Tình trạng khẩn cấp theo quy định của hiến pháp và công ước

NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
TìNH TRạNG KHẩN CấP THEO QUy ĐịNH CủA  
HIẾN PHÁP VÀ CôNG ƯỚC  
Nguyễn Đăng Dung  
GS.-TS.-Đại-học-Quốc-gia-Hà-Nội  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Từ khóa: Tình trạng khẩn cấp, quyền  
hành pháp, quyền của người dân.  
Trong điều kiện khẩn cấp, quyền lập pháp, tư pháp phải nhường  
cho hành pháp và các quyền con người bị hạn chế, nhưng bản thân  
hành pháp cũng phải theo một trình tự nhất định. Bài viết này phân  
tích cơ sở lý luận và hành động hành pháp trong những điều kiện  
này, cùng những điểm chưa hoàn thiện của pháp luật Việt Nam,  
nhằm bảo vệ quyền của người dân trong tình huống khẩn cấp của  
phòng chống covid-19.  
Lịch sử bài viết:  
Ngày nhận bài : 17/8/2020  
Biên tập  
: 22/9/2020  
: 23/9/2020  
Duyệt bài  
Abstract:  
Article Infomation:  
In urgent conditions, the legislative and judicial powers must yield  
to the executive, and human rights are restricted, but the executive  
itself must follow a certain order. This article provides analysis of  
the theoretical basis and the executive action in the urgent  
conditions, together with the incomplete points of Vietnamese  
laws, in order to protect the people's rights in the emergencies of  
covid-19 prevention.  
Keywords: Emergencies, executive  
powers, people's rights.  
Article History:  
Received  
Edited  
Approved  
: 17 Aug. 2020  
: 22 Sep. 2020  
: 23 Sep. 2020  
1. Hiến pháp và tình trạng khẩn cấp  
thế giới thứ hai, tình trạng khẩn cấp được  
nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng trong  
tình thế hòa bình và đã được hiến định. Hiến  
pháp các nước sau Chiến tranh thế giới thứ  
hai đều bao hàm điều khoản quy định quyền  
ưu tiên của hành pháp trong trường hợp khẩn  
cấp. Trong tình huống này, hành pháp thay  
lập pháp bằng những sắc lệnh tuyên bố tình  
Tình trạng khẩn cấp hay còn được gọi là  
tình trạng đặc biệt là khái niệm đã có từ lâu  
và được sử dụng ở nhiều quốc gia dưới mọi  
chế độ chính trị. Trong quá khứ, khái niệm  
này biểu hiện một tình trạng quan trọng nhất  
định, tình trạng chiến tranh được luật pháp  
ở nhiều quốc gia quy định. Sau Chiến tranh  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
9
Số 18 (418) - T9/2020  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
trạng báo động, giới nghiêm hay khẩn cấp  
trên một phần hay toàn lãnh thổ quốc gia1.  
Trong trường hợp khẩn cấp, về lý  
thuyết, hành pháp có quyền ưu tiên. Cơ quan  
hành pháp không phải thảo luận mà phải  
hành động trong tình trạng nguy cơ và cấp  
bách vì sự sinh tồn của quốc gia: có thể đình  
chỉ việc áp dụng mọi luật lệ cản trở hành  
động khẩn cấp, cả luật bảo vệ quyền lợi của  
cá nhân, với mục đích bảo vệ sự tồn tại chính  
đáng của quốc gia. Trong những trường hợp  
đặc biệt, hành pháp có bổn phận bảo vệ sự  
tồn tại của quốc gia bằng bất cứ biện pháp  
nào để giúp cho sự sinh tồn tại của quốc gia  
và sự vãn hồi trật tự an ninh đều có thể được  
làm trong tình trạng khẩn cấp, không thể là  
những biểu hiện của sự bất hợp pháp.  
