Tính phù hợp của hàng hóa theo CISG 1980 và một số lưu ý đối với doanh nghiệp Việt Nam
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Vũ Thị Bích Hải và các tgk
TÍNH PHÙ HỢP CỦA HÀNG HÓA THEO CISG 1980
VÀ MỘT SỐ LƯU Ý ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
CONFORMITY OF THE GOODS TO THE CISG 1980 AND SOME NOTICES
FOR VIETNAMESE ENTERPRISES
VŨ THỊ BÍCH HẢI, NGUYỄN NGỌC BIỆN THÙY HƯƠNG và ĐINH LÊ OANH
TÓM TẮT: Trong thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, để hoàn thành nghĩa vụ giao hàng,
bên bán rất cần sự phối hợp hành động của bên mua, trong đó có việc xác định, kiểm tra và thông
báo về tính phù hợp của hàng hóa. Bài viết chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, phương pháp
tổng hợp và phương pháp so sánh luật học để làm rõ tính phù hợp của hàng hóa theo CISG 1980 và
thực tiễn giải quyết tranh chấp, từ đó tổng kết một số lưu ý đối với doanh nghiệp Việt Nam.
Từ khóa: CISG 1980; hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế; tính phù hợp của hàng hóa; nghĩa vụ
giao hàng.
ABSTRACT: In implementing an international contract of trading goods, to fulfill the delivery
obligation, the seller needs the coordination in action of the buyer, including determining and
checking and announcing the the conformity of the goods. This paper mainly uses the analytical,
synthetic and comparative methods to clarify the conformity of goods to the CISG 1980 and the
reality of dispute resolution, thereby summarizes some notices for Vietnamese enterprises.
Key words: CISG 1980; international contract of trading goods; conformity of the goods; good
delivery obligation.
khăn (quãng đường xa, nhiều vùng khí hậu
khác nhau, thời gian vận chuyển kéo dài…) nên
hàng hóa bên mua nhận được có thể trong tình
trạng không phù hợp với yêu cầu của bên mua.
CISG 1980 đã có quy định để cụ thể hóa vấn đề
này từ Điều 35 đến Điều 44 để làm cơ sở pháp
lý giúp các bên đưa ra các thỏa thuận trong quá
trình đàm phán, giao kết hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế. Tuy vậy, thực tiễn cho thấy
tranh chấp về tính phù hợp của hàng hóa vẫn
thường xuyên xảy ra, đặc biệt trong việc xác
định tính phù hợp của hàng hóa, nghĩa vụ kiểm
tra hàng hóa trước khi giao hàng cho người vận
chuyển, nghĩa vụ thông báo của bên mua về
việc hàng hóa không phù hợp với hợp đồng...
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
CISG 1980 là Công ước của Liên Hiệp
Quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
được ký kết tại Viên – thủ đô của Áo vào ngày
11-4-1980. CISG 1980 có hiệu lực tại Việt
Nam từ ngày 01-01-2017. Theo CISG 1980,
đối tượng của hợp đồng (hàng hóa) là nội dung
quan trọng nhất của hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế bởi bên mua luôn “chờ đợi” nhận
được hàng hóa phù hợp với yêu cầu của mình
và bên bán cũng mong muốn đáp ứng yêu cầu
chính đáng này của bên mua. Tuy nhiên, dữ
liệu của các bên trong hợp đồng không phải lúc
nào cũng toàn diện bởi hàng hóa trong mua bán
hàng hóa quốc tế phải đối mặt với rất nhiều khó
149
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 22, Tháng 7 - 2020
Chính vì vậy, việc doanh nghiệp Việt Nam trang
bị cho mình đầy đủ kiến thức pháp lý liên quan
đến tính phù hợp của hàng hóa để hạn chế tranh
chấp xảy ra cũng như để bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của mình khi tham gia vào các quan hệ
mua bán hàng hóa quốc tế là vô cùng cần thiết.
2. NỘI DUNG
rằng, sự phù hợp này phải xem xét những tính
chất tự nhiên của nó, bao gồm các tính năng vật
lý của hàng hóa. Ngược lại, một số ý kiến khác
cho rằng việc xác định chất lượng còn phải căn
cứ vào các thuộc tính phi vật lý của hàng hóa, các
quy định của pháp luật, các tiêu chuẩn kỹ thuật
hoặc tuân thủ các tiêu chuẩn nhất định trong quá
trình sản xuất hoặc xuất xứ của hàng hóa [7].
