Tình trạng khẩn cấp theo quy định của hiến pháp và công ước
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
TìNH TRạNG KHẩN CấP THEO QUy ĐịNH CủA
HIẾN PHÁP VÀ CôNG ƯỚC
Nguyễn Đăng Dung
GS.-TS.-Đại-học-Quốc-gia-Hà-Nội
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Từ khóa: Tình trạng khẩn cấp, quyền
hành pháp, quyền của người dân.
Trong điều kiện khẩn cấp, quyền lập pháp, tư pháp phải nhường
cho hành pháp và các quyền con người bị hạn chế, nhưng bản thân
hành pháp cũng phải theo một trình tự nhất định. Bài viết này phân
tích cơ sở lý luận và hành động hành pháp trong những điều kiện
này, cùng những điểm chưa hoàn thiện của pháp luật Việt Nam,
nhằm bảo vệ quyền của người dân trong tình huống khẩn cấp của
phòng chống covid-19.
Lịch sử bài viết:
Ngày nhận bài : 17/8/2020
Biên tập
: 22/9/2020
: 23/9/2020
Duyệt bài
Abstract:
Article Infomation:
In urgent conditions, the legislative and judicial powers must yield
to the executive, and human rights are restricted, but the executive
itself must follow a certain order. This article provides analysis of
the theoretical basis and the executive action in the urgent
conditions, together with the incomplete points of Vietnamese
laws, in order to protect the people's rights in the emergencies of
covid-19 prevention.
Keywords: Emergencies, executive
powers, people's rights.
Article History:
Received
Edited
Approved
: 17 Aug. 2020
: 22 Sep. 2020
: 23 Sep. 2020
1. Hiến pháp và tình trạng khẩn cấp
thế giới thứ hai, tình trạng khẩn cấp được
nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng trong
tình thế hòa bình và đã được hiến định. Hiến
pháp các nước sau Chiến tranh thế giới thứ
hai đều bao hàm điều khoản quy định quyền
ưu tiên của hành pháp trong trường hợp khẩn
cấp. Trong tình huống này, hành pháp thay
lập pháp bằng những sắc lệnh tuyên bố tình
Tình trạng khẩn cấp hay còn được gọi là
tình trạng đặc biệt là khái niệm đã có từ lâu
và được sử dụng ở nhiều quốc gia dưới mọi
chế độ chính trị. Trong quá khứ, khái niệm
này biểu hiện một tình trạng quan trọng nhất
định, tình trạng chiến tranh được luật pháp
ở nhiều quốc gia quy định. Sau Chiến tranh
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU
9
Số 18 (418) - T9/2020
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
trạng báo động, giới nghiêm hay khẩn cấp
trên một phần hay toàn lãnh thổ quốc gia1.
Trong trường hợp khẩn cấp, về lý
thuyết, hành pháp có quyền ưu tiên. Cơ quan
hành pháp không phải thảo luận mà phải
hành động trong tình trạng nguy cơ và cấp
bách vì sự sinh tồn của quốc gia: có thể đình
chỉ việc áp dụng mọi luật lệ cản trở hành
động khẩn cấp, cả luật bảo vệ quyền lợi của
cá nhân, với mục đích bảo vệ sự tồn tại chính
đáng của quốc gia. Trong những trường hợp
đặc biệt, hành pháp có bổn phận bảo vệ sự
tồn tại của quốc gia bằng bất cứ biện pháp
nào để giúp cho sự sinh tồn tại của quốc gia
và sự vãn hồi trật tự an ninh đều có thể được
làm trong tình trạng khẩn cấp, không thể là
những biểu hiện của sự bất hợp pháp.
Hiến pháp của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ
không đề cập đến vấn đề khẩn cấp. Nhưng
tất cả các tổng thống trong những lúc quốc
gia trải qua cơn khủng hoảng đều khẳng định
rằng, họ có những quyền dùng biện pháp đặc
biệt. Tổng thống A. Lincoln vào đầu trận
Nam Bắc phân tranh đã ký sắc lệnh đình chỉ
tất cả các quyền tự do công cộng và trước
Nghị viện, ông đã biện minh hành động của
mình thực hiện trong tình hình khẩn cấp
nhằm giữ gìn Hiến pháp và bảo vệ quốc gia1.
