàng ứng
phó với các mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống; bảo đảm an
ninh, an toàn thông tin, an ninh mạng. Yêu cầu đặt ra là phải tiếp tục hoàn thiện
hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về quốc phòng, an ninh; nâng cao hiệu lực,
hiệu quả quản lí nhà nước trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh”. Trên cơ sở các
nhận thức mới về ANPTT, Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung
năm 2017) đã có những sửa đổi, bổ sung quan trọng điều chỉnh để ứng phó hiệu
quả và đáp ứng yêu cầu về đấu tranh, phòng chống tội phạm ANPTT.
* BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã quy định đầy đủ và chặt
chẽ về nhiệm vụ của BLHS (Điều 1). Theo đó, ngoài các nhiệm vụ đã được đề cập
tại BLHS năm 1999, BLHS mới đã bổ sung thêm nhiệm vụ “bảo vệ chủ quyền
quốc gia, an ninh của đất nước, và quyền con người”.
* BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã quy định về trách nhiệm
hình sự pháp nhân thương mại.
Sự ra đời các lí thuyết về TNHS pháp nhân trong luật hình sự gắn liền với
học thuyết đồng nhất hóa TNHS được áp dụng rộng rãi ở các nước thuộc hệ thống
pháp luật Common Law như Anh, Canada… Ở Anh quốc, học thuyết này được
phát triển từ các án lệ mà điển hình án lệ Lennard's Carrying Co Ltd & Asiatic
Petroleum Co Ltd. Án lệ này là quyết định nổi tiếng của Tòa pháp viện Anh quốc
về việc quy kết trách nhiệm hình sự đối với một công ti. Án lệ này được mở rộng
dựng học thuyết đồng nhất hóa TNHS. Sau vụ Lennard's Carrying Co Ltd &
Asiatic Petroleum Co Ltd, việc có thể quy kết TNHS pháp nhân đã trở thành hậu
quả pháp lí bất lợi nhất khi áp đặt trách nhiệm pháp lí đối với một công ti [12].
Hiện nay, TNHS pháp nhân đã được hàng loạt các điều ước quốc tế và văn
kiện pháp lí quốc tế quy định về các tội phạm ANPTT (môi trường, công nghệ
cao, khủng bố, tham nhũng, hối lộ, rửa tiền). Các văn kiện pháp lí quốc tế nhìn
377
Hội thảo Khoa học
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”
nhận, TNHS pháp nhân đối tội phạm ANPTT mang tính chất quốc tế hóa, thể hiện
dưới các góc độ sau: (i) Loại tội phạm này có tính chất xuyên quốc gia; (ii) Loại
tội phạm này xâm phạm những giá trị chung được nhân loại thừa nhận như hòa
bình, an ninh, an toàn, dân chủ, nhân quyền; (iii) Hậu quả mà hành vi tội phạm
của pháp nhân gây ra không chỉ giới hạn trong phạm vi một quốc gia mà có thể
diễn ra ở nhiều quốc gia khác nhau [13].
Ở Việt Nam, thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm cho thấy, rất nhiều
các tổ chức kinh tế – pháp nhân thương mại, chạy theo lợi nhuận thực hiện hành
vi trái pháp luật mang tính chất tội phạm, nhất là trong lĩnh vực kinh tế như trốn
thuế, kinh doanh trái phép, đầu cơ, buôn lậu, ô nhiễm môi trường gây hậu quả đặc
biệt nghiêm trọng. Ví dụ vụ Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà
Tĩnh, Vedan xả chất thải ra sông Thị Vải, Tập đoàn lừa đảo đa cấp Liên kết
Việt… Thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi, xảo quyệt, có tổ chức cao và có
những trường hợp mang tính quốc tế, gây thiệt hại nghiêm trọng cho kinh tế – xã
hội, đòi hỏi phải có giải pháp mạnh để phòng ngừa và đấu tranh. Vì vậy, việc xây
dựng chế định TNHS đối với pháp nhân trong BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung
2017) là cần thiết, có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo lập hành lang pháp lí nhằm
thỏa mãn tiêu chí hội nhập.
* BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã sửa đổi, và bổ sung về
hiệu lực áp dụng của BLHS đối với các tội phạm thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam
(Điều 5); “BLHS được áp dụng đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi
phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển mang quốc tịch Việt Nam hoặc tại vùng đặc
quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam”; và bổ sung chủ thể chịu sự điều chỉnh
về hiệu lực của BLHS đối với những hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ Việt Nam
bao gồm người nước ngoài, và pháp nhân thương mại nước ngoài (Điều 6).
* BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã “hình sự hóa” các hành
vi thành lập, tham gia nhóm tội phạm. Theo đó, hành vi thành lập, tham gia nhóm
tội phạm được xác định là “chuẩn bị phạm tội” (Điều 14). Quy định này sẽ góp
phần giải quyết hiệu quả thách thức của tội phạm ANPTT với đặc tính là hoạt
động có tổ chức xuyên quốc gia
* BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã nhấn mạnh việc “không
áp dụng” về thời hiệu truy cứu TNHS đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia
(Chương XIII), tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh
(Chương XXVI), tội tham ô tài sản thuộc trường hợp quy định tại Khoản 3 và
Khoản 4 Điều 353 BLHS, và tội nhận hối lộ thuộc trường hợp quy định tại Khoản
3 và Khoản 4 Điều 354 BLHS.
* BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã sửa đổi, bổ sung các tội
phạm về môi trường (Chương XIX) cụ thể, rõ ràng hơn về các tình tiết định tội, và
định khung hình phạt. Điểm nổi bật quy định “mới” về TNHS của pháp nhân
thương mại đối với tội phạm này nhằm phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòng
378
Hội thảo Khoa học
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”
chống tội phạm và thông lệ quốc tế (Canada, Nhật Bản, Trung Quốc, Hoa Kì…
[14].)
* BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã tội phạm hóa một số
hành vi mới với các tội danh: sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho công cụ,
thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật (Điều 285); Thu thập,
tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân
hàng (Điều 291). Đồng thời, BLHS năm 2015 đã cụ thể hơn hóa các khung hình
phạt đối với các tội phạm về công nghệ thông tin so với BLHS năm 1999.
* BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã sửa đổi, bổ sung tội “rửa
tiền” tại Điều 324 theo hướng quy định hành vi rửa tiền của các chủ thể tội phạm
nguồn cũng được xem xét, xử lí về tội rửa tiền. Quy định hoàn toàn phù hợp với
công ước quốc tế về chống rửa tiền và thông lệ quốc tế (Hoa Kì, Vương quốc
Anh, Nhật Bản). Đồng thời, quy định này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc đấu
tranh và xử lí tội rửa tiền trong tình hình mới.
Ví dụ, Luật Phòng chống ma túy và Luật Trừng trị tội phạm có tổ chức của
Nhật Bản cho phép trừng phạt hành vi tự rửa tiền của người thực hiện tội phạm
nguồn khi đối tượng tiếp tục thực hiện các hành vi che đậy, giấu diếm nguồn gốc
phạm tội của tài sản mà chính mình chiếm đoạt được.
3. MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA KHI THI HÀNH QUY ĐỊNH BỘ LUẬT
HÌNH SỰ NĂM 2015 (SỬA ĐỔI, BỔ SUNG NĂM 2017) NHẰM ỨNG PHÓ
HIỆU QUẢ TRƯỚC NHỮNG RÀO CẢN VÀ THÁCH THỨC AN NINH
PHI TRUYỀN THỐNG
Bên cạnh những bước tiến rõ rệt, những đổi mới cơ bản về nội dung và kĩ
thuật lập pháp, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) vẫn tồn tại một số
vấn đề được đặt ra khi thi hành để tiếp tục hoàn thiện trong thời gian tới, qua đó
nhằm ứng phó hiệu quả trước những rào cản và thách thức an ninh phi truyền
thống ngày càng diễn biến phức tạp, và khó lường.
