Quyền lao động của người chuyển giới tại Việt Nam hiện nay

NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
QUYỀN LAO ĐỘNG CỦA NGƯỜI CHUYỂN GIỚI  
TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY  
Trương Hồng Quang*  
*TS. NCVC. Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Ở Việt Nam, người chuyển giới tồn tại khách quan trong đời sống xã hội. Xuất  
phát từ đặc điểm về bản dạng giới, người chuyển giới ở nước ta cũng gặp những  
hạn chế, khó khăn về vấn đề lao động, việc làm như nhiều quốc gia trên thế giới.  
Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích, đánh giá quyền lao động của người  
chuyển giới ở Việt Nam hiện nay và đưa ra các khuyến nghị nhằm bảo đảm, bảo  
vệ quyền lao động của người chuyển giới.  
Từ khoá: Bản dạng giới, chuyển  
đổi giới tính, người chuyển  
giới, quyền lao động của người  
chuyển giới.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 03/6/2021  
: 14/7/2021  
: 16/7/2021  
Article Infomation:  
Abstract: In Vietnam, the existence of transgenders is objective in social  
life. Deriving from the characteristics of gender identity, the transgender in our  
country also faces barriers and obstacles in job seeking and employment matters  
like several countries in the world. Within the scope of this article, the author  
provides an analysis and assessment of the working rights of the transgenders in  
Vietnam and also gives out recommendations to ensure and protect the working  
rights of transgenders.  
Keywords:  
Gender identity;  
gender transition; transgender,  
working rights to transgender.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 03 Jun. 2021  
: 14 Jul. 2021  
: 16 Jul. 2021  
Approved  
1. Dẫn nhập  
lý thuyết về bản dạng giới (gender identity)  
Khác với người đồng tính1 hay người  
song tính2, người chuyển giới (transgender)  
là người tự nhận (theo ý thức cá nhân -  
personal sense) mình mang giới tính khác  
với giới tính sinh học khi được sinh ra. Các  
sẽ giải thích các vấn đề liên quan đến người  
chuyển giới. Thuật ngữ bản dạng giới được  
hiểu là việc một người tự nhận mình mang  
một giới tính nào (có thể giống hoặc khác  
với giới tính sinh học khi được sinh ra)3.  
1 Người có tình cảm, cảm xúc với người cùng giới tính.  
2 Người có tình cảm, cảm xúc với cả người khác giới tính và người cùng giới tính.  
3 Xem: American Psychological Association (2012), Guidelines for Psychological Practice with Lesbian, Gay,  
and Bisexual Clients, American Psychologist, Vol. 67, No. 1, p. 10-42.  
Số 20(444) - T10/2021  
3
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Lý thuyết “Transgender Emergence Model”  
được Arlene Istar Lev đưa ra năm 2004 đã  
đề xuất một mô hình gồm bốn phần về giới4.  
Mô hình này giải thích giới bao gồm giới  
tính sinh học, bản dạng giới, thể hiện giới  
và xu hướng tính dục; trong đó, bản dạng  
giới không bị kiểm soát bởi giới tính sinh  
học. Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý (Social  
Exchange Theory) được George Homans  
đưa ra năm 19585 dựa vào tiền đề cho rằng,  
con người luôn hành động một cách có chủ  
đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các  
nguồn lực một cách duy lý nhằm đạt được  
kết quả tối đa với chi phí tối thiểu. Như vậy,  
với lý thuyết này, sự lựa chọn công khai bản  
dạng giới hay quyết định phẫu thuật chuyển  
đổi giới tính của người chuyển giới… có  
thể được lý giải một cách minh bạch.  
niệm này vẫn được hiểu lẫn lộn, gây lúng  
túng ngay cả với những người trong cuộc  
khi không thể xác định bản dạng giới của  
mình. Nhìn chung, “transgender” là một  
thuật ngữ có nội hàm rất rộng6.  
Đối với người chuyển giới, họ phải đối  
mặt với sự kỳ thị từ xã hội nặng nề hơn so với  
người đồng tính hay song tính. Một nguyên  
nhân rất quan trọng của tình trạng này là do  
phần đông người chuyển giới không thể che  
giấu bản dạng giới của mình (ví dụ, người  
chuyển giới từ nam sang nữ thường hay cải  
trang thành nữ, dùng son phấn...) nên bị lộ  
nhiều hơn so với người đồng tính. Nhiều  
người chuyển giới đã phẫu thuật chuyển  
giới nhưng chưa được pháp luật và xã hội  
thừa nhận nên khó tiếp cận với các dịch vụ  
y tế, khó kiếm việc làm...  
Phân tích những lý thuyết xoay quanh  
bản dạng giới cho thấy, các xu hướng về bản  
dạng giới là điều hoàn toàn tự nhiên trong  
xã hội. Do vậy, nếu một người có nhận thức,  
mong muốn có giới tính khác với giới tính  
khi sinh ra thì cũng là điều bình thường. Sau  
khi thực hiện phẫu thuật, người chuyển giới  
được gọi với một khái niệm đầy đủ hơn là  
“người chuyển đổi giới tính” (transsexual).  