Về mô tả hàng hóa: Việc này có thể được
thực hiện bằng nhiều cách thức khác nhau, như
ngôn ngữ trong hợp đồng, hàng hóa mẫu, hình
ảnh đính kèm… để xác định được chính xác
đặc điểm, tính chất, kiểu dáng… của hàng hóa.
Về bao bì hoặc đóng gói hàng hóa: Các bên
có thể thỏa thuận việc phải giao hàng đúng bao bì
hay đóng gói và bên bán bị xem là vi phạm nếu có
giao hàng hóa không đáp ứng được yêu cầu này.
Như vậy, sự thỏa thuận của các bên là yếu
tố quan trọng để xác định tính phù hợp của
hàng hóa và quyết định sự “thành công” của
các bên khi tham gia quan hệ mua bán hàng
hóa quốc tế. Sự thỏa thuận này luôn được ưu
tiên áp dụng dựa trên nguyên tắc tôn trọng sự
thiện chí, thỏa thuận trong hợp đồng (favor-
contractus), cho dù các bên không có thỏa
thuận vô hiệu hóa Điều 35.2 CISG 1980
(trường hợp giữa bên bán và bên mua không có
sự thỏa thuận về hàng hóa được giao).
2.1. Khái quát về tính phù hợp của hàng hóa
theo CISG 1980
Điều 35 CISG 1980 quy định hàng hóa
được giao phải mang tính phù hợp. Với bên
bán, tính phù hợp của hàng hóa chính là căn cứ
để xác định họ có hoàn thành nghĩa vụ giao
hàng không? Với bên mua, đây là cơ sở để họ
bảo vệ quyền lợi của mình. Theo CISG 1980,
việc xác định tính phù hợp của hàng hóa có sự
khác nhau trong trường hợp giữa bên bán và
bên mua có thỏa thuận và không có thỏa thuận.
2.1.1. Trường hợp giữa bên bán và bên mua
có sự thỏa thuận
Nếu giữa bên bán và bên mua đã có sự thỏa
thuận, thì bên bán phải giao hàng đúng số lượng,
phẩm chất và mô tả như quy định trong hợp đồng,
đúng bao bì hay đóng gói như hợp đồng yêu cầu
(Điều 35.1 CISG 1980). Nói cách khác, tính phù
hợp của hàng hóa trong trường hợp các bên có sự
thỏa thuận được xác định dựa vào bốn yếu tố là:
i) số lượng; ii) phẩm chất; iii) mô tả; và iv) bao bì
hay đóng gói như hợp đồng yêu cầu.
2.1.2. Trường hợp giữa bên bán và bên mua
không có sự thỏa thuận
Về số lượng hàng hóa: Bên bán có nghĩa
vụ giao hàng hóa đúng số lượng đã thỏa thuận
trong hợp đồng (một con số tuyệt đối hoặc có
dung sai, “toàn bộ vụ mùa”…) [1, tr.53]. Sự
chênh lệch về mặt số lượng (nhiều hơn hoặc ít
hơn) so với thỏa thuận đều được xác định là
không phù hợp với hợp đồng và bên mua phải
được thông báo về sự không phù hợp này.
Về chất lượng hàng hóa: Việc xác định
chất lượng hàng hóa là cần thiết bởi việc giao
không đúng chất lượng có thể ảnh hưởng đến
quyền lợi của bên thứ ba.
Đây là quy định thiết thực của CISG 1980
để làm cơ sở thực hiện hoặc giải quyết tranh
chấp phát sinh liên quan đến hàng hóa được
giao. Theo Điều 35.2 CISG 1980, trừ trường
hợp đã được các bên thỏa thuận khác, hàng hóa
bị coi là không phù hợp với hợp đồng nếu:
Thứ nhất, hàng hóa không thích hợp cho
các mục đích sử dụng mà các hàng hóa cùng
loại vẫn thường đáp ứng.
“Mục đích sử dụng” trong trường hợp này
có thể được xác định bằng khả năng “bán lại”
cho bên thứ ba trong những điều kiện thương
mại bình thường (loại hàng hóa) [4, tr.116].