* Hình phạt trục xuất đối với người nước ngoài phạm tội cần đảm bảo tính
chặt chẽ và phù hợp với thực tiễn. Theo đó, BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung
năm 2017) chỉ dành một số điều luật để quy định về hình phạt này (Điều 32, 37,
55) và chưa có quy định cụ thể, điều này gây khó khăn trong thực tiễn hoạt động
tố tụng, trong bối cảnh người nước ngoài phạm tội có xu hướng gia tăng, với thủ
đoạn ngày càng tinh vi, phức tạp (tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm có tổ
chức…). Do đó, cần ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành BLHS năm 2015
(sửa đổi, bổ sung năm 2017) thay thế các văn bản hướng dẫn thi hành BLHS trước
đây các vấn đề về áp dụng hình phạt trục xuất như điều kiện áp dụng, đối tượng
áp dụng, hậu quả pháp lí, các quyền và nghĩa vụ pháp lí tội phạm áp dụng hình
phạt trục xuất.
379
Hội thảo Khoa học
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”
* Điều kiện truy cứu TNHS pháp nhân thương mại cần phải hợp lí và logic.
Đồng thời, cần bổ sung một số tội danh khác được áp dụng với pháp nhân
thương mại.
Chẳng hạn, Khoản 2 Điều 75 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định
việc pháp nhân thương mại chịu TNHS không loại trừ TNHS của cá nhân. Tuy
nhiên, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) không đưa ra các quy định
cụ thể để áp dụng quy định này. Ví dụ: (i) Mức độ lỗi, vai trò của cá nhân và pháp
nhân thương mại trong vụ án hình sự để từ đó quyết định hình phạt phù hợp với
tính chất, mức độ phạm tội; (ii) Cá nhân và pháp nhân thương mại sẽ bị truy cứu
TNHS về một tội danh hay các tội danh khác nhau; (iii) Cách thức xác định đồng
phạm khi truy cứu TNHS đối với pháp nhân thương mại và cá nhân phạm tội. Tất
cả những vấn đề này không được quy định rõ trong BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung
2017). Nghiên cứu so sánh, tác giả nhận thấy BLHS 1999 Vương quốc Bỉ có quy
định cụ thể về vấn đề này. Đối với tội phạm cố ý, TNHS pháp nhân và cá nhân
được đồng nhất hóa tức là pháp nhân bị truy cứu tội gì thì cá nhân cũng bị truy
cứu về tội đó. Đối với tội phạm do vô ý, sẽ quy kết TNHS cho chủ thể có lỗi chính
trong việc gây nên hành vi phạm tội, có thể là cá nhân hoặc pháp nhân nhưng
không có sự đồng nhất hóa TNHS.
Ngoài ra, mặc dù BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) đã quy định rõ ràng
phạm vi 33 tội về trật tự quản lí kinh tế, môi trường, tài trợ khủng bố, rửa tiền.
Tuy nhiên, để chủ động đối phó với các thách thức ANPTT, BLHS cần phải mở
rộng các tội danh liên quan về sức khỏe, tính mạng con người, cưỡng bức lao
động, an toàn thực phẩm, quản lí chất thải nguy hại. Các tội danh này được quy
định tương đối phổ biến trong luật hình sự các quốc gia hệ thống pháp luật
Common Law như Anh, Hoa Kì, Úc, Canada. Ví dụ, ở Hoa Kì, phán quyết của
Tòa Phúc thẩm California nhận định: Công ty Xây dựng Granite (bị cáo) đang xây
dựng dự án nhiệt điện. Ngày 23/11/1981, các công nhân xây dựng đã thiệt mạng
trong một tai nạn tại dự án. Sau khi có bằng chứng liên quan, Tòa án đã phán xử
bị cáo về tội ngộ sát .
* Quy định về tội khủng bố cần tương thích với pháp luật quốc tế
Ngày 9/12/1985, Liên Hợp Quốc đã thông qua Nghị quyết số A/RES/40/61
khẳng định: “Rõ ràng mọi hành vi, phương thức và biểu hiện của chủ nghĩa khủng
bố xảy ra ở bất cứ nơi đâu và do bất cứ ai thực hiện đều là tội phạm, bao gồm cả
những hành vi gây thiệt hại cho mối quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia cũng
như an ninh quốc gia. Nghiên cứu các văn kiện pháp lí quốc tế cho thấy tội phạm
khủng bố có đặc điểm chung: Tội phạm khủng bố chứa đựng tính chất bạo lực với
hình thức lỗi cố ý trực tiếp gây thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe đối với
dân thường do các tổ chức tội phạm xuyên quốc gia thực hiện với “mưu đồ” khác
nhau (tôn giáo, sắc tộc, lật đổ chính quyền). Hành vi khủng bố hướng đến mục
tiêu là các cộng đồng dân cư sinh sống ở khu vực cụ thể (bệnh viện, nhà thờ, hội
380
Hội thảo Khoa học
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”
nghị…) nhằm mục đích gây ra tình trạng hoảng sợ, khủng hoảng về tinh thần cho
người dân.