Có hai dạng người chuyển giới là: người  
chuyển giới nam sang nữ (male to female)  
và người chuyển giới nữ sang nam (female  
to male). Mặc dù, người chuyển giới và  
chuyển đổi giới tính tồn tại ở mọi xã hội,  
mọi nơi trên thế giới, nhưng những khái  
Ở Việt Nam, tương tự như người đồng  
tính (và song tính), cũng thật khó để biết  
được chính xác số lượng người chuyển giới,  
đặc biệt khi khái niệm chuyển giới không  
chỉ khuôn gọn vào những người đã phẫu  
thuật, mà cả những người có cảm nhận rõ  
ràng về giới tính thực của mình khác với  
giới tính sinh học, và có xu hướng/mong  
muốn được chuyển đổi, mặc dù trên thực tế  
điều đó có thể chưa và không bao giờ xảy  
ra7. Theo một số nghiên cứu, những năm  
gần đây, người chuyển giới ở Việt Nam  
đang ngày càng hiện diện rõ nét8. Về địa  
bàn sinh sống, theo một khảo sát công bố  
năm 2017, trong số 408 người chuyển giới,  
4 Xem:ArleneIstarLev(2004), TransgenderEmergence:UnderstandingDiverseGenderIdentitiesandExpressions,  
5 Xem: Social Exchange Theory,  
6
Xem: Lori Chambers (2007), “Unprincipled exclusions: Feminist Theory, transgender jurisprufdence, and  
Kimberly Nixon”, Canadian Journal off Woman and the Law, Volume 19, Number 2, p.305-334.  
7 Xem: Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (2012), Báo cáo nghiên cứu “Người chuyển giới ở Việt  
Nam - Những vấn đề thực tiễn và pháp lý”, Hà Nội, tr.14.  
8
Xem: Lê Bảo (2018), Đảm bảo quyền cho người chuyển giới: Cần những điều chỉnh phù hợp, http://  
daidoanket.vn/xa-hoi/dam-bao-quyen-cho-nguoi-chuyen-gioi-can-nhung-dieu-chinh-phu-hop-tintuc418341,  
truy cập ngày 01/6/2021.  
4
Số 20(444) - T10/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
phần lớn hiện đang sống tại các vùng đô thị,  
thành phố lớn, tập trung chủ yếu tại thành  
phố Hồ Chí Minh (42,9%) và thành phố Hà  
Nội (19%)9. Các rào cản về mặt xã hội, văn  
hóa và pháp lý đang đặt người chuyển giới  
trở thành nhóm dễ bị tổn thương. Họ bị bắt  
nạt, kỳ thị và phân biệt đối xử ở chính gia  
đình và cộng đồng. Cơ hội tiếp cận việc  
làm và y tế của họ cũng bị giới hạn. Trong  
khi các dịch vụ y tế, pháp lý và xã hội cho  
người dân nói chung đang ngày càng cải  
thiện, nhưng dịch vụ dành riêng cho người  
chuyển giới hầu như không có.  
động, Hiến pháp năm 2013 quy định người  
làm công ăn lương được bảo đảm các điều  
kiện làm việc công bằng, an toàn; được  
hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi; nghiêm  
cấm phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động  
(khoản 2, 3 Điều 35); Nhà nước bảo vệ  
quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động,  
người sử dụng lao động và tạo điều kiện xây  
dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và  
ổn định (khoản 2 Điều 57). Trước đây, Bộ  
luật Lao động năm 2012 nghiêm cấm hành  
vi phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc,  
màu da, thành phần xã hội, tình trạng hôn  
nhân, tín ngưỡng, tôn giáo, nhiễm HIV/  
AIDS, khuyết tật hoặc vì lý do thành lập,  
gia nhập và hoạt động công đoàn; ngược đãi  
người lao động, quấy rối tình dục tại nơi  
làm việc (khoản 1, 2 Điều 8). Có thể nhận  
thấy, nếu như Hiến pháp năm 2013 quy định  
chung về “nghiêm cấm phân biệt đối xử”  
thì Bộ luật Lao động năm 2012 quy định  
“nghiêm cấm hành vi phân biệt đối xử về  
giới tính, dân tộc,...”.Hiện nay, Bộ luật Lao  
động năm 2019 nghiêm cấm “phân biệt đối  
xử trong lao động” (khoản 1 Điều 8); khoản  
8 Điều 3 Bộ luật này quy định phân biệt đối  
xử trong lao động là hành vi phân biệt, loại  
trừ hoặc ưu tiên dựa trên chủng tộc, màu  
da, nguồn gốc quốc gia hoặc nguồn gốc xã  
hội, dân tộc, giới tính,... có tác động làm  
ảnh hưởng đến bình đẳng về cơ hội việc  
làm hoặc nghề nghiệp. Như vậy, hành vi  
bị nghiêm cấm bởi Bộ luật Lao động năm  
2019 có tính khái quát cao hơn so với Bộ  
luật Lao động năm 2012 nhưng trong cả 2  
bộ luật này, lý do để phân biệt đối xử chưa  
bao phủ hết các đối tượng người LGBT  
(trong đó có người chuyển giới) vì nếu nói  
đến giới tính là về vấn đề nam/nữ, trong khi  
2. Quyền lao động của người chuyển giới  
ở Việt Nam hiện nay  
Trước hết, về quyền bình đẳng, không bị  
phân biệt đối xử trong đời sống chính trị,  
dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội của người  
chuyển giới.  
