Cơ hội và thách thức đối với xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Anh sau khi Hiệp định thương mại tự do Việt Nam và Vương quốc Anh được ký kết

VNU Journal of Economics and Business, Vol. 1, No. 1 (2021) 10-19  
VNU Journal of Economics and Business  
Journal homepage: https://js.vnu.edu.vn/EAB  
Original Article  
Opportunities and Challenges for Vietnam’s Merchandise  
Exporting to the UK Following Vietnam-UK  
Free Trade Agreement  
Ha Van Hoi*1  
VNU University of Economics and Business, 144 Xuan Thuy, Cau Giay, Hanoi, Vietnam  
Received 01 March 2021  
Revised 03 March 2021; Accepted 25 June 2021  
Abstract: On December 29, 2020, the free trade agreement between Vietnam and the UK  
(UKVFTA) was officially signed. This is the next step in the Vietnam - UK trade relationship  
since the European Union - Vietnam Free Trade Agreement (EVFTA) no longer applies to the UK  
after December 31, 2020 because of Brexit. UKVFTA is a new generation, high-quality bilateral  
agreement aimed at the complete elimination of import duties and non-tariff barriers on goods of  
the two countries under a short schedule. The deployment of UKVFTA from the beginning of  
2021 will ensure smooth trade in goods of the two countries, especially for essential goods in the  
complicated context of the COVID-19 pandemic. The paper analyzes and identifies new  
opportunities and challenges after the UKVFTA comes into effect, thereby proposing some  
solutions to boost Vietnam’s exports to the UK in the coming time.  
Keywords: UKVFTA, exports, opportunities, challenges.  
________  
1
*Corresponding author  
E-mail address: [email protected]om  
10  
VNU Journal of Economics and Business, Vol. 1, No. 1 (2021) 10-19  
11  
Cơ hội và thách thức đối với xuất khẩu hàng hóa  
của Việt Nam sang Anh sau khi Hiệp định thương mại  
tự do Việt Nam và Vương quốc Anh được ký kết  
Hà Văn Hội*  
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội,  
144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam  
Nhận ngày 01 tháng 3 năm 2021  
Chỉnh sửa ngày 03 tháng 3 năm 2021; Chấp nhận đăng ngày 25 tháng 6 năm 2021  
Tóm tắt: Ngày 29/12/2020, Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Vương quốc Anh  
(UKVFTA) chính thức được ký kết. Đây là bước tiếp nối trong quan hệ thương mại Việt -  
Anh khi Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu - Việt Nam (EVFTA) không còn áp  
dụng với Anh sau ngày 31/12/2020 vì quốc gia này rời khỏi Liên minh châu Âu (Brexit).  
UKVFTA là một thỏa thuận song phương thế hệ mới, chất lượng cao hướng tới loại bỏ hoàn  
toàn thuế nhập khẩu cũng như hàng rào phi thuế quan đối với hàng hóa hai nước theo lộ trình  
ngắn. Việc triển khai UKVFTA từ đầu năm 2021 sẽ bảo đảm cho giao thương hàng hóa của  
hai nước được thuận lợi, nhất là đối với những hàng hóa thiết yếu trong bối cảnh đại dịch  
COVID-19 vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp. Bài viết phân tích những cơ hội và thách thức mới  
sau khi UKVFTA có hiệu lực, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng  
hóa của Việt Nam sang Vương quốc Anh trong thời gian tới.  
Từ khóa: UKVFTA, xuất khẩu, cơ hội, thách thức.  
1. Đặt vấn đề *  
Trong những năm gần đây, cán cân  
2. Khái quát nội dung của UKVFTA có liên  
quan đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam  
sang Vương quốc Anh  
thương mại hàng hóa của Việt Nam trong  
quan hệ song phương với Vương quốc Anh  
luôn đạt mức thặng dư và xu hướng tăng cao  
qua các năm. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu  
luôn có chiều hướng gia tăng. Tính chung  
trong giai đoạn 2010-2020, kim ngạch xuất  
khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Anh tăng  
bình quân 10,7%/năm. Dự báo trong thời gian  
tới, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang  
Anh tiếp tục gia tăng mạnh hơn, bởi khi  
UKVFTA có hiệu lực một cách đầy đủ sẽ tạo  
ra những cơ hội mới cho hàng hóa xuất khẩu  
của Việt Nam thâm nhập thị trường đầy tiềm  
năng này.  
UKVFTA được đàm phán dựa trên nguyên  
tắc kế thừa các cam kết đã có trong EVFTA với  
những điều chỉnh cần thiết để đảm bảo phù hợp  
với khuôn khổ thương mại song phương giữa  
Việt Nam và Vương quốc Anh.  
Theo các cam kết trong Hiệp định, hàng hóa  
Việt Nam xuất khẩu sang Vương quốc Anh sẽ  
được xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 99,2% số  
dòng thuế, tương đương 99,7% kim ngạch xuất  
khẩu của Việt Nam sau 6 năm kể từ khi Hiệp  
định có hiệu lực [1].  
Tính đến nay, Việt Nam và Vương quốc  
Anh đã hoàn tất thủ tục trong nước cho phép  
áp dụng tạm thời UKVFTA kể từ 23 giờ  
GMT ngày 31/12/2020 (tức là 6 giờ sáng  
ngày 1/1/2021 theo giờ Việt Nam). Bên cạnh  
việc hoàn thành các thủ tục trong nước để phê  
duyệt UKVFTA, Bộ Công Thương sẽ phối  
________  
* Tác giả liên hệ  
Địa chỉ email: [email protected]  
H.V. Hoi / VNU Journal of Economics and Business, Vol. 1, No. 1 (2021) 10-19  
12  
hợp với các Bộ, ngành liên quan ban hành các  
văn bản hướng dẫn cụ thể để áp dụng tạm  
thời Hiệp định, đồng thời triển khai việc xây  
dựng Kế hoạch thực thi nhằm bảo đảm tận  
dụng tối đa cơ hội mang lại từ Hiệp định, đem  
lại lợi ích cho người dân và doanh nghiệp  
Việt Nam.  
nhập khẩu nên giai đoạn 2010-2020, cán cân  
thương mại hàng hóa của Việt Nam trong quan  
hệ song phương với Vương quốc Anh luôn đạt  
mức thặng dư và xu hướng tăng cao qua các  
năm. Giai đoạn 2011-2020, tốc độ tăng bình  
quân của kim ngạch xuất khẩu là 12,4%/năm và  
kim ngạch nhập khẩu là 4,2%/năm.  