Ở Mỹ, quyền khẩn cấp (emergency
powers) được hiểu ở hai nghĩa: i) những
quyền lực đặc biệt trao cho chính phủ hoặc
cơ quan hành pháp cho phép đình chỉ hiệu
lực của các thủ tục lập pháp thông thường
hoặc các trình tự tư pháp. Trong các nền dân
chủ phương Tây, quyền lực khẩn cấp như
vậy thường được kiểm soát chặt chẽ bởi cơ
quan lập pháp và chỉ cho phép sử dụng trong
một thời gian hạn chế. Tại các nước ít dân
chủ hơn, quyền lực khẩn cấp thường được
hiểu các giai đoạn thắt chặt quyền lực và tất
cả quyền tự do của người dân đều bị đình
chỉ; ii). quyền lực được nới rộng cho Tổng
thống Mỹ theo khoản 2 và 3 Điều 2 Hiến
pháp vì tính khẩn cấp của tình hình, nhằm
đối phó với vấn đề đang diễn ra.
Việc thực hiện quyền hạn khẩn cấp có
thể sau đó được hoặc không được Tòa án tối
cao xem xét. Trong phán quyết vụ Kormatsu
kiện Hoa kỳ (1944), Tòa án tối cao khẳng
định, trong Chiến tranh thế giới thứ hai,
Tổng thống Franklin D. Roosevenlt đã
cưỡng chế tập trung người Mỹ gốc Nhật.
Tuy nhiên, Đạo luật về các quyền tự do công
dân 1988 đã xin lỗi các công dân này vì sự
đối xử tệ bạc của chính phủ và quy định
rằng, nếu còn sống, các công dân này được
đền bù 20.000 đô la. Nhưng trong Phán
quyết Youngstowwn Sheet and Tube Co. v.
Sawyer, Tòa án tối cao đã bác bỏ yêu sách
của Tổng thống Harry S. Truman đòi được
trao quyền lực khẩn cấp để trưng dụng các
nhà máy thép tư nhân nhằm đảm bảo sản
lượng của thời chiến. Tổng thống có thể làm
hầu hết những gì ông muốn trong khuôn khổ
quyền lực khẩn cấp cho tới khi bị một trong
hai quyền lực còn lại ngăn cản. Việc giám
sát chéo như vậy giúp hạn chế được quyền
hạn khẩn cấp của Tổng thống cho tới khi nào
quyền lực đó được coi là cần thiết2.
Quyền hạn khẩn cấp (Emergency
Powers) là các quyền hạn do chính quyền
thực hiện trong một giai đoạn khẩn trương,
hoặc các quyền hạn được Quốc hội trao cho
Tổng thống trong một khoảng thời gian hạn
chế. Việc Tổng thống nắm những quyền hạn
cần thiết trong các vấn đề đối ngoại đã cung
1 Xem: An outline of American History /Lịch sử khái quát nước Mỹ, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội năm
2000, tr.192 - 193.
2 Jay M. Shafritz, Từ điển về Chính quyền và chính trị Hoa kỳ, Nxb. Chính trị quốc gia Hà Nội năm 2002.
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU
10
Số 18 (418) - T9/2020
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
cấp cho Tổng thống nguồn lực trong giai
đoạn khẩn trương.
những hành vi lập pháp bằng cách ra những
sắc luật tuyên bố tình trạng báo động, giới
nghiêm hay khẩn trương trên một phần hay
toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.
Ở nước Anh giữa lúc phiến loạn vào
cuối thế kỷ 19, Chính phủ - hành pháp đã
ký một loạt những sắc lệnh đặc biệt: Peace
Preservation Acts; đến năm 1920, Quốc
hội Anh đã biểu quyết thành đạo luật về
quyền khẩn cấp (Emergency Power Acts)
nay vẫn còn có hiệu lực - một đạo luật có
tính cách thường trực cho phép Chính phủ
tuyên bố tình trạng khẩn cấp trong trường
hợp đình công.
Tình trạng khẩn cấp và tình trạng giới
nghiêm: Trong cả hai tình trạng này, việc thu
hẹp và nhiều khi còn có thể đình chỉ hẳn việc
áp dụng quyền tự do, nhưng không phải là
một chế độ độc tài hợp pháp, không kiểm
soát, không giới hạn. Đây chỉ là 2 định chế
ngoại lệ của nền pháp quyền. So với tình
trạng khẩn cấp thì tình trạng giới nghiêm
chặt chẽ hơn. Nếu ở tình trạng khẩn cấp,
chính quyền vẫn điều hành, nhưng ở tình
trạng giới nghiêm thì chính quyền dân sự
được thay bằng quân sự. Tình trạng báo
động ít trầm trọng hơn và ít nguy hiểm hơn
tình trạng khẩn cấp. Tình trạng giới nghiêm
là tình trạng gay gắt nhất, thường được ban
hành để ứng phó với cuộc biến loạn trong
nước hoặc cuộc xâm lăng từ bên ngoài vào.