Các tác giả Schwenzer, Ingeborg, Pascal
Hachem, Christopher Kee [6, tr.377] đều cho
150
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Vũ Thị Bích Hải và các tgk
Tuy nhiên, quy định trên không đồng nghĩa
việc hàng hóa không được có khuyết điểm hoặc
phải hoàn hảo tuyệt đối, trừ trường hợp sự hoàn
hảo này là cần thiết để đáp ứng “mục đích sử
dụng thông thường” và cần được xác định dựa
vào bối cảnh cụ thể trên cơ sở tham khảo ý
định, nhu cầu của bên bán và bên mua trong
các giao dịch tương tự.
thiệt hại khi hàng được giao không phù hợp với
hàng mẫu. Tuy nhiên, việc sử dụng cách thức
này trong thực tế có thể gặp khó khăn nếu hàng
mẫu “quá nhỏ” (quy mô, số lượng) so với hàng
hóa thực chất phải giao (ví dụ: mẫu gỗ nhỏ
(3cm x 3cm) trong cánh cửa là 5m x 3m để yêu
cầu vân gỗ phải đều màu).
Thứ tư, hàng hóa không được đóng bao bì
theo cách thông thường cho những hàng cùng
loại hoặc, nếu không có cách thông thường, thì
bằng cách thích hợp để giữ gìn và bảo vệ hàng
hoá đó.
Thứ hai, hàng hóa không thích hợp cho bất
kỳ mục đích cụ thể nào mà bên bán đã trực tiếp
hoặc gián tiếp biết được vào lúc ký hợp đồng,
trừ trường hợp nếu căn cứ vào các hoàn cảnh
cụ thể có thể thấy rằng không dựa vào ý kiến
hay sự phán đoán của bên bán hoặc nếu đối với
họ làm như thế là không hợp lý.
Thực tế, việc đóng gói thường được xác
định theo các tiêu chuẩn bao bì hiện hành tại
quốc gia của bên bán nhằm bảo vệ hàng hóa
khỏi sự hư hỏng, hao mòn và phải cân nhắc đến
loại hàng hóa, khí hậu, khoảng cách vận
chuyển, tình trạng của hàng hóa [1, tr.65]... Ví
dụ: Bên bán trái cây bị xác định là giao hàng
không phù hợp bởi đã không đóng hộp trái cây
“đúng quy cách tối thiểu” đủ để ngăn chặn hư
hỏng và ô nhiễm xảy ra trên đường vận chuyển
bằng xe tải.
Nói cách khác, hàng hóa bị xem là không
phù hợp nếu hàng hóa không phù hợp với “mục
đích sử dụng cụ thể” của bên mua. Đây có thể
là mong muốn sử dụng của bên mua đối với
hàng hóa của bên bán (dù thể hiện trực tiếp
hoặc gián tiếp – “bất kỳ mục đích cụ thể rõ
ràng hoặc ngụ ý được thông báo cho bên bán
tại thời điểm ký kết hợp đồng”). Thông thường,
bên mua nêu ra mục đích sử dụng cụ thể đối
với hàng hóa trong hợp đồng để dựa vào đó bên
bán quyết định việc có giao kết hợp đồng hay
không [1, tr.55]. Mục đích này có thể được thể
hiện trực tiếp (thông báo của bên mua, ngôn từ
của hợp đồng). Thế nhưng, thực tế tồn tại
không ít trường hợp bên mua lại thể hiện ý chí
này một cách gián tiếp (ẩn ý) nên việc “mục
đích sử dụng cụ thể” này được xác định dựa
vào “kỹ năng và sự phán đoán của bên bán”
(tức sự đánh giá và lựa chọn của bên bán) và
“bên bán phải chịu trách nhiệm khi giao hàng
hóa không phù hợp với hợp đồng”.
Tuy nhiên, bên bán không phải chịu trách
nhiệm về việc giao hàng không đúng hợp đồng
(Điều 35.3 CISG 1980) nếu đáp ứng được hai
điều kiện sau: 1) Thuộc một trong các điểm a
đến d Điều 35.2 CISG 1980; 2) Bên mua đã
biết hoặc không thể không biết về việc hàng
không phù hợp vào lúc ký kết hợp đồng.
