Pháp luật hình sự Việt Nam trước những rào cản và thách thức của an ninh phi truyền thống

Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TRƯỚC NHỮNG RÀO CẢN  
VÀ THÁCH THỨC CỦA AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG  
VIETNAM CRIMINAL LAW BEFORE TRADITIONAL SECURITY  
BARRIERS AND CHALLENGES  
TS. Nguyễn Ngọc Kiện1, ThS. Trịnh Tuấn Anh2  
Tóm tắt – An ninh phi truyền thống (Non-Traditional Security) là vấn đề  
của thế kỉ XXI và đang là thách thức đặt ra trên toàn thế giới. Hiện nay, các mối  
đe dọa của an ninh phi truyền thống đang nổi lên ở khu vực châu Á – Thái Bình  
Dương như tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố, rửa tiền, công nghệ cao… đang  
đe dọa trực tiếp đến sự ổn định, phát triển bền vững của quốc gia, khu vực và  
toàn nhân loại. Giải quyết vấn đề an ninh phi truyền thống đòi hỏi phải sử dụng  
tổng thể các biện pháp từ chính trị, an ninh, quốc phòng, văn hóa, xã hội, pháp  
luật… Bài viết phân tích những thách thức và rào cản của an ninh phi truyền  
thống đối pháp luật hình sự Việt Nam. Đồng thời, bài viết góp phần làm sáng tỏ  
các yêu cầu đặt ra, và sự phát triển của pháp luật hình sự trong việc ứng phó  
trước các thách thức và rào cản của tội phạm phi truyền thống. Trên cơ sở đó,  
tham luận kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự và biện pháp đảm  
bảo thực thi hiệu quả các quy định này nhằm ứng phó hiệu quả trước các thách  
thức của tội phạm phi truyền thống.  
Từ khóa: an ninh phi truyền thống, pháp luật hình sự, tội phạm phi  
truyền thống.  
1.  
NHỮNG RÀO CẢN VÀ THÁCH THỨC AN NINH PHI TRUYỀN  
THỐNG ĐỐI VỚI PHÁP LUẬT HÌNH SỰ  
An ninh phi truyền thống (Non-Traditional Security) (ANPTT) mặc dù là  
khái niệm mới xuất hiện gần 20 năm trở lại đây (sau sự kiện khủng bố ngày  
11/9/2001 tại nước Mĩ gây chấn động thế giới), sau đó đã nhanh chóng trở thành  
mối quan tâm lớn của các quốc gia trên thế giới [1].  
Hiện nay, trong khoa học và thực tiễn, nhiều quan điểm khác nhau về  
ANPTT đang tồn tại. Nghiên cứu sách báo pháp lí ở nước ngoài về ANPTT, cho  
thấy các luận điểm khoa học điển hình. Mely Caballero Anthony (Nanyang  
Technological University, Singapore) quan niệm: ANPTT là thách thức đối với sự  
1 Trường Đại học Luật, Đại học Huế  
2 Trường Đại học Kiến trúc Đà Nẵng; Email: [email protected]n  
373  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
tồn vong và thịnh vượng của các quốc gia, dân tộc, xuất hiện chủ yếu trong các  
nguồn phi quân sự, chẳng hạn sự thay đổi khí hậu, suy thoái môi trường xuyên  
biên giới và nguồn tài nguyên cạn kiệt, bệnh truyền nhiễm, thiên tai, di cư bất hợp  
pháp, tình trạng thiếu lương thực, buôn lậu, buôn bán ma túy và các hình thức tội  
phạm xuyên quốc gia [2]; hoặc Amitav Acharya (American University,  
Washington, D.C) cho rằng: ANPTT là các thách thức đối với sự tồn vong và chất  
lượng cuộc sống của con người và nhà nước có nguồn gốc phi quân sự như thay  
đổi khí hậu, khan hiếm nguồn lực, bệnh dịch, thiên tai, di cư không kiểm soát,  
thiếu lương thực, buôn người, buôn ma túy, tội phạm có tổ chức [3]. Các quan  