Bảng 1: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của  
Việt Nam sang Anh (2010-2020)  
3. Khái quát tình hình xuất khẩu hàng hóa  
của Việt Nam sang Vương quốc Anh  
(Đơn vị: Triệu USD)  
Kim ngạch  
xuất khẩu  
1.681  
Tổng kim  
ngạch XNK  
2.200  
3.1. Về kim ngạch xuất khẩu  
Năm  
Kể từ tháng 9/2010, sau khi Việt Nam và  
Vương quốc Anh ký Tuyên bố chung, chính  
thức nâng cấp quan hệ hai nước lên mức đối tác  
chiến lược, tạo khuôn khổ phát triển quan hệ  
song phương một cách toàn diện thì trao đổi  
hàng hóa giữa hai nước đã có bước phát triển  
khá mạnh. Tính riêng về kim ngạch xuất khẩu  
được chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn 2011-  
2018, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt  
Nam sang Anh liên tục tăng với mức bình quân  
17,5% năm; giai đoạn 2019-2020 kim ngạch  
xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Vương  
quốc Anh giảm, trong đó, năm 2019 giảm nhẹ  
(0,4%), nhưng đến năm 2020, do ảnh hưởng  
của COVID-19 tới thương mại toàn cầu, trong  
đó có Anh và Việt Nam, nên kim ngạch xuất  
khẩu của Việt Nam sang thị trường này giảm  
mạnh hơn với 14% (Bảng 1). Nguyên nhân là  
do trong năm 2020, nhu cầu thị trường Anh  
giảm mạnh, nhất là đối với các sản phẩm không  
thiết yếu như đồ gỗ, đồ may mặc, giày dép, đồ  
thủ công mỹ nghệ, đồ trang trí nội thất, đồ dùng  
du lịch, phương tiện vận tải và phụ tùng. Dự  
báo xu hướng này tiếp tục giảm do tâm lý lo  
lắng của người tiêu dùng và số lượng người thất  
nghiệp tăng.  
2010  
2011  
2012  
2013  
2014  
2015  
2016  
2017  
2018  
2019  
2020  
2.398  
3.033  
3.699  
3.648  
4.645  
4.898  
5.415  
5.779  
3.044  
3.575  
4.272  
4.295  
5.375  
5.622  
6.154  
6.739  
5.758  
4.950  
6.615  
5.637  
Nguồn: Trung tâm Thông tin Hải quan,  
Tổng cục Hải quan, 2020.  
Trong đó, năm 2017, xuất khẩu hàng hóa  
Việt Nam sang Vương quốc Anh tăng 10,7%  
so với năm 2016; ngược lại, nhập khẩu hàng  
hóa từ thị trường Anh vào Việt Nam chỉ tăng  
nhẹ 2,1%. Năm 2019, kim ngạch xuất khẩu  
hàng hóa sang Vương quốc Anh có giảm ít so  
với 2018 (1,8%), nhưng kim ngạch nhập khẩu  
của Việt Nam từ thị trường này giảm mạnh  
(10,7%). Năm 2020, tuy chịu nhiều ảnh  
hưởng tiêu cực của COVID-19, tổng kim  
ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước vẫn đạt  
khoảng 5,637 tỷ USD (giảm xấp xỉ 14,8%).  
Trong đó, xuất khẩu đạt 4,95 tỷ USD và nhập  
khẩu đạt 687 triệu USD, lần lượt giảm 14%  
và gần 20% so với năm 2019. Như vậy, mặc  
dù năm 2020, thương mại toàn cầu bị ảnh  
hưởng nặng nề bởi COVID-19, nhưng thặng  
dư thương mại của hai nước vẫn đạt khoảng  
4,21 tỷ USD (Hình 1).  
Về cán cân thương mại: Hiện nay, Vương  
quốc Anh là đối tác thương mại lớn thứ 3 của  
Việt Nam tại châu Âu, là thị trường xuất khẩu  
lớn thứ 9 của Việt Nam ra thế giới và quan  
trọng hơn, Việt Nam luôn giữ vững mức thặng  
dư thương mại lớn tại thị trường này. Bảng 1  
cho thấy, do tốc độ tăng của kim ngạch xuất  
khẩu luôn cao hơn tốc độ tăng của kim ngạch  
H.V. Hoi / VNU Journal of Economics and Business, Vol. 1, No. 1 (2021) 10-19  
13  
trường này. Một số ngành hàng xuất khẩu được  
hưởng lợi lớn từ UKVFTA như dệt may, thủy  
hải sản, gạo, gỗ, rau quả, giày dép,…  
Đối với ngành dệt may: Cùng với sự tăng  
trưởng về kim ngạch xuất khẩu vào thị trường  
EU, sau khi UKVFTA có hiệu lực, kim ngạch  
xuất khẩu mặt hàng dệt may sang Vương  
quốc Anh sẽ gia tăng. Hiện tại, xuất khẩu  
ngành dệt may của Việt Nam sang Anh chỉ  
chiếm 2,77% tổng lượng nhập khẩu vào thị  
trường này. Do đó, ngành dệt may vẫn còn dư  
địa rất lớn để phát triển và gia tăng kim ngạch  
xuất khẩu. Bởi, như đã nêu ở trên, UKVFTA  
kế thừa những nội dung cơ bản của EVFTA.  