Có thể nói, tính phù hợp của hàng hóa
trong hợp đồng là cơ sở để bên mua có thể bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bên
bán không giao hàng hóa phù hợp, kể cả việc
hủy hợp đồng theo Điều 49.1 CISG 1980 nếu
hàng hóa không phù hợp đó cấu hành một vi
phạm cơ bản theo Điều 25 CISG 1980. Tuy
nhiên, việc xác định tính phù hợp này là tương
đối khó khăn, phức tạp và cả bên bán, bên mua
đều phải chịu trách nhiệm trong việc này.
Chính vì vậy, từ Điều 38 đến 44 CISG 1980
đều quy định cụ thể về trách nhiệm của các bên
này của các bên, đặc biệt là 1) nghĩa vụ kiểm
Thứ ba, hàng hóa không có các tính chất
của hàng mẫu hoặc kiểu dáng mà bên bán đã
cung cấp cho bên mua.
Để kiểm tra sự phù hợp giữa hàng hóa
được giao và hàng mẫu, bên mua cần thiết lập
sự kiểm tra, giám định trước khi nhận hàng
cũng như đưa ra yêu cầu bên bán bồi thường
151
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 22, Tháng 7 - 2020
tra hàng hóa trước khi giao hàng cho người vận
chuyển và 2) Nghĩa vụ thông báo của bên mua
về việc hàng hóa không phù hợp với hợp đồng.
2.2. Một số lưu ý đối với doanh nghiệp trong
việc kiểm tra và thông báo về tính phù hợp
của hàng hóa theo CISG 1980
Thực tiễn giải quyết tranh chấp cho thấy,
trường hợp sau khi bên bán giao hàng cho bên
mua, bên mua phát hiện có những hàng hóa
không phù hợp (bị hư hỏng, không đủ khối
lượng, không đảm bảo chất lượng…) thì bên mua
có quyền từ chối thanh toán số hàng đó với giá
theo thỏa thuận ban đầu. Thế nhưng, để đảm bảo
được hưởng quyền trên, bên mua cần: i) Kiểm tra
tính phù hợp của hàng hóa và ii) Thông báo cho
bên bán về sự không phù hợp của hàng hóa.
2.2.1. Nghĩa vụ của bên mua trong việc kiểm
tra tính phù hợp của hàng hóa
Thực tiễn giải quyết tranh chấp về vấn đề
này cho thấy một số tiêu chí thường xuyên
được cơ quan có thẩm quyền sử dụng như: Các
khía cạnh liên quan đến bên mua (tình trạng
riêng tư hay thương mại của bên mua…), loại
hàng hóa, mức độ phức tạp của hàng hóa, tính
chất của hàng hóa (hàng dễ hỏng, hàng hóa
mang tính chất thời vụ…), khối lượng hàng hóa
được giao, khối lượng công việc cần thực hiện
để kiểm tra hàng hóa, tính chuyên nghiệp/kinh
nghiệm của bên mua, sự sẵn có của cơ sở vật
chất cho kiểm tra, thời hạn, hình thức sử dụng
hay hình thức bán lại mà bên mua mong muốn
thực hiện, theo thói quen, thực tiễn và các yếu
tố khác của hoàn cảnh. Thông thường, một số
thời hạn sau đây được ghi nhận là đáp ứng yêu
cầu về “thời hạn hợp lý”: Một tháng sau ngày
giao hàng; hai tuần sau ngày giao hàng đầu tiên
được thỏa thuận trong hợp đồng; một tuần sau
ngày giao hàng; một vài ngày sau khi giao hàng
tại cảng đến; ba ngày sau khi hàng được giao
cho bên mua; hai ngày sau khi giao hàng hay
thậm chí là ngay vào ngày giao hàng cho bên
mua [2, tr.2]… Nói cách khác, đối với thời hạn
kiểm tra hàng hóa của bên mua, CISG 1980
yêu cầu các tòa án phải giải thích linh hoạt và
xét đến các yếu tố có thể ảnh hưởng [5, tr.27].
Trong một vụ việc về mua bán cá khô
Trong thực tế, các tòa án khi giải thích
Điều 38 CISG 1980 đều tập trung vào hai vấn
đề chính: 1) thời hạn mà bên mua cần phải tiến
hành kiểm tra hàng hóa, và 2) các yêu cầu đối
với việc kiểm tra hàng hóa. Trong đó, thời hạn
kiểm tra hàng hóa là vấn đề còn tồn tại nhiều
quan điểm khác nhau [4, tr.26].
