Vấn đề liên quan đến “nachfrist” - Thời hạn bổ sung nhằm khắc phục vi phạm hợp đồng

VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN “NACHFRIST” -  
THỜI HẠN BỔ SUNG NHẰM KHẮC PHỤC VI PHẠM HỢP ĐỒNG  
PHẠM THỊ TRANG* - TRẦN THUỲ LINH**  
Trong trường hợp một bên có khả năng không thực hiện được các nghĩa vụ trong hợp  
đồng thì việc bên còn lại cho phép một thời hạn bổ sung giúp cho bên có khả năng vi phạm  
có thêm thời gian để thực hiện các nghĩa vụ là thực sự cần thiết. Quy định này thể hiện  
nguyên tắc thiện chí, trung thực giữa các bên trong quá trình giao kết, thực hiện hợp đồng,  
giúp cho các bên đạt được mục đích khi giao kết hợp đồng và tránh rủi ro cho các bên.  
Từ khoá: Nachfrist, thời hạn bổ sung, thời hạn hợp lý, vi phạm hợp đồng, huỷ hợp đồng.  
Ngày nhận bài: 20/4/2021; Biên tập xong: 25/4/2021; Duyệt đăng: 25/4/2021  
In case one party is likely to fail to perform the obligations in the contract, it is  
necessary for the other to allow an additional period of time for violating one to perform  
the obligations. This regulation demonstrates the principle of goodwill and honesty  
between the parties in the process of entering into and performing the contract that  
helps the parties achieve their goals in concluding the contract as well as avoiding risks.  
Keywords: Nachfrist, additional period of time, reasonable time, breach of contract,  
avoidance of contract.  
1. Quy định của Công ước Viên năm  
1980 về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc  
tế về thời hạn bổ sung nhằm khắc phục vi  
phạm hợp đồng  
“1. Người mua có thể cho người bán thêm  
một thời hạn bổ sung hợp lý để người bán thực  
hiện nghĩa vụ.  
2. Trừ phi người mua đã được người bán  
thông báo rằng người bán sẽ không thực hiện  
nghĩa vụ của mình trong thời hạn bổ sung đó,  
người mua không được sử dụng đến bất cứ  
biện pháp bảo hộ pháp lý nào trong trường  
hợp người bán vi phạm hợp đồng trước khi  
thời hạn bổ sung kết thúc. Tuy nhiên, ngay cả  
trong trường hợp này người mua cũng không  
mất quyền đòi bồi thường thiệt hại do người  
bán chậm trễ trong việc thực hiện nghĩa vụ của  
mình.”  
Nachfrist là một thuật ngữ có nguồn gốc  
từ tiếng Đức, là một nguyên tắc được quy  
định trong hầu hết pháp luật hợp đồng của  
các quốc gia và trong một số văn bản quốc  
tế về hoặc liên quan đến hợp đồng. Hiểu  
một cách ngắn gọn nhất, đây là một quy  
tắc quy định về thời hạn bổ sung để giúp  
cho một bên có nguy cơ vi phạm nghĩa vụ  
trong hợp đồng có thêm thời gian để có thể  
hoàn thành nghĩa vụ của mình, tránh để  
xảy ra tình trạng vi phạm hợp đồng, gây  
rủi ro, thiệt hại cho các bên.  
Trong Công ước Viên năm 1980 của  
Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng  
hoá quốc tế (CISG), nguyên tắc Nachfrist  
được ghi nhận tại Điều 47 và Điều 63, cụ  
thể như sau:  
Tương tự như vậy, Điều 63 tại Mục các  
biện pháp bảo hộ pháp lý trong trường  
hợp người mua vi phạm hợp đồng cũng  
ghi nhận:  
“1. Người bán có thể chấp nhận cho người  
* Thạc sĩ, Trưởng khoa Pháp luật quốc tế, Trường  
Đại học Kiểm sát Hà Nội  
Tại Mục III: Các biện pháp bảo hộ pháp  
lý trong trường hợp người bán vi phạm  
hợp đồng, Điều 47 quy định:  
** Khoa Quản lý Kinh tế Luật, Trường Đại học Kinh  
tế - Đại học Thái Nguyên  
128 Khoa học Kiểm sát  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
PHẠM THỊ TRANG - TRẦN THUỲ LINH  
mua một thời hạn bổ sung hợp lý để thực hiện 05/11/2020 hoặc một khoảng thời gian cụ  
nghĩa vụ của mình.  