Chính vì vậy, cam kết giảm thuế nhập khẩu  
theo lộ trình trong EVFTA và UKVFTA là  
giống nhau. Với EVFTA, 100% các mặt hàng  
dệt may của Việt Nam sẽ được giảm thuế  
nhập khẩu về 0% sau tối đa 7 năm kể từ khi  
Hiệp định có hiệu lực. Cụ thể, đối với mặt  
hàng dệt may, EU sẽ xóa bỏ thuế quan với  
77,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam  
sau 5 năm và 22,7% kim ngạch còn lại sẽ  
được xóa bỏ sau 7 năm. Do đó, những lợi ích  
này cũng sẽ nhìn thấy được từ thị trường Anh  
thông qua UKVFTA.  
Bên cạnh đó, với những cam kết về cộng  
gộp đối với nguyên liệu vải từ Hàn Quốc và EU  
sẽ giúp thúc đẩy mở rộng nguồn cung nguyên  
liệu trong ngành này để tận hưởng ưu đãi, tránh  
bị phụ thuộc vào một số thị trường nhất định.  
Năm 2019, Anh nhập khẩu chủ yếu từ Việt  
Nam mặt hàng may mặc. Trong đó, 10 mặt  
hàng may mặc xuất khẩu lớn nhất sang Anh  
gồm: bộ comple, áo jacket, blazer cho phụ nữ  
hoặc trẻ em gái, áo khoác ngoài, áo choàng cho  
phụ nữ hoặc trẻ em gái; áo bó, áo chui đầu, áo  
cài khuy (cardigan), gile và các mặt hàng tương  
tự, dệt kim hoặc móc; áo choàng, áo sơ mi và  
áo choàng sơ mi phỏng kiểu nam dùng cho phụ  
nữ hoặc trẻ em gái; áo phông, áo may ô và các  
loại áo lót khác… [2].  
Hình 1: Cán cân XNK Việt Nam và  
Vương quốc Anh (2010-2020)  
Nguồn: Trung tâm Thông tin Hải quan,  
Tổng cục Hải quan, 2020.  
3.2. Về cơ cấu hàng hóa xuất khẩu  
Anh là đối tác thương mại lớn thứ 3 của  
Việt Nam tại khu vực châu Âu. Các mặt hàng  
xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang thị  
trường Vương quốc Anh có thể kể đến như:  
điện thoại và linh kiện, hàng dệt may, da  
giày, thủy sản, nông sản qua chế biến, đồ gỗ  
và sản phẩm gỗ, sản phẩm từ chất dẻo,…  
Nhìn chung, trong những năm gần đây, cơ  
cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang  
Anh không thay đổi nhiều. Tuy nhiên, sau khi  
UKVFTA có hiệu lực, với những cam kết của  
Anh về cắt giảm thuế quan và rào cản phi  
thuế quan, một số mặt hàng xuất khẩu mà  
Việt Nam có thế mạnh như nông, thủy sản,  
dệt may, nguyên liệu và sản phẩm gỗ, giày  
dép, rau quả,… sẽ có cơ hội thâm nhập thị  
trường Anh.  
4. Cơ hội và thách thức của UKVFTA tới  
hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam  
Dù Trung Quốc đang chiếm thị phần lớn  
nhất, nhưng trong 5 năm qua, tốc độ tăng  
trưởng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm dệt may  
vào thị trường Anh đã giảm tới 8%. Bên cạnh  
Trung Quốc, các thị trường cung cấp sản phẩm  
dệt may cho Vương quốc Anh còn có  
4.1. Những cơ hội mới  
Thứ nhất, việc ký kết thành công UKVFTA  
sẽ giúp giảm thuế quan đối với hàng hóa của  
Việt Nam sang Vương quốc Anh, từ đó thúc  
đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị  
H.V. Hoi / VNU Journal of Economics and Business, Vol. 1, No. 1 (2021) 10-19  
14  
Bangladesh, Campuchia và Pakistan đang được  
hưởng thuế suất ưu đãi (Bangladesh được  
hưởng chế độ miễn thuế nhập khẩu theo chương  
trình EBA, Pakistan cũng được miễn thuế nhập  
khẩu theo chương trình GSP+). Do đó, khi Việt  
Nam được hưởng các ưu đãi thuế quan theo  
cam kết của UKVFTA, hàng dệt may của Việt  
Nam sẽ có lợi thế cạnh tranh hơn so với các đối  
thủ này.  
Anh trong thời gian tới. Bên cạnh đó, nhu cầu  
nhập khẩu thủy sản của Anh được dự báo vẫn  
ổn định và có thể gia tăng đối với các sản phẩm  
thủy sản nuôi. Đây là cơ hội cho ngành thủy sản  
của Việt Nam. Cụ thể trong UKVFTA, thuế  
nhập khẩu hầu hết tôm nguyên liệu (tươi, đông  
lạnh, ướp lạnh) vào Anh được giảm từ mức  
thuế cơ bản 10-20% xuống 0% ngay khi Hiệp  
định có hiệu lực [4]. Các nhóm hàng có lợi thế  
sớm nhất trong nhóm thủy, hải sản là tôm và  
một số loại cá (cá tra). Theo đó, các ngành chế  
biến tôm và cá tra sẽ có cơ hội thúc đẩy kim  
ngạch xuất khẩu cũng như có triển vọng thu hút  
đầu tư để tận dụng các cam kết này.  
Đối với ngành hàng gạo: Mặc dù Việt Nam  
là một trong những nước xuất khẩu gạo hàng  
đầu thế giới nhưng xuất khẩu gạo của Việt Nam  
sang Vương quốc Anh vẫn ở mức khiêm tốn,  
chỉ chiếm 0,24% thị phần và đứng thứ 22 trong  
các nhà xuất khẩu gạo lớn nhất vào Vương  
quốc Anh [1]. Nguyên nhân là do mức thuế của  
Vương quốc Anh đối với mặt hàng gạo của Việt  
Nam vẫn khá cao (mức thuế nhập khẩu gạo  
thơm là 17,4%). Tuy nhiên, sau khi UKVFTA  
được ký kết, gạo thơm Việt Nam chất lượng  
cao xuất khẩu vào thị trường Anh sẽ được miễn  
thuế nhập khẩu, điều này sẽ khiến gạo Việt  
Nam có sức cạnh tranh tốt với các nước khác  
cũng xuất khẩu gạo thơm sang Anh như Thái  
Lan. Bên cạnh đó, Anh còn cam kết sẽ rà soát  
nâng lượng hạn ngạch thuế quan (TRQ) đối với  
mặt hàng gạo của Việt Nam sau 3 năm kể từ  
ngày UKVFTA có hiệu lực. Đây cũng sẽ là cơ  
hội để thúc đẩy xuất khẩu gạo vào thị trường  
này. Hơn thế, trong UKVFTA, bên cạnh gạo,  
Anh còn cam kết bổ sung về lượng TRQ đối với  
hơn 10 mặt hàng khác như trứng, tỏi, ngô ngọt,  
tinh bột sắn, surimi,... Điều này đặc biệt có ý  
nghĩa khi Vương quốc Anh là một trong những  
thị trường nhập khẩu tiềm năng các mặt hàng  
mà Việt Nam được hưởng ưu đãi TRQ.  