Tình trạng khẩn cấp là giải pháp trung gian
giữa tình trạng bình thường và tình trạng giới
nghiêm, giải pháp ôn hòa hơn bằng cách
tăng cường quyền hạn của hành pháp - hành
chính để đối phó với nguy cơ cấp bách như
thiên tai, bão lụt, động đất…
Tình trạng khẩn cấp là tình trạng cho
phép chính quyền dùng những biện pháp đặc
biệt để đối phó với tình trạng đặc biệt, nhưng
không phải với bất cứ biện pháp nào cũng
được áp dụng, mà chỉ những biện pháp cần
thiết cho một tình thế nhất định mới là hợp
pháp. Việc xác định hiệu lực pháp lý của tình
trạng khẩn cấp phải có tính thu hẹp. Để ứng
phó với tình thế đặc biệt, theo quy định của
cơ quan hành pháp, một hay nhiều quyền tự
do của công dân, một hay nhiều đạo luật có
thể bị đình chỉ hoặc bị hạn chế thi hành. Có
thể tuyên bố tình trạng khẩn cấp trên toàn
Điều 16 Hiến pháp năm 1958 của Pháp
quốc quy định:
“Khi nào những định chế của chính thể
cộng hòa, nền độc lập của quốc gia, sự vẹn
toàn của lãnh thổ hay sự thi hành các hiệp
ước quốc tế bị đe dọa một cách trầm trọng,
trực tiếp và sự điều hành của các cơ quan
công quyền do Hiến pháp quy định bị đình
trệ, thì Tổng thống cộng hòa được ban hành
những biện pháp thích ứng sau khi hỏi ý kiến
chính thức của Thủ tướng, các Chủ tịch hai
Viện và Hội đồng Bảo hiến”3.
Việc tuyên bố tình trạng khẩn cấp hay
giới nghiêm là sự hạn chế quyền con người
của công dân, về nguyên tắc thuộc thẩm
quyền của lập pháp. Tuy nhiên, tình trạng
khẩn cấp là tình trạng đặc biệt, xảy ra rất đột
ngột, vì rằng, nếu biết trước được những
biến cố có thể làm phát sinh những tình trạng
kể trên, thì người ta có thể ngăn ngừa để
chúng không xảy ra. Một cuộc biến loạn, hay
một biến cố tự nhiên như lũ lụt, bão gió
thường xảy ra bất ngờ, nếu phải chờ có đạo
luật của lập pháp ban bố tình trạng khẩn cấp,
giới nghiêm thì chắc chắn an ninh, sinh
mạng của người dân không thể được bảo vệ
một cách kịp thời. Trong điều kiện đó, hành
pháp phải có quyền hành động thực hiện
3 Xem: Tuyển tập Hiến pháp các nước trên thế giới, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội năm 2010.
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU
11
Số 18 (418) - T9/2020
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
lãnh thổ quốc gia và cũng có thể áp dụng
trên một vùng lãnh thổ hoặc vài vùng lãnh
thổ mà an ninh trật tự bị xâm phạm khá
nghiêm trọng. Trong những tình trạng này,
tự do của con người bị thu hẹp. Những
quyền thường bị hạn chế là quyền tự do ngôn
luận, tự do hội họp, tự do đi lại, tự do cư trú,
tự do xuất nhập cảnh, tự do đình công… Vì
vậy, trong quyết định tuyên bố tình trạng
khẩn cấp phải nêu rõ.
Tuyên bố tình trạng khẩn cấp tức là đình
chỉ việc thực hiện pháp luật, nhất là đình chỉ
những quyền liên quan đến quyền con người
và lợi ích của người dân. Sự tuyên bố cho
phép nhân viên hành chính và nhất là nới
rộng quyền của người đứng đầu hành pháp,
có quyền cấm cư trú, cấm giao thông trong
những giờ và vùng nhất định. Trong những
vùng này, hành pháp có quyền quyết định
nơi cư trú của công dân, cấm tự do hội họp,
đóng cửa những nơi công cộng, đình chỉ bầu
cử, kiểm tra người thường trú và tạm trú
ngày và đêm, quyền kiểm soát tất cả hoặc
một số báo chí, các phương tiện tự do ngôn
luận khác.