điểm trên cho thấy, ANPTT chính là thách thức đối với sự sống còn và phúc lợi  
của các dân tộc và quốc gia. Những thách thức này phát sinh từ các nguyên nhân  
phi quân sự mang nguy cơ cao: biến đổi khí hậu, khan hiếm nguồn nước, các bệnh  
truyền nhiễm, thiên tai, di cư bất hợp pháp, thiếu lương thực, buôn lậu người,  
buôn bán ma túy và tội phạm có tổ chức, tội phạm xuyên quốc gia. Những nguy  
cơ, mối đe dọa này thường có phạm vi xuyên quốc gia, xuyên biên giới, không thể  
khắc chế bằng các biện pháp đơn phương mà cần có các chính sách toàn diện về  
kinh tế, xã hội, và sử dụng kết hợp các biện pháp về trao đổi thông tin, thực thi  
pháp luật, đào tạo, xây dựng năng lực thể chế trong các thể chế liên kết trong  
phạm vi khu vực và quốc tế. Đặc biệt, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ lần  
thứ tư đang diễn ra trên thế giới ở giai đoạn đầu trên nền tảng các thành tựu vượt  
bậc của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ lần thứ ba, xóa nhòa ranh giới giữa  
các lĩnh vực vật lí, kĩ thuật số và sinh học với trung tâm là sự phát triển trí tuệ  
nhân tạo, tự động hóa – robot và Internet of things (Internet kết nối vạn vật) sẽ có  
thể thúc đẩy sự liên kết giữa tội phạm trong các lĩnh vực khác nhau và diễn ra  
những phân khúc mới của thị trường tội phạm [4].  
Từ khái niệm đã nêu trên, chúng ta có thể chỉ ra các đặc điểm nổi trội mang  
tính thống nhất của ANPTT như sau:  
(i) ANPTT có tính chất bạo lực phi quân sự (khủng bố, buôn lậu ma túy, tội  
phạm có tổ chức) và có tính chất phi bạo lực (ô nhiễm môi trường, khủng hoảng  
tài chính tiền tệ…);  
(ii) ANPTT có đặc điểm mở rộng, tràn lan và có tính xuyên quốc gia. Thực  
tiễn cho thấy, chủ nghĩa khủng bố, buôn lậu ma túy, lan tràn dịch bệnh, rửa tiền  
phi pháp; đều có tính chất “xuyên quốc gia”;  
(iii) ANPTT đe dọa, uy hiếp đối với sinh mệnh, đời sống của công dân các  
quốc gia, và an ninh quốc gia, khu vực, và toàn cầu với phương thức, mức độ và  
hậu quả khác nhau. Ví du, Hiệp định Tương trợ tư pháp hình sự ASEAN năm  
2004 nhấn mạnh hoạt động phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia ASEAN tập  
trung vào 08 loại tội phạm (buôn bán ma tuý bất hợp pháp, cướp biển, buôn bán  
người, khủng bố, buôn lậu vũ khí, rửa tiền, tội phạm kinh tế, tội phạm công  
nghệ cao);  
374  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
(iv) Các vấn đề của ANPTT có sự tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau và  
có quá trình tích lũy tiềm tàng, có thể bùng phát đột xuất, kích thích lây lan. Một  
số vấn đề đã hình thành “chuỗi xích” của “vấn đề – khủng hoảng – xung đột”, có  
thể kích thích lẫn nhau và tạo thành hiệu ứng nguy hại mang tính dây chuyền với  
phạm vi lớn hơn, đồng thời tạo thành “uy hiếp” song trùng hoặc nhiều hơn đối với  
ANQG và an ninh quốc tế, như vấn đề tôn giáo dân tộc, vấn đề chủ nghĩa khủng  
bố... Các vấn đề ANPTT thường là bùng phát đột xuất dưới hình thức khủng  
hoảng, từ đó tạo thành mối đe dọa nghiêm trọng trực tiếp đối với ANQG, như  
khủng hoảng kinh tế, tiền tệ, bệnh dịch, khủng bố, nên chúng càng trở nên khó  
kiểm soát, khó giải quyết [5].  