Đối với ngành thủy sản: Với vị trí là ngành  
xuất khẩu chủ lực, ngành thủy sản Việt Nam có  
lợi thế về cả kinh nghiệm, năng lực sản xuất và  
nguồn cung ứng thủy sản dồi dào. Trong khi đó,  
nhu cầu nhập khẩu mặt hàng thủy sản của Anh  
khá lớn, khoảng 4,4 tỷ USD/năm. Tuy nhiên,  
giá trị xuất khẩu của Việt Nam chỉ chiếm  
khoảng 6,7%. Cụ thể, năm 2019, tổng giá trị  
xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang Vương  
quốc Anh đạt 298,2 triệu USD. Năm 2020, xuất  
khẩu thủy sản của Việt Nam sang Anh đạt  
khoảng 355 triệu USD, trong đó, tôm, cá tra,  
cua, ghẹ và các loại cá biển là những sản phẩm  
đạt mức tăng trưởng tích cực [3]. Đặc biệt, sản  
phẩm cá tra chế biến tăng trưởng tốt, gấp hơn  
15 lần so với năm 2019. Một trong những  
nguyên nhân làm mặt hàng cá tra tăng trưởng  
mạnh là do đại dịch COVID-19 đã làm thay đổi  
xu hướng tiêu dùng và nhập khẩu từ Anh  
(hướng tới những sản phẩm thủy sản dễ tiêu thụ  
ở nhà, dễ bảo quản, dễ chế biến, tiện dụng và có  
mức giá trung bình thấp). Do đó, cá tra đông  
lạnh đang có lợi thế lớn và là điểm sáng của  
ngành thủy sản khi Việt Nam là nhà cung cấp  
hàng đầu, có mức giá phù hợp và quy trình chế  
biến được thị trường EU, Anh chấp nhận.  
Sau khi UKVFTA được ký kết, xuất khẩu  
thủy sản của Việt Nam sang Anh tiếp tục được  
hưởng các ưu đãi dựa trên cơ chế tiếp nối  
EVFTA. Đối với các dòng thuế mà EU đã cam  
kết dành cho Việt Nam trong cơ chế hạn ngạch  
thuế quan với thuế nhập khẩu trong hạn ngạch  
là 0%, Anh dành cho Việt Nam lượng hạn  
ngạch đối với các mặt hàng này trên cơ sở số  
liệu thống kê của EU về trao đổi thương mại  
song phương thực tế giữa Việt Nam và Anh  
trong giai đoạn 2014-2016. Đây là một trong  
những kỳ vọng tăng quy mô và kim ngạch xuất  
khẩu thủy sản của Việt Nam sang Vương quốc  
Đối với ngành hàng gỗ: Vương quốc Anh  
là thị trường có nhu cầu nhập khẩu số lượng  
lớn thành phẩm và nguyên, phụ liệu đồ gỗ  
mỗi năm. Năm 2019, Việt Nam là quốc gia  
xuất khẩu đồ gỗ lớn thứ 6 vào thị trường này  
với giá trị xuất khẩu đạt 421,8 triệu USD,  
chiếm 3,6% thị phần nhập khẩu của Anh. Đến  
H.V. Hoi / VNU Journal of Economics and Business, Vol. 1, No. 1 (2021) 10-19  
15  
tháng 11/2020, gỗ và sản phẩm gỗ là ngành  
hàng đạt mức tăng trưởng tốt với mức tăng  
14,1% so với cùng kỳ, đạt 10,883 tỷ USD.  
Đặc biệt, theo cam kết của Anh trong  
UKVFTA, sản phẩm từ gỗ của Việt Nam sẽ  
được hưởng thuế suất bằng 0% trong vòng  
5 năm, so với mức thuế suất hiện tại là 2-  
10%, do đó sẽ có cơ hội gia tăng sức cạnh  
tranh [5]. Trong thời gian tới, hoạt động xuất  
khẩu đồ gỗ sang Anh có nhiều cơ hội vì sản  
phẩm gỗ Việt Nam được thị trường Anh đón  
nhận nhờ giá cả có tính cạnh tranh cao,  
nguyên liệu tốt, chất lượng sản phẩm cao.  
Thêm nữa, một số công ty lớn trong ngành gỗ  
tại Anh đã có cơ sở sản xuất hoặc ký hợp  
đồng đối tác dài hạn với các nhà sản xuất tại  
Việt Nam như IKEA - nhà bán lẻ đồ gỗ nội  
thất có thị phần lớn nhất tại Anh.  
Đối với mặt hàng rau, quả: Với việc kế thừa  
các cam kết đã có trong EVFTA, UKVFTA  
được kỳ vọng mở rộng con đường xuất khẩu  
nông sản sang thị trường Vương quốc Anh với  
nhiều mặt hàng mà Việt Nam có thế mạnh.  