Theo Điều 38.1 CISG 1980, “bên mua phải
kiểm tra hàng hóa hoặc bảo đảm đã có sự kiểm
tra hàng hóa trong một thời hạn ngắn nhất mà
thực tế có thể làm được tuỳ tình huống cụ thể”.
Như vậy, CISG 1980 không quy định cụ thể thời
hạn kiểm tra hàng hóa, mà yêu cầu thời hạn này
phải được quy định một cách linh hoạt và là
“thời gian ngắn nhất” tùy từng trường hợp cụ
thể. Vậy thế nào là “thời hạn ngắn nhất”?
đông lạnh giữa Nguyên đơn (bên mua Jabsheh
Trading Est. của Tây Ban Nha) và Bị đơn (bên
bán Iberconsa của Jordan), việc kiểm tra hàng
hóa được bên mua thực hiện trong vòng một
tháng kể từ ngày hợp đồng được giao kết [7].
Từ đó có thể thấy, thời hạn để thực hiện việc
kiểm tra hàng hóa có thể lên đến gần 01 tháng.
Hoặc trong vụ việc mua bán mực nang và bạch
tuộc đông lạnh giữa Nguyên đơn (bên mua
Pescados J. Gutiérrez, S.I. của Tây Ban Nha)
và Bị đơn (bên bán Port Said Export Fish của
Ai Cập) [9], việc kiểm tra trong vòng 01 tháng
sau khi nhận hàng và thông báo trong vòng hơn
10 ngày kể từ ngày kiểm tra được coi hợp lý do
khiếu nại liên quan đến số lượng và kích cỡ
“Thời hạn ngắn nhất” được hiểu là thời
gian bên mua phù hợp với các “điều kiện” của
mình để có thể kiểm tra hàng hóa. Việc xác
định thế nào là “điều kiện” lúc này sẽ phụ
thuộc vào cách tiếp cận của tòa với từng hoàn
cảnh (có thể là chủng loại hàng hóa, tính chất
khuyết tật, phương thức giao hàng…). Từ “điều
kiện” này mới có thể xác định được thế nào là
“thời hạn ngắn nhất”.
152
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Vũ Thị Bích Hải và các tgk
hàng hóa là các yếu tố không biến đổi theo thời
gian. Tòa án lý giải rằng việc kiểm định chất
lượng hàng hóa, đặc biệt là mặt hàng thủy hải
sản cần phải được thực hiện ngay khi hàng vừa
đến hoặc ngay ít ngày sau đó, việc đưa ra thông
báo cho bên bán về chất lượng của hàng hóa
phải được thực hiện ngay sau khi việc kiểm
định chất lượng của hàng hóa hoàn tất. Tòa án
còn nhấn mạnh rằng hàng hóa thủy hải sản là
hàng hóa dễ hư hỏng, ngoài ra nó còn là thực
phẩm cho con người, vì thế, việc kiểm tra một
cách kỹ lưỡng cần phải được tiến hành.
hoàn cảnh thực tế cho phép”. Vì vậy, các tiêu
chí này thường được xác định tùy thuộc vào
từng tình huống trong những hợp đồng cụ thể.
Chính vì vậy, doanh nghiệp Việt Nam cần lưu ý:
Thứ nhất, ở vị trí nhà nhập khẩu hàng hóa,
doanh nghiệp Việt Nam cần thực hiện kiểm tra
hàng hóa ngay sau khi nhận hàng để có thể đảm
bảo quyền lợi của mình. Những hàng hóa dễ hư
hỏng như nông sản, hàng thủy sản cần phải
được đặc biệt lưu ý hơn về thời hạn. Trường
hợp hàng hóa được giao cho người vận chuyển,
các doanh nghiệp Việt Nam nên kiểm tra trước khi
bên bán chuyển giao cho bên vận chuyển trong
một khoảng thời gian hợp lý để đảm bảo việc hàng
hóa mà bên bán chuyển giao là hàng hóa đảm bảo
chất lượng. Nếu bên mua tự bỏ qua việc này và
hàng hóa đã được bên bán chuyển giao cho bên
mua, hay bên vận chuyển thì bên mua phải chịu
trách nhiệm về mọi rủi ro hay về hư hỏng của hàng
hóa sau thời điểm giao hàng [8].