Dưới góc độ khoa học pháp luật hình sự, ANPTT được hiểu là trạng thái an  
ninh, trong đó chứa đựng các hành vi nguy hiểm cho xã hội có nguồn gốc phi  
quân sự (an ninh lương thực, an ninh năng lượng, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường,  
khủng bố, tội phạm mạng, biến đổi khí hậu…) gây nguy hiểm cho sự an toàn, ổn  
định của các quốc gia, và cộng đồng quốc tế được thực hiện một cách cố ý từ bất  
kì các tác nhân, chủ thể nào.  
Với tư cách là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam,  
pháp luật hình sự thực hiện chức năng bảo vệ bằng những biện pháp và phương  
tiện riêng biệt các lợi ích của con người, của xã hội và Nhà nước tránh khỏi sự  
xâm phạm có tính chất tội phạm [6]. Do đó, các rào cản và thách thức của ANPTT  
đặt ra đối với pháp luật hình sự như sau:  
Thứ nhất, ANPTT làm phát sinh những tội phạm mới có tính chất “xuyên  
quốc gia” và thị trường tội phạm đe dọa đến an ninh quốc gia, và quyền con  
người. Do đối tượng xâm phạm của ANPTT chuyển sang các lĩnh vực mới như  
rửa tiền, hoạt động chuyển giá, tội phạm công nghệ cao, tội phạm nguồn, do đó đã  
phát sinh các loại hành vi nguy hiểm cho xã hội mới; hoặc vẫn các hành vi phạm  
tội cũ như phương thức, thủ đoạn mới có liên quan đến đặc tính “xuyên quốc gia”.  
Dấu hiệu cơ bản của loại tội phạm này là sự hiện diện của “yếu tố nước ngoài”.  
Theo đó, yếu tố nước ngoài của hành vi tội phạm có thể là hành vi này được thực  
hiện trên lãnh thổ nhiều quốc gia, hoặc được thực hiện ở một quốc gia nhưng gây  
thiệt hại nghiêm trọng cho quốc gia khác. Các loại tội phạm có tính chất quốc tế  
ngày càng trở nên phức tạp và tinh vi hơn khi được thực hiện với các công cụ  
công nghệ hiện đại [7]. Ví dụ: Tội cướp biển, tội buôn bán chất ma túy, tội buôn  
bán nô lệ, tham nhũng,…  
Thứ hai, ANPTT làm biến đổi các yếu tố và dấu hiệu của tội phạm như  
phương thức, thủ đoạn phạm tội, phạm vi diễn ra và tác động của hành vi phạm  
tội. Thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm cho thấy, trên phạm vi toàn cầu  
trong thời gian gần đây xuất hiện và nổi lên các phương thức, thủ đoạn phạm tội  
mới. Ví dụ: (i) Sử dụng mạng Internet và thiết bị viễn thông công nghệ cao thực  
hiện các cuộc gọi giả mạo cơ quan chức năng đang thi hành công vụ để yêu cầu  
375  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
nạn nhân chuyển tiền vào tài khoản nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản; (ii) Sử  
dụng thủ đoạn kinh doanh đa cấp (đầu tư, kinh doanh dịch vụ đa cấp như vụ  
MB24, Liên kết Việt); (iii) Cài đặt các thiết bị đọc lấy cắp thông tin trên thẻ tín  
dụng, thẻ ATM vào các máy rút tiền tự động của các ngân hàng thương mại, sau  
đó làm giả thẻ tín dụng để rút tiền hoặc mua hàng qua Internet; (iv) Lợi dụng lỗ  
hổng bảo mật web, tấn công truy cập, lấy cắp, phá hoại dữ liệu (Hacking of PCs  
and networks); phát tán virus, phần mềm gián điệp (các loại trojan, worms,  
malware) [8].  
Thứ ba, ANPTT phát sinh các vấn đề về khả năng thụ lí và truy cứu trách  
nhiệm hình sự (TNHS) đối với tội phạm, thẩm quyền xét xử của cơ quan tài phán  
quốc gia và hiệu lực áp dụng pháp luật quốc gia, văn kiện pháp lí quốc tế.  