Theo cam kết trong UKVFTA, Vương quốc  
Anh sẽ xóa bỏ ngay 94% trong tổng số 547  
dòng thuế rau quả và các chế phẩm từ rau quả,  
trong đó có nhiều sản phẩm là thế mạnh của  
Việt Nam như vải, nhãn, chôm chôm, thanh  
long, dứa, dưa,… [6] (tức là mức thuế suất đối  
với mặt hàng rau quả sẽ bằng 0%). Hiện nay,  
Vương quốc Anh là thị trường lớn về rau quả  
với nhu cầu nhập khẩu đa dạng các mặt hàng  
như: rau thơm, trái cây các loại,... Bên cạnh đó,  
trong chính sách thương mại quốc tế, Anh dự  
định tiếp tục ưu tiên thị trường và ưu đãi  
thương mại cho các nước đang phát triển, điều  
này mở ra cơ hội cho các nhà xuất khẩu bắt đầu  
thiết lập quan hệ đối tác. Hơn nữa, với đặc điểm  
của thị trường Anh nói riêng và EU nói chung  
là tất cả rau quả từ Việt Nam đều có thể xuất  
khẩu nếu có đơn hàng và đáp ứng yêu cầu về an  
toàn thực phẩm, kiểm dịch thực vật nước nhập  
khẩu nên tiềm năng thị trường rất lớn. Khi Việt  
Nam ký được FTA với Vương quốc Anh thì sẽ  
giúp rau quả Việt Nam một mặt tiếp tục duy trì  
được lợi thế về thuế quan, mặt khác tiếp tục  
phát huy khả năng thâm nhập thị trường rau quả  
có dư địa lớn như thị trường Anh. Cụ thể, năm  
2019, kim ngạch rau quả xuất khẩu sang thị  
trường Anh đạt khoảng 11 triệu USD và năm  
2020 cũng có giá trị xuất khẩu tương đương [7].  
Dự báo trong thời gian tới, kim ngạch xuất khẩu  
rau quả của Việt Nam sẽ có khả năng gia tăng  
khi các doanh nghiệp tận dụng được cam kết cắt  
giảm thuế quan theo UKVFTA, cùng với việc  
đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng và vệ sinh an  
toàn thực phẩm của thị trường này.  
Đối với mặt hàng giày dép: Với kim ngạch  
tăng trưởng xuất khẩu ở mức 2 con số trong  
nhiều năm liên tiếp, Việt Nam hiện đứng thứ 2  
trên thế giới về xuất khẩu giày dép. Kim ngạch  
xuất khẩu giày dép của Việt Nam liên tục tăng  
trong giai đoạn 2010-2019, từ mức 5,1 tỷ  
USD năm 2010 tăng gấp hơn 3,5 lần, đạt 18,3  
tỷ USD năm 2019. Mặc dù đứng thứ 2 thế giới  
nhưng xuất khẩu của Việt Nam chỉ chiếm 8%  
kim ngạch xuất khẩu toàn cầu, trong khi Trung  
Quốc chiếm gần 40%.  
Anh là thị trường xuất khẩu giày dép có  
tiềm năng lớn nhưng rất cạnh tranh. Tại Anh,  
thị trường giày dép rất đa dạng, phong phú, bao  
gồm nhiều loại vật liệu (dệt, nhựa, cao su và da)  
và các sản phẩm từ giày dép nam, nữ và trẻ em  
khác nhau đến các loại sản phẩm chuyên dụng  
như giày trượt tuyết và giày bảo hộ. Từ năm  
2020 trở về trước, so với các sản phẩm cùng  
loại của các nước như Trung Quốc, Hà Lan,  
Italy, Bỉ, Đức thì Việt Nam vẫn chịu mức thuế  
quan cao thứ 2 trong 15 nước xuất khẩu giày  
dép nhiều nhất vào Anh, với mức thuế trung  
bình 6,7% [2]. UKVFTA kế thừa EVFTA, cam  
kết dành ưu đãi thuế nhập khẩu cho hàng giày  
dép Việt Nam như sau: Loại bỏ thuế nhập  
khẩu ngay khi Hiệp định có hiệu lực cho 37%  
số dòng thuế ngành giày dép (các loại giày  
chống thấm cao su/nhựa, dép lê và dép đi trong  
nhà, nguyên phụ liệu ngành giày dép,…). Số  
còn lại, thuế suất sẽ được xóa bỏ theo lộ trình từ  
3 đến 7 năm. Với phần lớn các loại giày dép mà  
Việt Nam có thế mạnh xuất khẩu thuộc nhóm  
này, việc ký kết FTA với Vương quốc Anh sẽ là  
một cơ hội mới cho ngành giày dép Việt Nam  
gia tăng kim ngạch xuất khẩu sang thị trường  
Anh trong thời gian tới.  
Thứ hai, UKVFTA là sự khởi đầu của một  
giai đoạn mới trong quan hệ giữa hai nước đối  
H.V. Hoi / VNU Journal of Economics and Business, Vol. 1, No. 1 (2021) 10-19  
16  
với việc phát triển các lĩnh vực thương mại chủ  
chốt. Đặc biệt, UKVFTA không chỉ bao gồm tự  
do hóa thương mại hàng hóa và dịch vụ, mà còn  
tích hợp nhiều yếu tố quan trọng khác, chẳng  
hạn như hướng tới tăng trưởng xanh và phát  
triển bền vững. Đáng lưu ý, UKVFTA có một  
số điểm mới như về thương mại hàng hóa,  
ngoài việc hai bên tiếp tục thực hiện cắt giảm  
thuế quan theo lộ trình của EVFTA, Chính phủ  
Anh vẫn dành lượng hạn ngạch nhất định đối  
với 14 mặt hàng nhập khẩu từ Việt Nam đang  
được hưởng ưu đãi theo cơ chế hạn ngạch thuế  
quan trong EVFTA; trong đó có những mặt  
hàng mà Việt Nam có lợi thế xuất khẩu lớn như  
gạo, tinh bột sắn, thủy sản. Đặc biệt, trong giai  
đoạn đại dịch COVID-19, nhu cầu về nông sản,  
thực phẩm, sản phẩm điện tử và các thiết bị y tế  
tại Vương quốc Anh có xu hướng gia tăng. Do  
đó, kết hợp với những cơ hội về tiếp cận thị  
trường từ UKVFTA, xuất khẩu hàng hóa sang  
thị trường này dự báo tiếp tục gia tăng.  