Hiến pháp của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ  
không đề cập đến vấn đề khẩn cấp. Nhưng  
tất cả các tổng thống trong những lúc quốc  
gia trải qua cơn khủng hoảng đều khẳng định  
rằng, họ có những quyền dùng biện pháp đặc  
biệt. Tổng thống A. Lincoln vào đầu trận  
Nam Bắc phân tranh đã ký sắc lệnh đình chỉ  
tất cả các quyền tự do công cộng và trước  
Nghị viện, ông đã biện minh hành động của  
mình thực hiện trong tình hình khẩn cấp  
nhằm giữ gìn Hiến pháp và bảo vệ quốc gia1.  
Ở Mỹ, quyền khẩn cấp (emergency  
powers) được hiểu ở hai nghĩa: i) những  
quyền lực đặc biệt trao cho chính phủ hoặc  
cơ quan hành pháp cho phép đình chỉ hiệu  
lực của các thủ tục lập pháp thông thường  
hoặc các trình tự tư pháp. Trong các nền dân  
chủ phương Tây, quyền lực khẩn cấp như  
vậy thường được kiểm soát chặt chẽ bởi cơ  
quan lập pháp và chỉ cho phép sử dụng trong  
một thời gian hạn chế. Tại các nước ít dân  
chủ hơn, quyền lực khẩn cấp thường được  
hiểu các giai đoạn thắt chặt quyền lực và tất  
cả quyền tự do của người dân đều bị đình  
chỉ; ii). quyền lực được nới rộng cho Tổng  
thống Mỹ theo khoản 2 và 3 Điều 2 Hiến  
pháp vì tính khẩn cấp của tình hình, nhằm  
đối phó với vấn đề đang diễn ra.  
Việc thực hiện quyền hạn khẩn cấp có  
thể sau đó được hoặc không được Tòa án tối  
cao xem xét. Trong phán quyết vụ Kormatsu  
kiện Hoa kỳ (1944), Tòa án tối cao khẳng  
định, trong Chiến tranh thế giới thứ hai,  
Tổng thống Franklin D. Roosevenlt đã  
cưỡng chế tập trung người Mỹ gốc Nhật.  
Tuy nhiên, Đạo luật về các quyền tự do công  
dân 1988 đã xin lỗi các công dân này vì sự  
đối xử tệ bạc của chính phủ và quy định  
rằng, nếu còn sống, các công dân này được  
đền bù 20.000 đô la. Nhưng trong Phán  
quyết Youngstowwn Sheet and Tube Co. v.  
Sawyer, Tòa án tối cao đã bác bỏ yêu sách  
của Tổng thống Harry S. Truman đòi được  
trao quyền lực khẩn cấp để trưng dụng các  
nhà máy thép tư nhân nhằm đảm bảo sản  
lượng của thời chiến. Tổng thống có thể làm  
hầu hết những gì ông muốn trong khuôn khổ  
quyền lực khẩn cấp cho tới khi bị một trong  
hai quyền lực còn lại ngăn cản. Việc giám  
sát chéo như vậy giúp hạn chế được quyền  
hạn khẩn cấp của Tổng thống cho tới khi nào  
quyền lực đó được coi là cần thiết2.  
Quyền hạn khẩn cấp (Emergency  
Powers) là các quyền hạn do chính quyền  
thực hiện trong một giai đoạn khẩn trương,  
hoặc các quyền hạn được Quốc hội trao cho  
Tổng thống trong một khoảng thời gian hạn  
chế. Việc Tổng thống nắm những quyền hạn  
cần thiết trong các vấn đề đối ngoại đã cung  
1 Xem: An outline of American History /Lịch sử khái quát nước Mỹ, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội năm  
2000, tr.192 - 193.  
2 Jay M. Shafritz, Từ điển về Chính quyền và chính trị Hoa kỳ, Nxb. Chính trị quốc gia Hà Nội năm 2002.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
10  
Số 18 (418) - T9/2020  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
cấp cho Tổng thống nguồn lực trong giai  
đoạn khẩn trương.  
những hành vi lập pháp bằng cách ra những  
sắc luật tuyên bố tình trạng báo động, giới  
nghiêm hay khẩn trương trên một phần hay  
toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.  