Nghiên cứu BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) cho thấy các hành vi cấu
thành tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân tại Điều 113 BLHS có thể
xem xét để truy cứu TNHS tương ứng với các tội danh tại Điều 109 về tội hoạt
động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân hoặc Điều 112 về tội bạo loạn. Do đó,
cần thiết quy định các tội danh này phù hợp với pháp luật quốc tế; đồng thời kịp
thời đối phó và ngăn chặn khủng bố dưới mọi hình thức và biểu hiện của khủng
bố, tăng cường hợp tác giữa các cơ quan thực thi pháp luật và các cơ quan liên
quan của các bên trong việc chống lại chủ nghĩa khủng bố.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Mely Caballero and Lina Gong. Non-Traditional Security Issues in ASEAN:
Agendas for Action. Yusof Ishak Institute. 2020.
[2] Mely Caballero-Anthony. An Introduction to Non-Traditional Security
Studies. SAGE Publications Ltd. 2016.
Issues. Marshall Cavendish Intl. 2006.
[4] Ngô Huy Cương. Tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, thị trường tội phạm và
trách nhiệm hình sự của pháp nhân: ba vấn đề lớn phải quan tâm khi xây
dựng bộ luật Hình sự. Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. 2017;Số 10 (338):tr. 28
[5] Đàm Trọng Tùng. Bảo vệ độc lập dân tộc của Việt Nam trước mối đe dọa an
ninh phi truyền thống từ năm 2001 đến năm 2015 [Luận án tiến sĩ]. Học viện
CTQG Hồ Chí Minh. 2016.
[6] Lê Văn Cảm. Những vấn đề cơ bản trong khoa học pháp luật hình sự. Xuất
bản lần thứ nhất. Hà Nội: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội; 2005.
[7] Nguyễn Thị Thuận. Tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và công ước Palermo
năm 2000. Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. 2018;Số 23 (375);tr. 3.
[8] Trần Đoàn Hạnh. Những vướng mắc trong đấu tranh, xử lí vi phạm pháp luật
về tội phạm công nghệ cao. Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. 2016;Số 02+03
(306+307).
[9] Bùi Thị Ngọc Lan. Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động
phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia trong khuôn khổ ASEAN. Tạp chí
Nghiên cứu Lập pháp. 2019; Số 18 (394);tr. 17.
[10] United Nations General Assembly. United Nations Convention against
Transnational
Organized
Crime.
Retrieve
from:
381
Hội thảo Khoa học
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”
[Retrieved on 15th October 2020].
[11] Trịnh Tiến Việt. Những vấn đề cơ bản về pháp luật hình sự Việt Nam trước
thách thức ANPTT. Tạp chí Toà án nhân dân. 2018; Số 3:tr. 27.
[12] Phan Thị Nhật Tài và Trịnh Tuấn Anh. Trách nhiệm hình sự của pháp nhân
dưới góc độ luật học so sánh. Tạp chí Tòa án nhân dân. 2018; Số 4:tr. 25.
[13] Hoàng Trí Ngọc. Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong văn kiện pháp lí
quốc tế. Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. 2016;Số 20 (324);tr. 19.
[14] Trịnh Quốc Toản. Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong pháp luật hình
sự. Xuất bản lần thứ nhất. Hà Nội: NXB CTQG Hà Nội; 2011.
382
Bạn đang xem tài liệu "Pháp luật hình sự Việt Nam trước những rào cản và thách thức của an ninh phi truyền thống", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
phap_luat_hinh_su_viet_nam_truoc_nhung_rao_can_va_thach_thuc.pdf