Vấn đề này cũng được quy định tại Điều
44 Luật Thương mại 2005 của Việt Nam. Tuy
có một số điểm tương đồng với CISG 1980
̂
̂
(không dô
̀
n toàn bọ trách nhiẹm cho bên bán
đôi vơi khiê
́
́
m khuyêt cua hàng hóa, không đưa
́
̉
́
ra căn cứ cụ thể để xác định khoảng thời gian
hợp lý phải kiểm tra và thông báo…) nhưng về
bản chất quy định này của CISG 1980 và Luật
Thương mại 2005 lại hoàn toàn khác nhau.
Thứ hai, ở vị trí là nhà xuất khẩu hàng
hóa, doanh nghiệp Việt Nam cần yêu cầu nhà
nhập khẩu nước ngoài tiến hành kiểm tra hàng
hóa trong thời hạn ngắn nhất có thể nhằm tránh
những tranh chấp do hàng hóa bị biến đổi phẩm
chất khi kiểm tra chậm trễ [2, tr.7].
̂
̉
Theo đó, nếu các bên có thoa thuạn đê bên mua
̉
̂
̉
̣ ́
diẹn cua bên mua tiên hành kiêm tra
̉
̆
hoạc đai
̂
̉
hàng hóa truơc khi giao hàng, viẹc kiêm tra
́
̛
hàng hóa truơc khi giao hàng chi trơ thành
̉
́
̉
̛
̣ ́ ̣ ̀
nghia vu cua bên mua nêu trong hơp đông có
̉
̃
̂
thoa thuạn. Như vậy, khác với CISG 1980, việc
Thứ ba, từ những kinh nghiệm đã phân
tích ở trên, chúng tôi cho rằng, giải pháp hiệu
quả nhằm hạn chế các tranh chấp đối với các
bên giao dịch là trong hợp đồng cần nêu rõ thời
hạn kiểm tra phẩm chất của hàng hóa. Đối với
việc kiểm tra hàng hóa, các bên có thể quy định
thời hạn kiểm tra và khiếu nại là 01 tháng kể từ
ngày nhận hàng. Đối với hàng thủy sản hay nông
sản, thời hạn này nên quy định ngắn hơn, ví dụ 10
ngày hay 2 tuần kể từ ngày nhận hàng. Việc quy
định rõ một thời hạn rõ ràng, phù hợp với thực
tiễn của các bên sẽ giúp tránh những tranh chấp
phát sinh từ vấn đề này khi thực hiện hợp đồng.
Trường hợp nếu bên bán thấy rõ được bên mua sẽ
vi phạm nghiêm trọng các điều khoản của hợp
đồng trong quá trình thực hiện hợp đồng, bên bán
̉
kiểm tra hàng hóa không phải là nghĩa vụ luật
định của bên mua như CISG 1980, mà là quyền
lợi của họ [3, tr.46] nên loại tranh chấp này
không phổ biến đối với các hợp đồng mua bán
hàng hóa trong nước của Việt Nam và điều này
ngược lại với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế. Đây cũng chính là vấn đề doanh nghiệp Việt
Nam cần lưu ý, tránh trường hợp doanh nghiệp
Việt Nam có sự nhầm lẫn khi thực hiện nghĩa
vụ này đối với hợp đồng mua bán hàng hóa
trong nước và hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế, đặc biệt là khi các quy định của pháp
luật thương mại Việt Nam và CISG 1980 còn
tồn tại nhiều điểm không tương đồng.
Tóm lại, CISG 1980 không đưa ra tiêu chí
xác định thế nào là “thời hạn ngắn nhất mà
153
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 22, Tháng 7 - 2020
sẽ có quyền chấm dứt việc thực hiện hợp đồng và
yêu cầu bên mua bồi thường thiệt hại.
tính từ ngày giao hàng). Có thể thấy, Luật
Thương mại 2005 được soạn thảo để áp dụng
cho hợp đồng trong nước, còn CISG 1980 được
áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế có sự phức tạp hơn về kỹ thuật, nội dung
cũng như về các quy định pháp lý (thời hạn
giao hàng và quãng đường dài, sự thay đổi của
khí hậu…), do đó, thời gian khiếu nại về hàng
hóa cũng cần phải quy định dài hơn [10].