Ở nước Anh giữa lúc phiến loạn vào  
cuối thế kỷ 19, Chính phủ - hành pháp đã  
ký một loạt những sắc lệnh đặc biệt: Peace  
Preservation Acts; đến năm 1920, Quốc  
hội Anh đã biểu quyết thành đạo luật về  
quyền khẩn cấp (Emergency Power Acts)  
nay vẫn còn có hiệu lực - một đạo luật có  
tính cách thường trực cho phép Chính phủ  
tuyên bố tình trạng khẩn cấp trong trường  
hợp đình công.  
Tình trạng khẩn cấp và tình trạng giới  
nghiêm: Trong cả hai tình trạng này, việc thu  
hẹp và nhiều khi còn có thể đình chỉ hẳn việc  
áp dụng quyền tự do, nhưng không phải là  
một chế độ độc tài hợp pháp, không kiểm  
soát, không giới hạn. Đây chỉ là 2 định chế  
ngoại lệ của nền pháp quyền. So với tình  
trạng khẩn cấp thì tình trạng giới nghiêm  
chặt chẽ hơn. Nếu ở tình trạng khẩn cấp,  
chính quyền vẫn điều hành, nhưng ở tình  
trạng giới nghiêm thì chính quyền dân sự  
được thay bằng quân sự. Tình trạng báo  
động ít trầm trọng hơn và ít nguy hiểm hơn  
tình trạng khẩn cấp. Tình trạng giới nghiêm  
là tình trạng gay gắt nhất, thường được ban  
hành để ứng phó với cuộc biến loạn trong  
nước hoặc cuộc xâm lăng từ bên ngoài vào.  
Tình trạng khẩn cấp là giải pháp trung gian  
giữa tình trạng bình thường và tình trạng giới  
nghiêm, giải pháp ôn hòa hơn bằng cách  
tăng cường quyền hạn của hành pháp - hành  
chính để đối phó với nguy cơ cấp bách như  
thiên tai, bão lụt, động đất…  
Tình trạng khẩn cấp là tình trạng cho  
phép chính quyền dùng những biện pháp đặc  
biệt để đối phó với tình trạng đặc biệt, nhưng  
không phải với bất cứ biện pháp nào cũng  
được áp dụng, mà chỉ những biện pháp cần  
thiết cho một tình thế nhất định mới là hợp  
pháp. Việc xác định hiệu lực pháp lý của tình  
trạng khẩn cấp phải có tính thu hẹp. Để ứng  
phó với tình thế đặc biệt, theo quy định của  
cơ quan hành pháp, một hay nhiều quyền tự  
do của công dân, một hay nhiều đạo luật có  
thể bị đình chỉ hoặc bị hạn chế thi hành. Có  
thể tuyên bố tình trạng khẩn cấp trên toàn  
Điều 16 Hiến pháp năm 1958 của Pháp  
quốc quy định:  
“Khi nào những định chế của chính thể  
cộng hòa, nền độc lập của quốc gia, sự vẹn  
toàn của lãnh thổ hay sự thi hành các hiệp  
ước quốc tế bị đe dọa một cách trầm trọng,  
trực tiếp và sự điều hành của các cơ quan  
công quyền do Hiến pháp quy định bị đình  
trệ, thì Tổng thống cộng hòa được ban hành  
những biện pháp thích ứng sau khi hỏi ý kiến  
chính thức của Thủ tướng, các Chủ tịch hai  
Viện và Hội đồng Bảo hiến”3.  