Hiện nay, dư địa tăng trưởng thị trường tại  
Vương quốc Anh cho sản phẩm Việt Nam còn  
rất lớn vì tất cả các sản phẩm xuất khẩu Việt  
Nam chỉ chiếm không quá 1% thị phần trong  
tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa mỗi năm  
gần 700 tỷ USD (2019) của Anh. Tuy nhiên, khi  
Anh rời EU, một số ưu đãi mà EVFTA mang lại  
sẽ không được áp dụng tại thị trường Anh. Bởi  
vậy, việc ký kết một FTA song phương sẽ tạo  
điều kiện cho hoạt động cải cách, mở cửa thị  
trường, thuận lợi hóa thương mại ở hai quốc gia  
trên cơ sở kế thừa các kết quả đàm phán tương  
đối tích cực ở EVFTA, tránh gián đoạn các hoạt  
động thương mại do hệ quả của Brexit. Hơn nữa,  
bên cạnh các ưu đãi về thuế quan, FTA song  
phương giữa Việt Nam và Anh sẽ đưa ra các  
cam kết minh bạch hóa về tiêu chuẩn chất lượng.  
Đây là động lực quan trọng thúc đẩy việc cải tiến  
hoạt động sản xuất theo hướng đáp ứng yêu cầu  
của thị trường đích đối với Việt Nam. Bởi chắc  
chắn, chất lượng đầu ra được cải thiện không chỉ  
giúp đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm này sang  
Anh mà còn đáp ứng được yêu cầu của nhiều thị  
trường khác trên thế giới.  
4.2. Một số thách thức  
Bên cạnh những cơ hội về thúc đẩy xuất  
khẩu, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh,  
mở rộng nguồn cung hàng hóa, UKFVTA  
cũng đặt ra những thách thức nhất định đối  
với xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam trong  
việc tận dụng cam kết cũng như sức ép đối  
với thị trường trong nước.  
Thứ nhất, các yêu cầu về quy tắc xuất xứ có  
thể khó đáp ứng: Thông thường hàng hóa muốn  
được hưởng ưu đãi thuế quan theo FTA thì nguyên  
liệu phải đáp ứng được một tỷ lệ về hàm lượng  
nội khối nhất định. Mặc dù UKVFTA tạo thuận  
lợi trong việc mở rộng nguồn cung trong các  
quy tắc xuất xứ của UKVFTA, nhưng hiện nay  
do nguồn nguyên liệu cho sản xuất hàng xuất  
khẩu của Việt Nam lại chủ yếu được nhập khẩu  
từ Trung Quốc hoặc ASEAN, nên có thể coi  
đây là một thách thức lớn đối với các doanh  
nghiệp Việt Nam.  
Thứ hai, một thách thức không nhỏ nữa  
đối với hàng hóa xuất khẩu vào thị trường  
Anh là rào cản kỹ thuật. Tiêu chuẩn kỹ thuật  
và yêu cầu chất lượng đối với hàng hóa nhập  
khẩu từ phía Vương quốc Anh là rất cao.  
Điển hình như với nông sản, dù UKVFTA kế  
thừa những ưu đãi với các quy định SPS (biện  
pháp vệ sinh và kiểm dịch động thực vật) linh  
hoạt trong EVFTA nhưng đa số ngành hàng  
nông sản của nước ta như chè, rau quả,... vẫn  
vấp phải những hạn chế do thiếu tính đồng  
nhất trong từng lô hàng, công tác thu hoạch  
bảo quản chưa tốt, một số sản phẩm vẫn còn  
tồn tại dư lượng thuốc kháng sinh hoặc thuốc  
bảo vệ thực vật, chưa đáp ứng được tiêu  
chuẩn kỹ thuật quy định, nên rất khó khăn để  
vượt qua rào cản này.  
Thứ ba, nguy cơ về các biện pháp phòng vệ  
thương mại cũng là một thách thức không nhỏ  
đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam khi  
thâm nhập thị trường Vương quốc Anh. Trong  
thương mại quốc tế, thông thường khi rào cản  
thuế quan không còn là công cụ hữu hiệu để  
bảo vệ nữa thì ở thị trường nhập khẩu có xu  
hướng sử dụng nhiều hơn các biện pháp phòng  
vệ thương mại như chống bán phá giá, chống  
H.V. Hoi / VNU Journal of Economics and Business, Vol. 1, No. 1 (2021) 10-19  
17  
trợ cấp hay tự vệ để bảo vệ ngành sản xuất nội  
địa. Vương quốc Anh cũng là một trong những  
thị trường có “truyền thống” sử dụng các  
công cụ này. Ví dụ, Vương quốc Anh đang sử  
dụng hạn ngạch thuế quan đối với thép nhập  
khẩu từ các nước ngoài EU hoặc chính sách  
chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với xe  
đạp điện, gạch men, da lộn, axit citric, trái cây  
có múi,… nhập khẩu từ Trung Quốc như là  
những biện pháp phòng vệ thương mại [7].  
Trong đó, thép và trái cây là những mặt hàng  
mà Việt Nam đang xuất khẩu sang Anh. Tuy  
nhiên, do có UKVFTA nên các biện pháp  
phòng vệ thương mại hiện tại không áp dụng  
đối với hàng hóa xuát khẩu của Việt Nam.  
Thứ hai, Bộ Công Thương cần đẩy nhanh  
việc xây dựng và áp dụng hệ thống tiêu chuẩn  
quốc gia hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế, tiêu  
chuẩn khu vực đối với hàng hóa xuất khẩu.  
Đồng thời có kế hoạch cụ thể cho việc xây  
dựng, hướng dẫn áp dụng các tiêu chuẩn đối với  
hàng hóa xuất khẩu vào thị trường Anh, bởi  
những tiêu chuẩn đối với hàng hóa nhập khẩu  
mà Chính phủ Anh quy định có khả năng tạo ra  
các rào cản thương mại đối với sản phẩm, hàng  
hóa xuất khẩu của Việt Nam. Bên cạnh đó, Bộ  
Công Thương và hiệp hội các ngành hàng cần  
có kế hoạch phổ biến, tư vấn, đào tạo cho các  
doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu về áp  
dụng tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa của Anh,  
để tránh rủi ro khi hàng hóa xuất khẩu không  
đảm bảo tiêu chuẩn quy định không được nhập  
khẩu vào thị trường Anh.  