thể, ví dụ 20 ngày kể từ ngày 05/11/2020…  
Những trao đổi dạng như một cuộc điện  
thoại phàn nàn về việc đã không giao lô  
hàng trước đó hoặc ngôn ngữ mà một bên  
sử dụng như “ngay lập tức”, “giao hàng  
sớm nhất có thể” hoặc “chúng tôi rất hy  
vọng việc giao hàng sẽ có thể được thực  
hiện trước ngày 01/7”… sẽ không được  
coi là tuyên bố thời hạn bổ sung của bên  
có quyền.  
2. Trừ phi nhận được thông báo của người  
mua cho biết sẽ không thực hiện nghĩa vụ trong  
thời gian ấy, người bán, trước khi mãn hạn,  
không thể viện dẫn bất cứ một biện pháp bảo hộ  
pháp lý nào mà họ được sử dụng trong trường  
hợp người mua vi phạm hợp đồng. Tuy nhiên,  
do sự việc này, người bán không mất quyền đòi  
bồi thường thiệt hại vì người mua chậm thực  
hiện nghĩa vụ.”  
1.3. Hiểu thế nào là “thời hạn bổ sung  
hợp lý”  
Nghiên cứu hai quy định này, có thể  
thấy một số nội dung sau:  
Mặc dù việc gia hạn một thời hạn bổ  
sung là quyền của một bên trong hợp đồng  
nhưng CISG yêu cầu thời hạn bổ sung đó  
phải là một “thời hạn bổ sung hợp lý”.  
Mục đích của việc cho phép một thời hạn  
bổ sung là nhằm giúp cho bên có nguy cơ  
vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng có thêm  
thời gian để thực hiện nghĩa vụ, tránh việc  
vi phạm dẫn tới nguy cơ rủi ro cho các bên  
nên CISG yêu cầu thời hạn đó phải hợp  
lý, đủ để có thể khắc phục được vi phạm.  
CISG không quy định khoảng thời gian  
bổ sung hợp lý là bao nhiêu. Việc xác định  
thời hạn bổ sung hợp lý sẽ phụ thuộc vào  
từng vụ việc. Có rất nhiều yếu tố cụ thể  
trong mỗi vụ việc sẽ được cân nhắc, xem  
xét khi tính toán khoảng thời gian này,  
ví dụ: Việc mua bán máy in giữa người  
mua Ai Cập và người bán Đức, việc người  
mua gia hạn cho người bán một thời hạn  
bổ sung là hai tuần để vận chuyển 03 máy  
in từ Đức đến Ai Cập được coi không hợp  
lý. Theo phán quyết của Toà án, trong  
trường hợp này, một thời hạn là 07 tuần  
cho việc vận chuyển mới được coi là hợp  
lý để bên bán có thể chuyển hàng cho bên  
mua1. Một ví dụ tương tự trong vụ tranh  
chấp giữa người mua - một nhà bán lẻ xe  
ô tô tại Đức và người bán - một nhà phân  
phối xe ô tô có trụ sở thương mại tại Đan  
1.1.Việc đưa ra thời hạn bổ sung là  
quyền của một bên đối với bên kia trong  
hợp đồng  
Cả Điều 47 và Điều 63 của CISG đều  
ghi nhận bên mua hoặc bên bán “có thể chấp  
nhận” cho bên còn lại một thời hạn bổ sung  
hợp lý để bên kia thực hiện nghĩa vụ trong  
hợp đồng khi bên có quyền nhận thấy  
rằng bên kia có khả năng vi phạm nghĩa  
vụ trong hợp đồng. Sở dĩ thuật ngữ “có thể  
chấp nhận” được sử dụng bởi việc gia hạn  
hoàn toàn phụ thuộc vào bên có quyền.  