Quyền được phép thu hẹp các quyền
công dân của các cơ quan hành pháp không
là tuyệt đối, mà phải tuân theo nguyên tắc
tương ứng với tình trạng được tuyên bố. Hơn
nữa, cần phải lưu ý, khi quyết định tình trạng
khẩn cấp, không được xâm phạm đối với
một số quyền tuyệt đối của người dân. Đó là
các quyền được sống của người dân, quyền
không bị tra tấn, quyền bị bắt làm nô lệ. Chủ
thể ra quyết định tình trạng khẩn cấp không
thể lập luận rằng quyền đó của người dân
không được pháp luật quy định một cách rõ
ràng là quyền bất khả xâm phạm, mà có thể
áp dụng những hạn chế đặc biệt trong tình
trạng khẩn cấp. Chỉ có một số ít quyền tuyệt
đối (absolute right), tức không bị giới hạn
trong bất kỳ trường hợp nào, đó là quyền
được tôn trọng về nhân phẩm (trong đó bao
gồm quyền không bị làm nô lệ, quyền không
bị tra tấn và đối xử một cách tàn ác). Trong
khi đó, một số quyền còn gây tranh cãi, đó
là quyền sống và quyền xét xử công bằng.
Ngoài những quyền tuyệt đối, các quyền còn
lại đều có thể bị giới hạn ở những mức độ
khác nhau.
Việc thực hiện các quy định này rất dễ
dẫn hành pháp đến chỗ lạm quyền. Để tránh
tình trạng này, Hiến pháp các nước thường
yêu cầu lập pháp phải được triệu tập trong
một thời gian nhất định sau khi quyết định
tình trạng khẩn cấp được ban hành, để phê
chuẩn, sửa đổi hoặc bãi bỏ. Mọi sự hạn chế
quyền con người của công dân về nguyên tắc
phải do một đạo luật quy định; trong đó, luật
ấn định rõ phạm vi áp dụng trong thời gian
và không gian. Về nguyên tắc, luật đó phải
do cơ quan lập pháp làm ra và ban hành.
Nhưng vì ở trường hợp đặc biệt, Hiến pháp
đã dành cho cơ quan hành pháp có quyền
ban hành các sắc lệnh để tuyên bố tình trạng
giới nghiêm hay khẩn cấp.
Sự ban bố này cũng như việc hạn chế
các quyền của công dân phải được Quốc hội
xem xét lại để phê chuẩn hoặc sửa đổi hoặc
bãi bỏ. Vì vậy, Hiến pháp dân chủ thường
phải quy định khoảng thời hạn nhất định kể
từ ngày được quyết định là tình trạng đặc
biệt, Quốc hội phải được triệu tập họp để phê
chuẩn, đình chỉ hay bãi bỏ tình trạng đặc biệt.
2. Công ước quốc tế về tình trạng khẩn cấp
Công ước quốc tế về các quyền dân sự,
chính trị (ICCPR) và các Công ước khác về
quyền con người của Liên hợp quốc cũng có
những quy định mang tính chất chuẩn mực
tương tự. Công ước quốc tế về nhân quyền
chia các quyền thành 2 loại: những quyền bị
giới hạn áp dụng (limitation/ restriction
rights) là những quyền cho phép quốc gia
thành viên áp đặt một số điều kiện cho việc
áp dụng, và những quyền không bị giới hạn
được gọi là những quyền tuyệt đối (absolute
fights). Điều 4 của Công ước quốc tế về các
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU
12
Số 18 (418) - T9/2020
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR)4
quy định, các quốc gia thành viên có thể đặt
ra những giới hạn với các quyền ghi nhận
trong Công ước, với các điều kiện sau: i)
Những giới hạn phải được quy định trong
pháp luật quốc gia; ii) Những giới hạn đặt ra
không trái với với bản chất của các quyền có
liên quan; iii) Việc đặt ra các hạn chế về
quyền là cần thiết trong xã hội dân chủ và
nhằm mục đích duy nhất là thúc đẩy lợi ích
chung của cộng đồng.