2.2.2. Nghĩa vụ của bên mua trong việc thông
báo tính phù hợp của hàng hóa
Ðiều 39 CISG quy định, người mua bị mất
quyền khiếu nại về việc hàng hóa không phù
hợp hợp đồng nếu người mua không thông báo
cho người bán những tin tức về việc không phù
hợp đó trong một thời hạn hợp lý kể từ lúc
người mua đã phát hiện ra sự không phù hợp
đó. Trong mọi trường hợp, bên mua bị mất
quyền khiếu nại về việc hàng không phù hợp
với hợp đồng nếu họ không thông báo cho bên
bán biết về việc đó chậm nhất trong thời hạn 2
năm kể từ ngày hàng hóa đã thực sự được giao
cho bên mua trừ phi thời hạn này trái ngược với
thời hạn bảo hành quy định trong hợp đồng.
Tuy nhiên, bên bán không có quyền viện dẫn
quy định trên nếu như sự không phù hợp của
hàng hóa liên quan đến các yếu tố mà người
bán đã biết hoặc không thể không biết và họ đã
không thông báo cho người mua.
Từ phân tích trên, theo chúng tôi, nếu là
bên mua thì doanh nghiệp Việt Nam cần thiện
chí thông báo cho bên bán trong một thời hạn
hợp lý nếu bên mua nhận được hàng hóa từ bên
bán không đúng như thỏa thuận ban đầu để bên
mua vừa có thể hưởng được quyền giảm giá
thanh toán vừa giảm thiểu được thiệt hại có thể
xảy ra. Ngoài ra, đối với quan hệ hợp tác kinh
doanh, việc thông báo này có thể là tiền đề để các
bên có thể tiếp tục mối quan hệ làm ăn lâu dài.
3. KẾT LUẬN
Việt Nam đang đẩy mạnh hội nhập nền
kinh tế quốc tế, các hoạt động xuất nhập khẩu
diễn ra ngày càng nhộn nhịp, do đó, hợp đồng
về mua bán hàng hóa quốc tế cũng chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng số hợp đồng nói chung.
Trong quá trình ký kết, thực hiện các hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế, việc phòng ngừa
những tranh chấp phát sinh liên quan đến việc
tính phù hợp của hàng hóa như giao hàng
không đúng số lượng, chất lượng, thời hạn hay
địa điểm; những tranh chấp liên quan đến việc
kiểm tra và thông báo về chất lượng hàng hóa
không phù hợp với hợp đồng là vấn đề rất cần
thiết. Theo CISG, trong trường hợp bên bán
giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng,
điều này đồng nghĩa với việc bên bán đã vi
phạm nghĩa vụ của mình, bên mua có quyền áp
dụng các biện pháp bảo hộ pháp lý cần thiết.
Do đó, doanh nghiệp Việt Nam cần trang bị
cho mình những hiểu biết đầy đủ liên quan đến
quy định của CISG 1980, trong đó có quy định
liên quan đến tính phù hợp của hàng hóa (xác
định tính phù hợp của hàng hóa, nghĩa vụ kiểm
Có thể thấy, các thời hạn được nêu ra tại
Điều 38 và Điều 39 CISG 1980 về kiểm tra
phẩm chất và thông báo về khiếm khuyết được
thiết kế “mở” và được áp dụng một cách linh
hoạt, tùy tình huống cụ thể. Thực tế cho thấy,
cơ quan xét xử luôn lưu ý khi áp dụng Điều 38,
39 CISG 1980 khi đánh giá tính khách quan
của từng trường hợp cụ thể. Thời hạn này có
thể là vài ngày, vài tuần, cũng có thể là vài
tháng tùy thuộc vào điều kiện cụ thể kể từ ngày
hàng hóa được vận chuyển đến chuyển đến địa
điểm giao hàng nhưng phải đảm bảo được
những quy định nghiêm ngặt khi kiểm định
hàng hóa và không để các nhân tố khách quan
làm ảnh hưởng đến chất lượng của sản phẩm.