Tiếp cận việc đưa ra thời hạn bổ sung dưới  
góc độ quyền của một bên trong hợp đồng  
thể hiện quan điểm của CISG khi thấy khả  
năng một bên có thể vi phạm nghĩa vụ, bên  
còn lại có thể lựa chọn việc đưa ra thời hạn  
bổ sung cho việc thực hiện nghĩa vụ hoặc  
không.  
1.2.Việc chấp nhận của bên có quyền  
CISG không quy định về việc chấp nhận  
của bên có quyền phải bằng văn bản hoặc  
không bằng văn bản. Nếu xét theo tinh  
thần của Công ước, ngay cả đối với hợp  
đồng cũng không yêu cầu phải bằng văn  
bản thì việc chấp nhận của bên có quyền sẽ  
không cần thiết phải bằng văn bản.  
Chấp nhận của bên có quyền phải là  
tuyên bố của bên đó và phải đạt được tiêu  
chí cụ thể và rõ ràng. Tiêu chí cụ thể và rõ  
ràng được hiểu là việc bên có quyền đề cập  
1ꢀCLOUTcaseNo.136[GERMANYOberlandesgericht  
Celle 24 May 1995] hꢁps://cisgw3.law.pace.edu/  
tới một mốc thời gian cụ thể, ví dụ ngày cases/950524g1.html#ua  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 129  
VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN “NACHFRIST” -...  
Mạch thì khi người bán không giao được  
b. Trong trường hợp không giao hàng: Nếu  
người bán không giao hàng trong thời gian đã  
được người mua gia hạn thêm cho họ chiếu theo  
khoản 1 Điều 47 hoặc nếu người bán tuyên bố  
sẽ không giao hàng trong thời gian được gia  
hạn này.”  
xe đúng thời hạn, người mua đã cho phép  
người bán một thời hạn bổ sung là 01 tuần  
để thực hiện việc giao hàng. Trong quá  
trình giải quyết vụ việc, Toà án đã đánh  
giá thời hạn 01 tuần là quá ngắn, và có lẽ  
đó chỉ là lý do để bên mua viện dẫn nhằm  
huỷ hợp đồng theo quy định tại Điều  
49(1)(b) mà thôi.2 Vì thế, thời hạn bổ sung  
01 tuần trong trường hợp này sẽ được coi  
là không hợp lý, và khi khoảng thời gian  
gia hạn được coi là không hợp lý thì khó  
có thể là căn cứ để huỷ hợp đồng theo quy  
định tại Điều 49 (1)(b).  
Trong thực tế, các bên thường thực hiện  
việc đưa ra thời hạn bổ sung để làm tiền đề  
cho việc tuyên huỷ hợp đồng. Bởi lẽ, so với  
trường hợp huỷ hợp đồng khi một bên vi  
phạm nghĩa vụ cơ bản thì việc tuyên huỷ  
hợp đồng sau khi đưa ra một thời hạn bổ  
sung sẽ đơn giản hơn nhiều do không cần  
phải chứng minh vi phạm cơ bản - là một  
vấn đề không hề đơn giản.  
2. Quy định của pháp luật Việt Nam  
về thời hạn bổ sung nhằm khắc phục vi  
phạm hợp đồng – So sánh với quy định  
của CISG  
Bộ luật dân sự (BLDS) Việt Nam năm  
2015 không có điều luật riêng biệt quy  
định về thời hạn bổ sung nhằm khắc  
phục vi phạm hợp đồng mà chỉ có quy  
định có thể coi là tương ứng như quy  
định của CISG. Theo đó, tại khoản 1 Điều  
424 BLDS năm 2015 quy định về huỷ bỏ  
hợp đồng do chậm thực hiện nghĩa vụ  
như sau:  
“Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực  
hiện đúng nghĩa vụ mà bên có quyền yêu cầu  
thực hiện nghĩa vụ trong một thời hạn hợp lý  
nhưng bên có nghĩa vụ không thực hiện thì bên  
có quyền có thể huỷ bỏ hợp đồng”  
1.4. Hậu quả khi kết thúc thời hạn bổ  
sung: Nachfrist mở đường cho việc huỷ hợp  
đồng  
Trường hợp khi kết thúc thời hạn bổ  
sung, nếu bên được gia hạn hoàn thành  
nghĩa vụ trong hợp đồng thì bên gia hạn  
sẽ không được viện dẫn bất kỳ biện pháp  
bảo hộ pháp lý nào, trừ quyền yêu cầu bồi  
thường thiệt hại do chậm thực hiện nghĩa  
vụ.  