5. Một số biện pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng  
hóa của Việt Nam sang Vương quốc Anh  
5.2. Đối với các doanh nghiệp  
Rõ ràng, cơ hội từ UKVFTA đối với xuất  
khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường  
Anh là rất lớn. Tuy nhiên, đi kèm với những cơ  
hội mới là những thách thức không nhỏ. Do đó,  
để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam  
sang thị trường này, các doanh nghiệp Việt  
Nam cần nghiên cứu, triển khai các biện pháp  
cụ thể như sau:  
Thứ nhất, kết thúc giai đoạn chuyển tiếp  
vào ngày 31/2/2020, Chính phủ Anh đã ban  
hành Chính sách thương mại quốc tế hậu  
Brexit và sẽ dần dần điều chỉnh một số quy  
định về tiêu chuẩn sản phẩm, quy trình sản  
xuất, thủ tục hải quan. Chính vì vậy, các  
doanh nghiệp Việt Nam cần nắm bắt kịp thời  
những thay đổi này khi sản xuất và xuất khẩu  
hàng hóa sang thị trường Anh. Bên cạnh đó,  
doanh nghiệp phải theo dõi sát tình hình biến  
động tỷ giá giữa GBP và USD khi lựa chọn  
các đồng tiền này trong đàm phán, ký kết hợp  
đồng thương mại và không nên chấp nhận  
điều khoản thanh toán trả chậm để giảm bớt  
rủi ro do biến động tỷ giá gây bất lợi cho  
doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam.  
Thứ hai, các doanh nghiệp kinh doanh  
xuất khẩu cần chủ động tìm hiểu và xây  
dựng kế hoạch trong việc điều chỉnh chuỗi  
cung ứng, các nguyên vật liệu đầu vào để  
đảm bảo đáp ứng các quy tắc xuất xứ, từ đó  
mới thực sự tận dụng được thuế suất ưu đãi  
khi EVFTA có hiệu lực. Đồng thời, trong  
thời gian tới, cần chuyển hướng nhập khẩu  
nguồn nguyên liệu trong một số ngành như  
dệt may, da giày để tận dụng được những cơ  
hội từ các cam kết của Hiệp định.  
5.1. Đối với cơ quan quản lý  
Thứ nhất, Bộ Công Thương cần tiếp tục chỉ  
đạo Thương vụ và các đơn vị liên quan tăng  
cường thực hiện các giải pháp thúc đẩy xuất  
khẩu các mặt hàng chủ lực, mở rộng thị trường,  
tập trung khai thác lợi thế xuất khẩu của Việt  
Nam. Đồng thời, chỉ đạo các cơ quan chức năng  
phụ trách việc xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương  
mại, khẩn trương hỗ trợ các doanh nghiệp lập  
và triển khai kế hoạch quảng bá, giới thiệu sản  
phẩm để tham gia các chương trình hội chợ,  
giao thương và kết nối hợp tác với các doanh  
nghiệp của Vương quốc Anh, nâng cao hiệu quả  
và đổi mới phương thức xúc tiến thương mại,  
tập trung vào các hàng hóa có lợi thế xuất khẩu,  
các thị trường tiềm năng và các thị trường  
ngách nhằm đa dạng hóa thị trường xuất khẩu.  
H.V. Hoi / VNU Journal of Economics and Business, Vol. 1, No. 1 (2021) 10-19  
18  
Thứ ba, các doanh nghiệp Việt Nam cần cải  
hội, chiếm lĩnh thị trường ngay trong giai đoạn  
thiện tính đồng nhất trong từng lô hàng, tăng năng  
lực bảo quản sau thu hoạch và nâng cao chất  
lượng sản phẩm thì mới có thể chinh phục được  
thị trường Anh, một trong những thị trường rất  
“khó tính”. Mặc dù Anh được xem là nước có nền  
kinh tế mở, ủng hộ thương mại tự do toàn cầu,  
nhưng hàng xuất khẩu vào thị trường Anh lại phải  
thông qua sự kiểm soát khá gắt gao về các tiêu  
chuẩn kỹ thuật, an toàn thực phẩm... Những “rào  
cản” này thường được áp dụng theo tiêu chí mới  
nhất của châu Âu và đó thường là những tiêu  
chuẩn cao nhất đang được quốc tế áp dụng. Bên  
cạnh đó là các yêu cầu bắt buộc về vệ sinh an toàn  
thực phẩm, dán nhãn, môi trường,... của Anh rất  
khắt khe và không dễ đáp ứng. Vì vậy, dù có được  
hưởng lợi về thuế quan thì hàng hóa của Việt  
Nam cũng phải hoàn thiện rất nhiều về chất lượng  
để có thể vượt qua được các rào cản này. Đồng  
thời, UKVFTA không chỉ tự do hóa thương mại  
hàng hóa và dịch vụ, mà còn tích hợp nhiều yếu tố  
quan trọng khác, chẳng hạn như hướng tới tăng  
trưởng xanh và phát triển bền vững. Tóm lại, các  
doanh nghiệp Việt Nam muốn thâm nhập thị  
trường Anh phải đảm bảo ít nhất ba vấn đề sau:  
tiêu chuẩn hóa, sức khỏe và môi trường.  
đầu UKVFTA có hiệu lực.  
Đối với doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản,  
cần tự giác thực hiện nghiêm túc và tuân thủ chặt  
chẽ các quy định về truy xuất nguồn gốc; tăng  
cường kiểm tra, giám sát việc sử dụng thuốc  
kháng sinh trong khâu sản xuất, chế biến để phục  
vụ xuất khẩu; kiểm soát tốt vấn đề về kiểm dịch  
thủy sản, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm  
trong toàn bộ chuỗi bảo quản, chế biến để có sản  
phẩm hàng hóa thủy sản xuất khẩu chất lượng  
cao, đáp ứng yêu cầu của các nước nhập khẩu.  