Để áp dụng các biện pháp tạm đình chỉ
thực hiện quyền, Điều 4 của ICCPR đòi hỏi:
i. Các biện pháp áp dụng phải thực sự
xuất phát từ tình huống khẩn cấp, do tình
hình bắt buộc phải làm để cứu vãn sự sống
còn của quốc gia;
chính trị trong một thời gian nhất định do bối
cảnh khẩn cấp của quốc gia, thông qua các
biện pháp cụ thể như: thiết quân luật trên cả
nước hay cho từng địa phương, khu vực,
cấm biểu tình, hội họp đông người, cấm
hoặc hạn chế hoạt động của một số cơ quan
thông tin đại chúng, cấm đi lại vào khu vực,
cấm xuất nhập cảnh. Mặc dù được diễn đạt
khác nhau, các Công ước quốc tế và các
Hiến pháp, về cơ bản, thể hiện ba triết lý của
việc giới hạn:
Thứ nhất, nguyên tắc này ghi nhận sự
xung đột giữa quyền của người này với
quyền của người khác cũng như với lợi ích
chung của toàn xã hội. Đây là điều không thể
tránh khỏi vì bảo vệ phạm vi tự do chính
đáng của người này cũng chính là sự giới
hạn tự do của người khác.
ii. Các biện pháp áp dụng không được
trái với những nghĩa vụ khác xuất phát từ
luật pháp quốc tế, đặc biệt là không mang
tính chất phân biệt đối xử về chủng tộc, màu
da, tôn giáo, giới tính, ngôn ngữ hoặc nguồn
gốc dân tộc;
iii. Các quốc gia không được tạm đình
chỉ việc thực hiện các quyền sống, quyền
không bị tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo,
hạ nhục, không bị bắt giữ làm nô lệ, quyền
tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo...
(những quyền không thể tạm đình chỉ - non-
derogatabe rights);
iv. Khi áp dụng các biện pháp này, phải
thông báo ngay cho các quốc gia thành viên
khác của ICCPR thông qua Tổng Thư ký
Liên hợp quốc, trong đó nêu rõ những biện
pháp cụ thể đã áp dụng và thời gian dự định
sẽ chấm dứt áp dụng các biện pháp này5.
Về bản chất, các quy định kể trên là sự
tạm đình chỉ thực hiện một số quyền dân sự,
Thứ hai, việc giới hạn quyền được thực
hiện thông qua các quy phạm pháp luật dưới
Hiến pháp.
Thứ ba, nguyên tắc này đòi hỏi đảm bảo
tính cân xứng giữa quyền bị hạn chế với bảo
vệ quyền của người khác và lợi ích chung. Tính
cân xứng được đảm bảo cũng có nghĩa là biện
pháp giới hạn quyền mang tính hợp hiến.
3. Hiến pháp Việt Nam về tình trạng
khẩn cấp
Cũng giống như hiến pháp ở nhiều quốc
gia khác, Hiến pháp của Việt Nam cũng quy
định về tình trạng chiến tranh, hòa bình và
tình trạng khẩn cấp. Vấn đề chiến tranh và
hòa bình thuộc thẩm quyền của Quốc hội.
Vấn đề khẩn cấp và giới nghiêm thuộc thẩm
quyền của cơ thường trực hoạt động thường
xuyên của Quốc hội - Ủy ban thường vụ Quốc
hội (UBTVQH). Trình tự của việc quyết định
và công bố thường chia 2 công đoạn: công
đoạn quyết định và công đoạn công bố. Công
4 Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (International Covenant on Economic, Social and
Cultural Rights- ICESCR).
5 Giới thiệu Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị (ICCPR, 1966), Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà
Nội, Nxb. Hồng Đức năm 2012, tr. 49 - 50.
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU
13
Số 18 (418) - T9/2020
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
đoạn quyết định được Hiến pháp quy định
thẩm quyền của Quốc hội hoặc UBTVQH.
Công đoạn công bố thuộc thẩm quyền của
nguyên thủ quốc gia – Chủ tịch nước.
Thứ nhất, tình trạng khẩn cấp là tình
trạng bất thường, không thể lấy các quy định
của pháp luật bình thường để điều hành và
quản lý, cũng như người dân không thể thực
hiện quyền và tự do của mình theo quy định
của pháp luật. Tình trạng đó đòi hỏi phải có
sự ứng xử nhanh, nên pháp luật các quốc gia
khác thường ưu tiên cho người đứng đầu
hành pháp - hành pháp thực quyền. Trong
khi Hiến pháp hiện hành của Việt Nam là
Thủ tướng chính phủ, còn Chủ tịch nước
theo quy định của Hiến pháp là hành pháp
tượng trưng, không trực tiếp điều hành, chủ
yếu là chuyển hóa các quyết định của lập
pháp và hành pháp thành quyết định chính
thức của Nhà nước.