Việc tuyên bố tình trạng khẩn cấp hay  
giới nghiêm là sự hạn chế quyền con người  
của công dân, về nguyên tắc thuộc thẩm  
quyền của lập pháp. Tuy nhiên, tình trạng  
khẩn cấp là tình trạng đặc biệt, xảy ra rất đột  
ngột, vì rằng, nếu biết trước được những  
biến cố có thể làm phát sinh những tình trạng  
kể trên, thì người ta có thể ngăn ngừa để  
chúng không xảy ra. Một cuộc biến loạn, hay  
một biến cố tự nhiên như lũ lụt, bão gió  
thường xảy ra bất ngờ, nếu phải chờ có đạo  
luật của lập pháp ban bố tình trạng khẩn cấp,  
giới nghiêm thì chắc chắn an ninh, sinh  
mạng của người dân không thể được bảo vệ  
một cách kịp thời. Trong điều kiện đó, hành  
pháp phải có quyền hành động thực hiện  
3 Xem: Tuyển tập Hiến pháp các nước trên thế giới, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội năm 2010.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
11  
Số 18 (418) - T9/2020  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
lãnh thổ quốc gia và cũng có thể áp dụng  
trên một vùng lãnh thổ hoặc vài vùng lãnh  
thổ mà an ninh trật tự bị xâm phạm khá  
nghiêm trọng. Trong những tình trạng này,  
tự do của con người bị thu hẹp. Những  
quyền thường bị hạn chế là quyền tự do ngôn  
luận, tự do hội họp, tự do đi lại, tự do cư trú,  
tự do xuất nhập cảnh, tự do đình công… Vì  
vậy, trong quyết định tuyên bố tình trạng  
khẩn cấp phải nêu rõ.  
Tuyên bố tình trạng khẩn cấp tức là đình  
chỉ việc thực hiện pháp luật, nhất là đình chỉ  
những quyền liên quan đến quyền con người  
và lợi ích của người dân. Sự tuyên bố cho  
phép nhân viên hành chính và nhất là nới  
rộng quyền của người đứng đầu hành pháp,  
có quyền cấm cư trú, cấm giao thông trong  
những giờ và vùng nhất định. Trong những  
vùng này, hành pháp có quyền quyết định  
nơi cư trú của công dân, cấm tự do hội họp,  
đóng cửa những nơi công cộng, đình chỉ bầu  
cử, kiểm tra người thường trú và tạm trú  
ngày và đêm, quyền kiểm soát tất cả hoặc  
một số báo chí, các phương tiện tự do ngôn  
luận khác.  
Quyền được phép thu hẹp các quyền  
công dân của các cơ quan hành pháp không  
là tuyệt đối, mà phải tuân theo nguyên tắc  
tương ứng với tình trạng được tuyên bố. Hơn  
nữa, cần phải lưu ý, khi quyết định tình trạng  
khẩn cấp, không được xâm phạm đối với  
một số quyền tuyệt đối của người dân. Đó là  
các quyền được sống của người dân, quyền  
không bị tra tấn, quyền bị bắt làm nô lệ. Chủ  
thể ra quyết định tình trạng khẩn cấp không  
thể lập luận rằng quyền đó của người dân  
không được pháp luật quy định một cách rõ  
ràng là quyền bất khả xâm phạm, mà có thể  
áp dụng những hạn chế đặc biệt trong tình  
trạng khẩn cấp. Chỉ có một số ít quyền tuyệt  
đối (absolute right), tức không bị giới hạn  
trong bất kỳ trường hợp nào, đó là quyền  
được tôn trọng về nhân phẩm (trong đó bao  
gồm quyền không bị làm nô lệ, quyền không  
bị tra tấn và đối xử một cách tàn ác). Trong  
khi đó, một số quyền còn gây tranh cãi, đó  
là quyền sống và quyền xét xử công bằng.  
Ngoài những quyền tuyệt đối, các quyền còn  
lại đều có thể bị giới hạn ở những mức độ  
khác nhau.  