Mặc dù, các quốc gia đã tăng cường kí kết các văn kiện pháp lí quốc tế với  
quy mô và cấp độ khác nhau về đấu tranh phòng chống các tội phạm ANPTT. Tuy  
nhiên, các văn kiện pháp lí quốc tế đều có “mục tiêu chung” tăng cường các biện  
pháp trao đổi thông tin, các vấn đề về pháp luật, thực thi pháp luật, đào tạo, xây  
dựng năng lực thể chế và hợp tác ngoài khu vực [9]. Do đó, việc thụ lí và truy cứu  
TNHS đối với tội phạm ANPTT được xác định theo pháp luật quốc gia chứ không  
phải pháp luật quốc tế, mặc dù các tội phạm này liên quan đến nhiều quốc gia, đe  
dọa trật tự, an ninh của quốc gia, khu vực và cộng đồng quốc tế. Từ đó, thẩm  
quyền xét xử tội phạm ANPTT sẽ thuộc về cơ quan tài phán quốc gia mà không  
thuộc về bất kì Tòa án quốc tế nào. Ngoài ra, hiện tượng chồng lấn về hiệu lực áp  
dụng của đạo luật hình sự của các quốc gia sẽ xảy ra nếu không được điều chỉnh  
rõ ràng. Chẳng hạn, Điều 15 Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có  
tổ chức xuyên quốc gia năm 2000 quy định:  
“Một quốc gia có thẩm quyền tài phán đối với hành vi phạm tội khi:  
(i) Hành vi phạm tội được thực hiện trên lãnh thổ của quốc gia thành viên  
đó; hoặc  
(b) Hành vi phạm tội được thực hiện trên boong tàu mang cờ của quốc gia  
thành viên đó hoặc trên máy bay đăng kí theo luật của quốc gia thành viên đó vào  
thời điểm xảy ra hành vi phạm tội.  
Mỗi quốc gia thành viên sẽ thông qua những biện pháp cần thiết để thiết lập  
quyền tài phán của mình đối với những hành vi phạm tội khi người bị tình nghi là  
tội phạm xuất hiện trên lãnh thổ của quốc gia đó và quốc gia đó không dẫn độ  
người này với lí do họ là công dân của quốc gia đó. Nếu một quốc gia thành viên  
thực hiện quyền tài phán của mình đã được thông báo hoặc bằng một cách khác  
biết được rằng một hay nhiều quốc gia thành viên khác đang tiến hành việc điều  
tra, truy tố hay xét xử đối với cùng hành vi đó, các cơ quan có thẩm quyền của  
những quốc gia thành viên này sẽ, khi thích hợp, tham khảo với nhau để phối hợp  
hoạt động” [10].  
376  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
Vì vậy, việc đánh giá về tính chất, và mức độ trong công tác đấu tranh  
phòng chống tội phạm ANPTT sẽ khó khăn hơn nhiều so với tội phạm trong nội  
bộ quốc gia. Điều này trước hết thể hiện ở địa bàn hoạt động của tội phạm vượt ra  
khỏi lãnh thổ, biên giới quốc gia nên sẽ khó khăn trong công tác điều tra, thu thập  
chứng cứ, xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội… Sự cấu kết, di chuyển đa  
quốc gia của các chủ thể thực hiện tội phạm này tạo ra những thách thức lớn cho  
các lực lượng chức năng trong việc phát hiện, bắt giữ đối tượng phạm tội [11].  
Phạm vi tác động của tội phạm có tính chất “quốc tế” nên việc không thể xác định  
đầy đủ, kịp thời thiệt hại để ngăn chặn và khắc phục hậu quả.  
2. NHỮNG ĐIỂM MỚI TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015 (SỬA  
ĐỔI, BỔ SUNG NĂM 2017) NHẰM ỨNG PHÓ HIỆU QUẢ TRƯỚC  
NHỮNG RÀO CẢN VÀ THÁCH THỨC AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG  
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt  
Nam đã xác định: “Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh… sẵn sàng ứng  
phó với các mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống; bảo đảm an  
ninh, an toàn thông tin, an ninh mạng. Yêu cầu đặt ra là phải tiếp tục hoàn thiện  
hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về quốc phòng, an ninh; nâng cao hiệu lực,  
hiệu quả quản lí nhà nước trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh”. Trên cơ sở các  
nhận thức mới về ANPTT, Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung  
năm 2017) đã có những sửa đổi, bổ sung quan trọng điều chỉnh để ứng phó hiệu  
quả và đáp ứng yêu cầu về đấu tranh, phòng chống tội phạm ANPTT.  
* BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã quy định đầy đủ và chặt  
chẽ về nhiệm vụ của BLHS (Điều 1). Theo đó, ngoài các nhiệm vụ đã được đề cập  
tại BLHS năm 1999, BLHS mới đã bổ sung thêm nhiệm vụ “bảo vệ chủ quyền  
quốc gia, an ninh của đất nước, và quyền con người”.  
* BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã quy định về trách nhiệm  
hình sự pháp nhân thương mại.  
Sự ra đời các lí thuyết về TNHS pháp nhân trong luật hình sự gắn liền với  
học thuyết đồng nhất hóa TNHS được áp dụng rộng rãi ở các nước thuộc hệ thống  
pháp luật Common Law như Anh, Canada… Ở Anh quốc, học thuyết này được  
phát triển từ các án lệ mà điển hình án lệ Lennard's Carrying Co Ltd & Asiatic  
Petroleum Co Ltd. Án lệ này là quyết định nổi tiếng của Tòa pháp viện Anh quốc  
về việc quy kết trách nhiệm hình sự đối với một công ti. Án lệ này được mở rộng  
theo phán quyết trọng vụ Salomon v Salomon & Co và đặt nền móng cho việc xây  
dựng học thuyết đồng nhất hóa TNHS. Sau vụ Lennard's Carrying Co Ltd &  
Asiatic Petroleum Co Ltd, việc có thể quy kết TNHS pháp nhân đã trở thành hậu  
quả pháp lí bất lợi nhất khi áp đặt trách nhiệm pháp lí đối với một công ti [12].  
Hiện nay, TNHS pháp nhân đã được hàng loạt các điều ước quốc tế và văn  
kiện pháp lí quốc tế quy định về các tội phạm ANPTT (môi trường, công nghệ  
cao, khủng bố, tham nhũng, hối lộ, rửa tiền). Các văn kiện pháp lí quốc tế nhìn  
377  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
nhận, TNHS pháp nhân đối tội phạm ANPTT mang tính chất quốc tế hóa, thể hiện  
dưới các góc độ sau: (i) Loại tội phạm này có tính chất xuyên quốc gia; (ii) Loại  
tội phạm này xâm phạm những giá trị chung được nhân loại thừa nhận như hòa  
bình, an ninh, an toàn, dân chủ, nhân quyền; (iii) Hậu quả mà hành vi tội phạm  
của pháp nhân gây ra không chỉ giới hạn trong phạm vi một quốc gia mà có thể  
diễn ra ở nhiều quốc gia khác nhau [13].  
Ở Việt Nam, thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm cho thấy, rất nhiều  
các tổ chức kinh tế – pháp nhân thương mại, chạy theo lợi nhuận thực hiện hành  
vi trái pháp luật mang tính chất tội phạm, nhất là trong lĩnh vực kinh tế như trốn  
thuế, kinh doanh trái phép, đầu cơ, buôn lậu, ô nhiễm môi trường gây hậu quả đặc  
biệt nghiêm trọng. Ví dụ vụ Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà  
Tĩnh, Vedan xả chất thải ra sông Thị Vải, Tập đoàn lừa đảo đa cấp Liên kết  
Việt… Thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi, xảo quyệt, có tổ chức cao và có  
những trường hợp mang tính quốc tế, gây thiệt hại nghiêm trọng cho kinh tế – xã  
hội, đòi hỏi phải có giải pháp mạnh để phòng ngừa và đấu tranh. Vì vậy, việc xây  
dựng chế định TNHS đối với pháp nhân trong BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung  
2017) là cần thiết, có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo lập hành lang pháp lí nhằm  
thỏa mãn tiêu chí hội nhập.  
* BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã sửa đổi, và bổ sung về  
hiệu lực áp dụng của BLHS đối với các tội phạm thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam  
(Điều 5); “BLHS được áp dụng đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi  
phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển mang quốc tịch Việt Nam hoặc tại vùng đặc  
quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam”; và bổ sung chủ thể chịu sự điều chỉnh  
về hiệu lực của BLHS đối với những hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ Việt Nam  
bao gồm người nước ngoài, và pháp nhân thương mại nước ngoài (Điều 6).  
* BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã “hình sự hóa” các hành  
vi thành lập, tham gia nhóm tội phạm. Theo đó, hành vi thành lập, tham gia nhóm  
tội phạm được xác định là “chuẩn bị phạm tội” (Điều 14). Quy định này sẽ góp  
phần giải quyết hiệu quả thách thức của tội phạm ANPTT với đặc tính là hoạt  
động có tổ chức xuyên quốc gia  
* BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã nhấn mạnh việc “không  
áp dụng” về thời hiệu truy cứu TNHS đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia  
(Chương XIII), tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh  
(Chương XXVI), tội tham ô tài sản thuộc trường hợp quy định tại Khoản 3 và  
Khoản 4 Điều 353 BLHS, và tội nhận hối lộ thuộc trường hợp quy định tại Khoản  
3 và Khoản 4 Điều 354 BLHS.  
* BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã sửa đổi, bổ sung các tội  
phạm về môi trường (Chương XIX) cụ thể, rõ ràng hơn về các tình tiết định tội, và  
định khung hình phạt. Điểm nổi bật quy định “mới” về TNHS của pháp nhân  
thương mại đối với tội phạm này nhằm phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòng  
378  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
chống tội phạm và thông lệ quốc tế (Canada, Nhật Bản, Trung Quốc, Hoa Kì…  
[14].)  
* BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã tội phạm hóa một số  
hành vi mới với các tội danh: sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho công cụ,  
thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật (Điều 285); Thu thập,  
tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân  
hàng (Điều 291). Đồng thời, BLHS năm 2015 đã cụ thể hơn hóa các khung hình  
phạt đối với các tội phạm về công nghệ thông tin so với BLHS năm 1999.  
* BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã sửa đổi, bổ sung tội “rửa  
tiền” tại Điều 324 theo hướng quy định hành vi rửa tiền của các chủ thể tội phạm  
nguồn cũng được xem xét, xử lí về tội rửa tiền. Quy định hoàn toàn phù hợp với  
công ước quốc tế về chống rửa tiền và thông lệ quốc tế (Hoa Kì, Vương quốc  
Anh, Nhật Bản). Đồng thời, quy định này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc đấu  
tranh và xử lí tội rửa tiền trong tình hình mới.  
Ví dụ, Luật Phòng chống ma túy và Luật Trừng trị tội phạm có tổ chức của  
Nhật Bản cho phép trừng phạt hành vi tự rửa tiền của người thực hiện tội phạm  
nguồn khi đối tượng tiếp tục thực hiện các hành vi che đậy, giấu diếm nguồn gốc  
phạm tội của tài sản mà chính mình chiếm đoạt được.  
3. MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA KHI THI HÀNH QUY ĐỊNH BỘ LUẬT  
HÌNH SỰ NĂM 2015 (SỬA ĐỔI, BỔ SUNG NĂM 2017) NHẰM ỨNG PHÓ  
HIỆU QUẢ TRƯỚC NHỮNG RÀO CẢN VÀ THÁCH THỨC AN NINH  
PHI TRUYỀN THỐNG  
Bên cạnh những bước tiến rõ rệt, những đổi mới cơ bản về nội dung và kĩ  
thuật lập pháp, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) vẫn tồn tại một số  
vấn đề được đặt ra khi thi hành để tiếp tục hoàn thiện trong thời gian tới, qua đó  
nhằm ứng phó hiệu quả trước những rào cản và thách thức an ninh phi truyền  
thống ngày càng diễn biến phức tạp, và khó lường.  
* Hình phạt trục xuất đối với người nước ngoài phạm tội cần đảm bảo tính  
chặt chẽ và phù hợp với thực tiễn. Theo đó, BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung  
năm 2017) chỉ dành một số điều luật để quy định về hình phạt này (Điều 32, 37,  
55) và chưa có quy định cụ thể, điều này gây khó khăn trong thực tiễn hoạt động  
tố tụng, trong bối cảnh người nước ngoài phạm tội có xu hướng gia tăng, với thủ  
đoạn ngày càng tinh vi, phức tạp (tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm có tổ  
chức…). Do đó, cần ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành BLHS năm 2015  
(sửa đổi, bổ sung năm 2017) thay thế các văn bản hướng dẫn thi hành BLHS trước  
đây các vấn đề về áp dụng hình phạt trục xuất như điều kiện áp dụng, đối tượng  
áp dụng, hậu quả pháp lí, các quyền và nghĩa vụ pháp lí tội phạm áp dụng hình  
phạt trục xuất.  