Trường hợp nếu bên được gia hạn  
không thể hoàn thành nghĩa vụ hoặc tuyên  
bố không thể hoàn thành được nghĩa vụ  
trong thời hạn bổ sung thì bên gia hạn có  
quyền áp dụng bất kỳ biện pháp nào, kể  
cả biện pháp tuyên bố huỷ hợp đồng mà  
không phụ thuộc vào việc đó là vi phạm cơ  
bản hay vi phạm không cơ bản hợp đồng.  
Các học giả khi phân tích các quy định của  
CISG thường cho rằng, quy định tại Điều  
Với quy định này và tiêu đề của điều  
47, 63 mở đường cho việc huỷ hợp đồng luật, có thể hiểu khi bên có nghĩa vụ chậm  
thực hiện nghĩa vụ, cụ thể là không thực  
hiện được nghĩa vụ khi đến hạn thì bên có  
quyền sẽ gia hạn một thời hạn bổ sung. Khi  
hết thời hạn bổ sung đó, bên có nghĩa vụ  
vẫn không thể thực hiện nghĩa vụ đã cam  
kết trong hợp đồng thì bên có quyền có thể  
huỷ bỏ hợp đồng.  
Từ quy định trên có thể thấy rằng CISG  
và BLDS tương đối giống nhau trong cách  
tiếp cận giải quyết việc đưa ra thời hạn bổ  
theo quy định tại Điều 49, 64 CISG. Ví dụ,  
Điều 49 CISG quy định:  
“Người mua có thể tuyên bố hủy hợp đồng:  
a. Nếu việc người bán không thực hiện một  
nghĩa vụ nào đó của họ phát sinh từ hợp đồng  
hay từ Công ước này cấu thành một vi phạm  
chủ yếu đến hợp đồng, hoặc:  
2ꢀCLOUTcaseNo.362[GERMANYOberlandesgericht  
Naumburg 27 April 1999]  
130 Khoa học Kiểm sát  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
PHẠM THỊ TRANG - TRẦN THUỲ LINH  
sung thực hiện hợp đồng, thể hiện ở ba vẫn được coi là thực hiện đúng thời hạn.  
điểm sau:  
Nếu bên có quyền không đồng ý thì bên có  
nghĩa vụ vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa  
vụ của mình theo đúng thời hạn các bên đã  
thoả thuận.  
Với quy định này, có thể hiểu BLDS  
năm 2015 đã tiếp cận thống nhất với quan  
điểm của CISG ở hai điểm sau:  
-Việc đưa ra một thời hạn bổ sung thực  
hiện hợp đồng thuộc về bên có quyền;  
- Khi đưa ra thời hạn bổ sung thì đó phải  
là khoảng thời hạn hợp lý. Tính hợp lý của  
thời hạn bổ sung thể hiện ở chỗ thời hạn  
bổ sung đó phải đủ để cho bên có nghĩa vụ  
có thể thực hiện được hợp đồng giống như  
cách tiếp cận của CISG đã quy định ở trên;  
Một là, việc gia hạn là chấp nhận của bên  
có quyền  
BLDS năm 2015 đã quy định rất cụ thể  
về việc bên có khả năng vi phạm sẽ phải  
thông báo và gửi yêu cầu hoãn thực hiện  
nghĩa vụ cho bên có quyền. Việc hoãn (có  
nghĩa gia hạn thêm thời hạn cho việc thực  
hiện nghĩa vụ) sẽ chỉ được coi là hợp pháp  
khi bên có quyền chấp nhận. Điểm giống  
nhau trong quy định của CISG và quy định  
của BLDS năm 2015 nằm ở chỗ, việc đưa ra  
thời hạn bổ sung nhằm khắc phục vi phạm  
hợp đồng sẽ thuộc về bên có quyền, phải  
được bên có quyền chấp nhận. BLDS năm  
2015 đã cụ thể hoá hơn CISG khi quy định  
bên có nghĩa vụ phải thông báo và đề nghị  
hoãn thực hiện nghĩa vụ. Thông báo và đề  
nghị đó phải được gửi tới bên có quyền.  