Việc thực hiện các quy định này rất dễ  
dẫn hành pháp đến chỗ lạm quyền. Để tránh  
tình trạng này, Hiến pháp các nước thường  
yêu cầu lập pháp phải được triệu tập trong  
một thời gian nhất định sau khi quyết định  
tình trạng khẩn cấp được ban hành, để phê  
chuẩn, sửa đổi hoặc bãi bỏ. Mọi sự hạn chế  
quyền con người của công dân về nguyên tắc  
phải do một đạo luật quy định; trong đó, luật  
ấn định rõ phạm vi áp dụng trong thời gian  
và không gian. Về nguyên tắc, luật đó phải  
do cơ quan lập pháp làm ra và ban hành.  
Nhưng vì ở trường hợp đặc biệt, Hiến pháp  
đã dành cho cơ quan hành pháp có quyền  
ban hành các sắc lệnh để tuyên bố tình trạng  
giới nghiêm hay khẩn cấp.  
Sự ban bố này cũng như việc hạn chế  
các quyền của công dân phải được Quốc hội  
xem xét lại để phê chuẩn hoặc sửa đổi hoặc  
bãi bỏ. Vì vậy, Hiến pháp dân chủ thường  
phải quy định khoảng thời hạn nhất định kể  
từ ngày được quyết định là tình trạng đặc  
biệt, Quốc hội phải được triệu tập họp để phê  
chuẩn, đình chỉ hay bãi bỏ tình trạng đặc biệt.  
2. Công ước quốc tế về tình trạng khẩn cấp  
Công ước quốc tế về các quyền dân sự,  
chính trị (ICCPR) và các Công ước khác về  
quyền con người của Liên hợp quốc cũng có  
những quy định mang tính chất chuẩn mực  
tương tự. Công ước quốc tế về nhân quyền  
chia các quyền thành 2 loại: những quyền bị  
giới hạn áp dụng (limitation/ restriction  
rights) là những quyền cho phép quốc gia  
thành viên áp đặt một số điều kiện cho việc  
áp dụng, và những quyền không bị giới hạn  
được gọi là những quyền tuyệt đối (absolute  
fights). Điều 4 của Công ước quốc tế về các  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
12  
Số 18 (418) - T9/2020  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR)4  
quy định, các quốc gia thành viên có thể đặt  
ra những giới hạn với các quyền ghi nhận  
trong Công ước, với các điều kiện sau: i)  
Những giới hạn phải được quy định trong  
pháp luật quốc gia; ii) Những giới hạn đặt ra  
không trái với với bản chất của các quyền có  
liên quan; iii) Việc đặt ra các hạn chế về  
quyền là cần thiết trong xã hội dân chủ và  
nhằm mục đích duy nhất là thúc đẩy lợi ích  
chung của cộng đồng.  
Để áp dụng các biện pháp tạm đình chỉ  
thực hiện quyền, Điều 4 của ICCPR đòi hỏi:  
i. Các biện pháp áp dụng phải thực sự  
xuất phát từ tình huống khẩn cấp, do tình  
hình bắt buộc phải làm để cứu vãn sự sống  
còn của quốc gia;  
chính trị trong một thời gian nhất định do bối  
cảnh khẩn cấp của quốc gia, thông qua các  
biện pháp cụ thể như: thiết quân luật trên cả  
nước hay cho từng địa phương, khu vực,  
cấm biểu tình, hội họp đông người, cấm  
hoặc hạn chế hoạt động của một số cơ quan  
thông tin đại chúng, cấm đi lại vào khu vực,  
cấm xuất nhập cảnh. Mặc dù được diễn đạt  
khác nhau, các Công ước quốc tế và các  
Hiến pháp, về cơ bản, thể hiện ba triết lý của  
việc giới hạn:  
Thứ nhất, nguyên tắc này ghi nhận sự  
xung đột giữa quyền của người này với  
quyền của người khác cũng như với lợi ích  
chung của toàn xã hội. Đây là điều không thể  
tránh khỏi vì bảo vệ phạm vi tự do chính  
đáng của người này cũng chính là sự giới  
hạn tự do của người khác.  
ii. Các biện pháp áp dụng không được  
trái với những nghĩa vụ khác xuất phát từ  
luật pháp quốc tế, đặc biệt là không mang  
tính chất phân biệt đối xử về chủng tộc, màu  
da, tôn giáo, giới tính, ngôn ngữ hoặc nguồn  
gốc dân tộc;  
iii. Các quốc gia không được tạm đình  
chỉ việc thực hiện các quyền sống, quyền  
không bị tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo,  
hạ nhục, không bị bắt giữ làm nô lệ, quyền  
tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo...  