379  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
* Điều kiện truy cứu TNHS pháp nhân thương mại cần phải hợp lí và logic.  
Đồng thời, cần bổ sung một số tội danh khác được áp dụng với pháp nhân  
thương mại.  
Chẳng hạn, Khoản 2 Điều 75 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định  
việc pháp nhân thương mại chịu TNHS không loại trừ TNHS của cá nhân. Tuy  
nhiên, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) không đưa ra các quy định  
cụ thể để áp dụng quy định này. Ví dụ: (i) Mức độ lỗi, vai trò của cá nhân và pháp  
nhân thương mại trong vụ án hình sự để từ đó quyết định hình phạt phù hợp với  
tính chất, mức độ phạm tội; (ii) Cá nhân và pháp nhân thương mại sẽ bị truy cứu  
TNHS về một tội danh hay các tội danh khác nhau; (iii) Cách thức xác định đồng  
phạm khi truy cứu TNHS đối với pháp nhân thương mại và cá nhân phạm tội. Tất  
cả những vấn đề này không được quy định rõ trong BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung  
2017). Nghiên cứu so sánh, tác giả nhận thấy BLHS 1999 Vương quốc Bỉ có quy  
định cụ thể về vấn đề này. Đối với tội phạm cố ý, TNHS pháp nhân và cá nhân  
được đồng nhất hóa tức là pháp nhân bị truy cứu tội gì thì cá nhân cũng bị truy  
cứu về tội đó. Đối với tội phạm do vô ý, sẽ quy kết TNHS cho chủ thể có lỗi chính  
trong việc gây nên hành vi phạm tội, có thể là cá nhân hoặc pháp nhân nhưng  
không có sự đồng nhất hóa TNHS.  
Ngoài ra, mặc dù BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) đã quy định rõ ràng  
phạm vi 33 tội về trật tự quản lí kinh tế, môi trường, tài trợ khủng bố, rửa tiền.  
Tuy nhiên, để chủ động đối phó với các thách thức ANPTT, BLHS cần phải mở  
rộng các tội danh liên quan về sức khỏe, tính mạng con người, cưỡng bức lao  
động, an toàn thực phẩm, quản lí chất thải nguy hại. Các tội danh này được quy  
định tương đối phổ biến trong luật hình sự các quốc gia hệ thống pháp luật  
Common Law như Anh, Hoa Kì, Úc, Canada. Ví dụ, ở Hoa Kì, phán quyết của  
Tòa Phúc thẩm California nhận định: Công ty Xây dựng Granite (bị cáo) đang xây  
dựng dự án nhiệt điện. Ngày 23/11/1981, các công nhân xây dựng đã thiệt mạng  
trong một tai nạn tại dự án. Sau khi có bằng chứng liên quan, Tòa án đã phán xử  
bị cáo về tội ngộ sát .  
* Quy định về tội khủng bố cần tương thích với pháp luật quốc tế  
Ngày 9/12/1985, Liên Hợp Quốc đã thông qua Nghị quyết số A/RES/40/61  
khẳng định: “Rõ ràng mọi hành vi, phương thức và biểu hiện của chủ nghĩa khủng  
bố xảy ra ở bất cứ nơi đâu và do bất cứ ai thực hiện đều là tội phạm, bao gồm cả  
những hành vi gây thiệt hại cho mối quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia cũng  
như an ninh quốc gia. Nghiên cứu các văn kiện pháp lí quốc tế cho thấy tội phạm  
khủng bố có đặc điểm chung: Tội phạm khủng bố chứa đựng tính chất bạo lực với  
hình thức lỗi cố ý trực tiếp gây thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe đối với  
dân thường do các tổ chức tội phạm xuyên quốc gia thực hiện với “mưu đồ” khác  
nhau (tôn giáo, sắc tộc, lật đổ chính quyền). Hành vi khủng bố hướng đến mục  
tiêu là các cộng đồng dân cư sinh sống ở khu vực cụ thể (bệnh viện, nhà thờ, hội  
380  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
nghị…) nhằm mục đích gây ra tình trạng hoảng sợ, khủng hoảng về tinh thần cho  
người dân.  