Thực tiễn giải quyết tranh chấp cho thấy
thời hạn này được xác định dài hơn (thời hạn 2
năm, trừ trường hợp đặc biệt) so với quy định
tại Điều 318 Luật Thương mại 2005 (thời hạn
khiếu nại về số lượng hàng hóa là 03 tháng,
khiếu nại về phẩm chất hàng hóa là 06 tháng
154
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Vũ Thị Bích Hải và các tgk
tra hàng hóa trước khi giao hàng cho người vận
chuyển và nghĩa vụ thông báo của bên mua về
việc hàng hóa không phù hợp với hợp đồng...)
là hết sức cần thiết. Một số lưu ý được đưa ra
trong bài viết này sẽ giúp các doanh nghiệp Việt
Nam giảm thiểu đến mức thấp nhất rủi ro của
mình khi tham gia vào các hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế từ giai đoạn đàm phán, giao kết
hợp đồng đến việc bảo vệ được quyền, lợi ích hợp
pháp của mình nếu phát sinh tranh chấp và được
giải quyết tranh chấp tại cơ quan có thẩm quyền.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Lê Trần Quốc Công (2017), Tính phù hợp của hàng hóa theo Điều 35 CISG 1980, Kỷ yếu Hội
thảo khoa học quốc tế Thực tiễn gia nhập công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế - Kinh nghiệm cho Việt Nam được tổ chức bởi Đại học Bình Dương và Đại học Quốc gia Belarus.
[2] Nguyễn Minh Hằng, Phạm Hồ Hoàng Long (2017), Việc áp dụng Điều 38 và Điều 39 CISG
1980 trong lĩnh vực thủy sản trên thế giới và một số lưu ý cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu thủy
sản Việt Nam, Kinh tế Đối ngoại, số 97.
[3] Nguyễn Hoàng Thái Hy, Ngô Nguyễn Thảo Vy (2017), Xác định thời hạn của nghĩa vụ kiểm
tra và thông báo về sự không phù hợp của hàng hóa theo CISG 1980, Kỷ yếu Hội thảo nghiên cứu
Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế – Trách nhiệm pháp lý do vi phạm
hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tổ chức tại Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh.
[4] Phan Nguyễn Bảo Ngọc (2017), Một số vấn đề về hàng hóa không phù hợp hợp đồng trong hợp
đồng mua bán hàng hoá quốc tế, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế Thực tiễn gia nhập công ước
Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế - Kinh nghiệm cho Việt Nam được tổ chức bởi
Đại học Bình Dương và Đại học Quốc gia Belarus.
[5] Đại học Ngoại thương (2015), Thực tiễn giải thích Công ước Viên năm 1980 của Liên Hiệp
Quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa Quốc tế về nghĩa vụ kiểm tra, thông báo hàng hóa không
phù hợp và tiền lãi chậm thanh toán - Một số lưu ý với doanh nghiệp Việt Nam, Công trình dự thi
Giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học Euréka lần thứ XVII năm 2015.
[6] Schwenzer, Ingeborg, Pascal Hachem, Christopher Kee (2012), Global Sales and Contract
Law, Oxford University Press.
[7] CISG (2012), Tranh chấp mua bán cá khô đông lạnh giữa Jabsheh Trading Est. của Tây Ban Nha (bên
mua – nguyên đơn) và Iberconsa của Jordan (bên bán - bị đơn), http://CISG 1980w3.law.pace.edu/CISG
1980/wais/db/cases2/021003s4.html, ngày truy cập: 23-12-2019.
[8] CISG (2014), Tranh chấp giữa Kingfisher Seafoods Limited v. Comercial Eloy Rocio Mar SL,
[9] CISG (2014), Tranh chấp giữa Pescados J. Gutiérrez, S.I. v. Port Said Export Fish,
[10] Wordpress (2010), So sánh CISG 1980 và Luật Thương mại 2005, https://wordpress.com/2010/11/01/so-
Ngày nhận bài: 05-5-2020. Ngày biên tập xong: 29-6-2020. Duyệt đăng: 24-7-2020
155
Bạn đang xem tài liệu "Tính phù hợp của hàng hóa theo CISG 1980 và một số lưu ý đối với doanh nghiệp Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tinh_phu_hop_cua_hang_hoa_theo_cisg_1980_va_mot_so_luu_y_doi.pdf