Bên cạnh đó, cần chủ động hợp tác, liên kết để  
nâng cao sức mạnh, tạo chuỗi cung ứng thông  
qua thúc đẩy liên kết sản xuất giữa doanh  
nghiệp, hợp tác xã và người nông dân, ngư dân,  
hộ sản xuất, từ đó hoàn thiện “chuỗi giá trị” từ  
sản xuất, nuôi trồng, chế biến và phân phối tới  
người tiêu dùng nhằm đảm bảo chất lượng sản  
phẩm, cũng như nâng cao trách nhiệm xã hội của  
doanh nghiệp, chú ý đến vấn đề phát triển bền  
vững của UKVFTA nói riêng cũng như các FTA  
thế hệ mới, chẳng hạn như các nguyên tắc, tiêu  
chuẩn về lao động, về bảo vệ môi trường...  
6. Kết luận  
Thứ tư, cần kiểm soát kỹ vấn đề vệ sinh an  
toàn thực phẩm đối với các hàng hóa xuất khẩu  
thuộc ngành hàng nông sản - thực phẩm để tránh  
rủi ro, bởi tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm của  
Anh, đặc biệt là ngưỡng tối đa thuốc bảo vệ thực  
vật quy định rất chặt chẽ. Mặc dù Anh không yêu  
cầu Việt Nam phải kiểm tra lô hàng tại Việt Nam  
trước khi xuất khẩu, nhưng tỷ lệ kiểm tra ở cửa  
khẩu nhập lên đến 80% nên những lô hàng không  
đạt sẽ không được thông quan nhập khẩu. Bên  
cạnh đó, mặc dù Việt Nam ký được FTA với Anh  
giúp rau quả Việt Nam duy trì được lợi thế về  
thuế quan so với các đối thủ như Thái Lan,  
Indonesia. Tuy nhiên, lợi thế về thuế quan của rau  
quả Việt Nam sẽ không duy trì được lâu khi các  
đối thủ của Việt Nam cũng đang đàm phán với  
EU và Anh để có những hiệp định tương tự. Do  
đó, những doanh nhiệp hiện đã có thế mạnh về  
vùng nguyên liệu, cũng như có đầy đủ hệ thống  
quản lý chất lượng cần nhanh chóng tranh thủ cơ  
Từ những phân tích trên cho thấy,  
UKVFTA sẽ mang đến nhiều cơ hội mới cho  
hàng hóa xuất khẩu sang thị trường Vương  
Quốc Anh, đồng thời tạo ra khả năng cạnh tranh  
mạnh mẽ cho các doanh nghiệp Việt Nam. Tuy  
nhiên, để tận dụng những cơ hội mà UKVFTA  
mang lại và chinh phục một thị trường tiêu  
chuẩn cao như Vương quốc Anh, đòi hỏi các  
doanh nghiệp Việt Nam phải hết sức nỗ lực  
trong việc nghiên cứu thị trường, đổi mới chiến  
lược sản phẩm, đáp ứng tiêu chuẩn và thị hiếu  
của người tiêu dùng Anh, để tạo lập lòng tin  
vững chắc của người tiêu dùng tại thị trường  
này. Các đối tác của doanh nghiệp Việt Nam là  
các doanh nghiệp tại Anh, trong thời gian tới sẽ  
có sự điều chỉnh mạnh mẽ để tận dụng  
UKVFTA. Do đó, các doanh nghiệp Việt Nam  
cần khẩn trương xây dựng chiến lược kinh  
H.V. Hoi / VNU Journal of Economics and Business, Vol. 1, No. 1 (2021) 10-19  
19  
[4] Dau Tu Online, “Opportunity to increase seafood  
exports to the UK market, published on 10  
xuat-khau-thuy-san-vao-thi-truong-anh-  
d136103.html, accessed on 18 February, 2021 (in  
Vietnamese).  
doanh xuất khẩu, đáp ứng được kỳ vọng về  
trình độ chuyên môn và niềm tin của các doanh  
nghiệp đối tác.  
Tài liệu tham khảo  
[5] Tuoitre Online, “Vietnam  
-
UK FTA:  
Vietnamese businesses reduce 3.5 trillion  
tax/year”, published on 14 December 2020,  
viet-bot-3500-money-money-tax-year-  
20201213222132588.htm/, accessed on 18  
February 2021 (in Vietnamese).  
[1] VnExpress, “Vietnam - UK sign a Bilateral  
Trade Agreement”, published on 29 December  
2020,  
song-phuong-  
hiep-dinh-thuong-mai-  
4213741.html/, accessed on 18 February 2021 (in  
Vietnamese).  
[6] Vinanet, “Opportunities and Challenges of the  
[2] Nhan Dan Online, “UKVFTA and potential  
export products”, published on 31 December  
Vietnam  
-
UK Free Trade Agreement”,  
published  
on  
14  
December  
2020,  
The-  
2020,  
em-nhung-Luu-yang-hang-hanoi-ukvfta-  
630184/, accessed on 19 February 2021 (in  
Vietnamese).  
marriage-the-ceremony-of-the-family-business-  
from-Vietnam-from-country-737379.html/,  
accessed 17 February 2021 (in Vietnamese).  
[7] Vietnam.vn, “Vietnamese Agricultural Products  
spread their way to the UK”, published on 31  
san-viet-rong-duong-sang-vuong-quoc-anh-  
[3] VietFish Magazine, “Opportunities for seafood  
export 2021”, published on 12 January 2021,  
khau-thuy-san -nam-2021/, accessed on 18  
February 2021 (in Vietnamese).  
20201231153845311.html/,  
accessed  
16  
February 2021 (in Vietnamese).  
pdf 10 trang Thùy Anh 13860 Free
Bạn đang xem tài liệu "Cơ hội và thách thức đối với xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Anh sau khi Hiệp định thương mại tự do Việt Nam và Vương quốc Anh được ký kết", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfco_hoi_va_thach_thuc_doi_voi_xuat_khau_hang_hoa_cua_viet_nam.pdf