Nghiên cứu BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) cho thấy các hành vi cấu  
thành tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân tại Điều 113 BLHS có thể  
xem xét để truy cứu TNHS tương ứng với các tội danh tại Điều 109 về tội hoạt  
động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân hoặc Điều 112 về tội bạo loạn. Do đó,  
cần thiết quy định các tội danh này phù hợp với pháp luật quốc tế; đồng thời kịp  
thời đối phó và ngăn chặn khủng bố dưới mọi hình thức và biểu hiện của khủng  
bố, tăng cường hợp tác giữa các cơ quan thực thi pháp luật và các cơ quan liên  
quan của các bên trong việc chống lại chủ nghĩa khủng bố.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Mely Caballero and Lina Gong. Non-Traditional Security Issues in ASEAN:  
Agendas for Action. Yusof Ishak Institute. 2020.  
[2] Mely Caballero-Anthony. An Introduction to Non-Traditional Security  
Studies. SAGE Publications Ltd. 2016.  
[3] Amitav Acharya. Studying Non-traditional Security in Asia: Trends And  
Issues. Marshall Cavendish Intl. 2006.  
[4] Ngô Huy Cương. Tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, thị trường tội phạm và  
trách nhiệm hình sự của pháp nhân: ba vấn đề lớn phải quan tâm khi xây  
dựng bộ luật Hình sự. Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. 2017;Số 10 (338):tr. 28  
[5] Đàm Trọng Tùng. Bảo vệ độc lập dân tộc của Việt Nam trước mối đe dọa an  
ninh phi truyền thống từ năm 2001 đến năm 2015 [Luận án tiến sĩ]. Học viện  
CTQG Hồ Chí Minh. 2016.  
[6] Lê Văn Cảm. Những vấn đề cơ bản trong khoa học pháp luật hình sự. Xuất  
bản lần thứ nhất. Hà Nội: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội; 2005.  
[7] Nguyễn Thị Thuận. Tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và công ước Palermo  
năm 2000. Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. 2018;Số 23 (375);tr. 3.  
[8] Trần Đoàn Hạnh. Những vướng mắc trong đấu tranh, xử lí vi phạm pháp luật  
về tội phạm công nghệ cao. Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. 2016;Số 02+03  
(306+307).  
[9] Bùi Thị Ngọc Lan. Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động  
phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia trong khuôn khổ ASEAN. Tạp chí  
Nghiên cứu Lập pháp. 2019; Số 18 (394);tr. 17.  
[10] United Nations General Assembly. United Nations Convention against  
Transnational  
Organized  
Crime.  
Retrieve  
from:  
381  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
[Retrieved on 15th October 2020].  
[11] Trịnh Tiến Việt. Những vấn đề cơ bản về pháp luật hình sự Việt Nam trước  
thách thức ANPTT. Tạp chí Toà án nhân dân. 2018; Số 3:tr. 27.  
[12] Phan Thị Nhật Tài và Trịnh Tuấn Anh. Trách nhiệm hình sự của pháp nhân  
dưới góc độ luật học so sánh. Tạp chí Tòa án nhân dân. 2018; Số 4:tr. 25.  
[13] Hoàng Trí Ngọc. Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong văn kiện pháp lí  
quốc tế. Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. 2016;Số 20 (324);tr. 19.  
[14] Trịnh Quốc Toản. Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong pháp luật hình  
sự. Xuất bản lần thứ nhất. Hà Nội: NXB CTQG Hà Nội; 2011.  
382  
pdf 10 trang Thùy Anh 14440 Free
Bạn đang xem tài liệu "Pháp luật hình sự Việt Nam trước những rào cản và thách thức của an ninh phi truyền thống", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphap_luat_hinh_su_viet_nam_truoc_nhung_rao_can_va_thach_thuc.pdf