(những quyền không thể tạm đình chỉ - non-  
derogatabe rights);  
iv. Khi áp dụng các biện pháp này, phải  
thông báo ngay cho các quốc gia thành viên  
khác của ICCPR thông qua Tổng Thư ký  
Liên hợp quốc, trong đó nêu rõ những biện  
pháp cụ thể đã áp dụng và thời gian dự định  
sẽ chấm dứt áp dụng các biện pháp này5.  
Về bản chất, các quy định kể trên là sự  
tạm đình chỉ thực hiện một số quyền dân sự,  
Thứ hai, việc giới hạn quyền được thực  
hiện thông qua các quy phạm pháp luật dưới  
Hiến pháp.  
Thứ ba, nguyên tắc này đòi hỏi đảm bảo  
tính cân xứng giữa quyền bị hạn chế với bảo  
vệ quyền của người khác và lợi ích chung. Tính  
cân xứng được đảm bảo cũng có nghĩa là biện  
pháp giới hạn quyền mang tính hợp hiến.  
3. Hiến pháp Việt Nam về tình trạng  
khẩn cấp  
Cũng giống như hiến pháp ở nhiều quốc  
gia khác, Hiến pháp của Việt Nam cũng quy  
định về tình trạng chiến tranh, hòa bình và  
tình trạng khẩn cấp. Vấn đề chiến tranh và  
hòa bình thuộc thẩm quyền của Quốc hội.  
Vấn đề khẩn cấp và giới nghiêm thuộc thẩm  
quyền của cơ thường trực hoạt động thường  
xuyên của Quốc hội - Ủy ban thường vụ Quốc  
hội (UBTVQH). Trình tự của việc quyết định  
và công bố thường chia 2 công đoạn: công  
đoạn quyết định và công đoạn công bố. Công  
4 Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (International Covenant on Economic, Social and  
Cultural Rights- ICESCR).  
5 Giới thiệu Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị (ICCPR, 1966), Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà  
Nội, Nxb. Hồng Đức năm 2012, tr. 49 - 50.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
13  
Số 18 (418) - T9/2020  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
đoạn quyết định được Hiến pháp quy định  
thẩm quyền của Quốc hội hoặc UBTVQH.  
Công đoạn công bố thuộc thẩm quyền của  
nguyên thủ quốc gia – Chủ tịch nước.  
Thứ nhất, tình trạng khẩn cấp là tình  
trạng bất thường, không thể lấy các quy định  
của pháp luật bình thường để điều hành và  
quản lý, cũng như người dân không thể thực  
hiện quyền và tự do của mình theo quy định  
của pháp luật. Tình trạng đó đòi hỏi phải có  
sự ứng xử nhanh, nên pháp luật các quốc gia  
khác thường ưu tiên cho người đứng đầu  
hành pháp - hành pháp thực quyền. Trong  
khi Hiến pháp hiện hành của Việt Nam là  
Thủ tướng chính phủ, còn Chủ tịch nước  
theo quy định của Hiến pháp là hành pháp  
tượng trưng, không trực tiếp điều hành, chủ  
yếu là chuyển hóa các quyết định của lập  
pháp và hành pháp thành quyết định chính  
thức của Nhà nước.  