- Khi hết thời hạn mà bên có nghĩa vụ  
không thực hiện được các nghĩa vụ đã cam  
kết thì bên còn lại có quyền huỷ hợp đồng.  
Điểm khác biệt cơ bản nhất trong quy  
định tại Điều 47, 63 của CISG so với Điều  
424 BLDS năm 2015 là CISG tiếp cận việc  
quy định thời hạn bổ sung khi một bên  
có căn cứ cho rằng bên kia có khả năng sẽ  
không thực hiện được nghĩa vụ khi đến  
hạn. Trên nguyên tắc cơ bản của hợp đồng  
là thiện chí, trung thực, bên có quyền sẽ  
đưa ra thời hạn bổ sung nhằm tránh việc  
bên có nghĩa vụ vi phạm hợp đồng, làm  
cho các bên không đạt được mục đích khi  
giao kết hợp đồng hoặc gây rủi ro cho các  
bên. Trong khi đó, Điều 424 BLDS năm  
2015 tiếp cận việc gia hạn của bên có quyền  
đối với bên có nghĩa vụ trong trường hợp  
khi đến thời hạn trong hợp đồng nhưng  
bên có nghĩa vụ không thực hiện được  
nghĩa vụ của mình.  
Ngoài quy định của Điều 424, BLDS  
còn có quy định về việc đưa ra thời hạn bổ  
sung khi trước khi đến thời hạn thực hiện  
nghĩa vụ, bên có nghĩa vụ có khả năng  
không thực hiện được đúng các nghĩa vụ  
trong hợp đồng. Điều 354 BLDS năm 2015  
quy định về hoãn thực hiện nghĩa vụ như  
sau: Khi bên có nghĩa vụ thấy không thể  
thực hiện được nghĩa vụ đúng thời hạn thì  
sẽ phải thông báo cho bên có quyền biết và  
đề nghị được hoãn việc thực hiện nghĩa vụ.  
Nếu bên có quyền đồng ý thì bên có nghĩa  
Hai là, việc hoãn thực hiện hợp đồng có thể  
là căn cứ để huỷ hợp đồng  
Theo quy định của BLDS năm 2015, khi  
được bên có quyền chấp nhận hoãn thực  
hiện nghĩa vụ thì việc thực hiện nghĩa vụ  
trong thời gian hoãn vẫn được coi là thực  
hiện đúng thời hạn. Khi hết thời hạn đã  
được hoãn, nếu bên có nghĩa vụ vẫn chưa  
thực hiện hoặc chỉ thực hiện được một  
phần nghĩa vụ thì sẽ bị coi là chậm thực  
hiện nghĩa vụ. Việc chậm thực hiện nghĩa  
vụ của một bên có thể là căn cứ để huỷ  
hợp đồng.  
Như vậy, từ những phân tích trên, có  
thể thấy rằng Điều 354 và Điều 424 BLDS  
năm 2015 đã bao quát và khá tương đồng  
với các quy định của CISG về Nachfrist  
vụ sẽ được hoãn việc thực hiện nghĩa vụ – thời hạn bổ sung nhằm khắc phục vi  
và việc thực hiện nghĩa vụ khi được hoãn phạm hợp đồng./.  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 131  
pdf 4 trang Thùy Anh 10560 Free
Bạn đang xem tài liệu "Vấn đề liên quan đến “nachfrist” - Thời hạn bổ sung nhằm khắc phục vi phạm hợp đồng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvan_de_lien_quan_den_nachfrist_thoi_han_bo_sung_nham_khac_ph.pdf