Theo quy định của Pháp lệnh năm 2000,
có 2 chủ thể quyết định tình trạng khẩn cấp:
UBTVQH và Chủ tịch nước (Điều 74). Việc
quy định ở phần nhiệm vụ quyền hạn của
UBTVQH, cộng với việc quy định trước đã
chứng tỏ UBTVQH là chủ thể quan trọng
hơn. Chủ tịch nước chỉ có quyền trong
trường hợp mà UBTVQH không thể họp.
Tuy nhiên, việc UBTVQH triệu tập được
đầy đủ các thành viên và bàn bạc, thảo luận
rồi đến quyết định theo đa số thì khó cho
việc quyết định nhanh đáp ứng được tình
trạng khẩn cấp của vấn đề.
Thứ hai, tình trạng khẩn cấp là tình trạng
tạm thời, các quyền và lợi ích của người dân
bị giới hạn, mà quyết định của Nhà nước cần
phải nhanh. Để tránh sự lạm dụng quyền lực
của hành pháp, pháp luật nhiều quốc gia quy
định khoảng thời gian nhất định hành pháp
được quyền quyết định tình trạng khẩn cấp
và khoảng thời gian nhất định phải có sự phê
chuẩn của lập pháp. Pháp luật của Việt Nam
chưa quy định những “chốt hãm” quyền lực
này với các chủ thể có quyền quyết định tình
trạng khẩn cấp.
Điều 70 Hiến pháp năm 2013 quy định:
Quyết định vấn đề chiến tranh và hoà bình;
quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện
pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và
an ninh quốc gia thuộc thẩm quyền của Quốc
hội – lập pháp. Khoản 10 Điều 74 Hiến pháp
năm 2013 quy định, UBTVQH có quyền:
Quyết định tổng động viên hoặc động viên
cục bộ; ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp
trong cả nước hoặc ở từng địa phương.
Điều 88 Hiến pháp năm 2013 về nhiệm
vụ của Chủ tịch nước tại khoản 5 quy định,
Chủ tịch nước, căn cứ vào nghị quyết của
Quốc hội hoặc của UBTVQH, công bố, bãi
bỏ quyết định tuyên bố tình trạng chiến
tranh; căn cứ vào nghị quyết của UBTVQH,
ra lệnh tổng động viên hoặc động viên cục
bộ, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp;
trong trường hợp UBTVQH không thể họp
được, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp
trong cả nước hoặc ở từng địa phương.
Pháp lệnh của UBTVQH năm 2000
(Pháp lệnh năm 2000) quy định một cách chi
tiết hơn về trình trạng khẩn cấp. Điều 2 của
Pháp lệnh này quy định: Theo đề nghị của
Thủ tướng chính phủ, UBTVQH ra nghị
quyết về tình trạng khẩn cấp. Trong trường
hợp UBTVQH không họp, thì theo đề nghị
của Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch nước ra
lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp.
Điều 16 của Pháp lệnh năm 2000 quy
định: “Theo đề nghị của Thủ tướng chính
phủ, UBTVQH ra nghị quyết, hoặc Chủ tịch
nước ra lệnh bãi bỏ tình trạng khẩn cấp, khi
thảm họa đã được ngăn ngừa, hạn chế hoặc
khắc phục, dịch bệnh đã được chặn đứng,
hoặc dập tắt, tình trạng an ninh quốc gia, trật
tự an toàn xã hội đã được ổn định”.
Thứ ba, Hiến pháp của Việt Nam chưa
phân biệt rõ quyền tuyệt đối là những quyền
không bị giới hạn và những quyền có thể bị
So với các quốc gia hiện đại, những quy
định trên có một số điểm cần bàn luận sau đây:
giới hạn
n
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU
14
Số 18 (418) - T9/2020
Bạn đang xem tài liệu "Tình trạng khẩn cấp theo quy định của hiến pháp và công ước", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tinh_trang_khan_cap_theo_quy_dinh_cua_hien_phap_va_cong_uoc.pdf