Theo quy định của Pháp lệnh năm 2000,  
có 2 chủ thể quyết định tình trạng khẩn cấp:  
UBTVQH và Chủ tịch nước (Điều 74). Việc  
quy định ở phần nhiệm vụ quyền hạn của  
UBTVQH, cộng với việc quy định trước đã  
chứng tỏ UBTVQH là chủ thể quan trọng  
hơn. Chủ tịch nước chỉ có quyền trong  
trường hợp mà UBTVQH không thể họp.  
Tuy nhiên, việc UBTVQH triệu tập được  
đầy đủ các thành viên và bàn bạc, thảo luận  
rồi đến quyết định theo đa số thì khó cho  
việc quyết định nhanh đáp ứng được tình  
trạng khẩn cấp của vấn đề.  
Thứ hai, tình trạng khẩn cấp là tình trạng  
tạm thời, các quyền và lợi ích của người dân  
bị giới hạn, mà quyết định của Nhà nước cần  
phải nhanh. Để tránh sự lạm dụng quyền lực  
của hành pháp, pháp luật nhiều quốc gia quy  
định khoảng thời gian nhất định hành pháp  
được quyền quyết định tình trạng khẩn cấp  
và khoảng thời gian nhất định phải có sự phê  
chuẩn của lập pháp. Pháp luật của Việt Nam  
chưa quy định những “chốt hãm” quyền lực  
này với các chủ thể có quyền quyết định tình  
trạng khẩn cấp.  
Điều 70 Hiến pháp năm 2013 quy định:  
Quyết định vấn đề chiến tranh và hoà bình;  
quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện  
pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và  
an ninh quốc gia thuộc thẩm quyền của Quốc  
hội – lập pháp. Khoản 10 Điều 74 Hiến pháp  
năm 2013 quy định, UBTVQH có quyền:  
Quyết định tổng động viên hoặc động viên  
cục bộ; ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp  
trong cả nước hoặc ở từng địa phương.  
Điều 88 Hiến pháp năm 2013 về nhiệm  
vụ của Chủ tịch nước tại khoản 5 quy định,  
Chủ tịch nước, căn cứ vào nghị quyết của  
Quốc hội hoặc của UBTVQH, công bố, bãi  
bỏ quyết định tuyên bố tình trạng chiến  
tranh; căn cứ vào nghị quyết của UBTVQH,  
ra lệnh tổng động viên hoặc động viên cục  
bộ, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp;  
trong trường hợp UBTVQH không thể họp  
được, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp  
trong cả nước hoặc ở từng địa phương.  
Pháp lệnh của UBTVQH năm 2000  
(Pháp lệnh năm 2000) quy định một cách chi  
tiết hơn về trình trạng khẩn cấp. Điều 2 của  
Pháp lệnh này quy định: Theo đề nghị của  
Thủ tướng chính phủ, UBTVQH ra nghị  
quyết về tình trạng khẩn cấp. Trong trường  
hợp UBTVQH không họp, thì theo đề nghị  
của Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch nước ra  
lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp.  
Điều 16 của Pháp lệnh năm 2000 quy  
định: “Theo đề nghị của Thủ tướng chính  
phủ, UBTVQH ra nghị quyết, hoặc Chủ tịch  
nước ra lệnh bãi bỏ tình trạng khẩn cấp, khi  
thảm họa đã được ngăn ngừa, hạn chế hoặc  
khắc phục, dịch bệnh đã được chặn đứng,  
hoặc dập tắt, tình trạng an ninh quốc gia, trật  
tự an toàn xã hội đã được ổn định”.  
Thứ ba, Hiến pháp của Việt Nam chưa  
phân biệt rõ quyền tuyệt đối là những quyền  
không bị giới hạn và những quyền có thể bị  
So với các quốc gia hiện đại, những quy  
định trên có một số điểm cần bàn luận sau đây:  
giới hạn  
n
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
14  
Số 18 (418) - T9/2020  
pdf 6 trang Thùy Anh 11760 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tình trạng khẩn cấp theo quy định của hiến pháp và công ước", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftinh_trang_khan_cap_theo_quy_dinh_cua_hien_phap_va_cong_uoc.pdf