Bình đẳng là các nhu cầu và lợi ích cơ  
bản (về tinh thần và vật chất) của loài người  
đều tồn tại ở mỗi người10. Hiến pháp năm  
2013 và pháp luật Việt Nam chưa có quy  
định riêng về quyền bình đẳng, không phân  
biệt đối xử dựa trên các vấn đề về xu hướng  
tính dục và bản dạng giới. Các quy định  
về quyền này thường quy định chung cho  
các đối tượng trong xã hội. Hiến pháp năm  
2013 quy định mọi người đều bình đẳng  
trước pháp luật, không ai bị phân biệt đối  
xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh  
tế, văn hóa, xã hội (Điều 16). Như vậy,  
quyền bình đẳng trước pháp luật, không bị  
phân biệt đối xử được áp dụng cho tất cả  
mọi người (trong đó có cả người đồng tính,  
song tính, chuyển giới (LGBT) nói chung  
và người chuyển giới nói riêng).  
Cụ thể hơn, trong lĩnh vực pháp luật lao  
9 Xem: Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (2017), Báo cáo nghiên cứu “Hiện trạng trải nghiệm  
y tế và nhu cầu chuyển đổi giới tính của người chuyển giới ở Việt Nam”, Hà Nội, tr.21.  
10 Xem: Võ Khánh Vinh (chủ biên), Quyền con người: Tiếp cận đa ngành và liên ngành khoa học xã hội, Nxb  
Khoa học xã hội, Hà Nội, 2009, tr.18.  
Số 20(444) - T10/2021  
5
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
đó đối tượng LGBT liên quan đến vấn đề xu  
hướng tính dục,11 bản dạng giới (họ có thể  
là nam/nữ nhưng xu hướng tính dục hoặc  
bản dạng giới có thể khác nhau).  
Thứ hai, Hiến pháp năm 2013 và pháp  
luật lao động quy định về quyền lao  
động (học nghề, tìm kiếm việc làm, lựa  
chọn nghề nghiệp, tuyển dụng…) chung  
cho mọi người trong xã hội. Ví dụ, theo  
Bộ luật Lao động năm 2019, người lao  
động có quyền làm việc; tự do lựa chọn  
việc làm, nơi làm việc, nghề nghiệp, học  
nghề, nâng cao trình độ nghề nghiệp;  
không bị phân biệt đối xử, cưỡng bức  
lao động, quấy rối tình dục tại nơi làm  
việc (điểm a khoản 1 Điều 5); người lao  
động làm việc không trọn thời gian được  
hưởng lương; bình đẳng trong thực hiện  
quyền và nghĩa vụ với người lao động  
làm việc trọn thời gian; bình đẳng về cơ  
hội, không bị phân biệt đối xử, bảo đảm  
an toàn, vệ sinh lao động (khoản 3, Điều  
32)... Trong lĩnh vực có liên quan, hành  
vi phân biệt đối xử về giới tính… trong  
tuyển, quản lý lao động bị phạt tiền từ  
5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng  
(khoản 2 Điều 7 Nghị định số 28/2020/  
NĐ-CP ngày 01/3/2020 của Chính phủ  
quy định xử phạt vi phạm hành chính  
trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội,  
đưa người lao động Việt Nam đi làm việc  
ở nước ngoài theo hợp đồng). Như vậy,  
pháp luật hiện hành của nước ta không  
bao hàm quy định đặc thù riêng liên quan  
đến quyền lao động của người chuyển  
giới nói riêng và người LGBT nói chung.  
Điều này có khả năng dẫn đến việc quyền  
lao động của người chuyển giới sẽ không  
được bảo đảm.  
Bên cạnh đó, cơ sở pháp lý về bình đẳng  
giới nói chung cho đến nay vẫn chưa thực  
sự đầy đủ. Theo Luật Bình đẳng giới năm  
2006 và các văn bản pháp luật liên quan,  
hoạt động bình đẳng giới hướng đến mục  
tiêu tạo sự ngang bằng giữa nam và nữ về  
mọi mặt, trong đó tạo một số điều kiện để  
nữ giới được phát huy khả năng của bản  
thân. Tác giả cho rằng, quan niệm này đúng  
nhưng dường như chưa đầy đủ, chưa đáp  
ứng được xu hướng phát triển về giới hiện  
nay. Mặc dù thuật ngữ gender (giới tính)  
là khái niệm rộng, nhưng hiện tại chỉ mới  
được hiểu ở mức độ biological sex/gender  
(giới tính sinh học) mà chưa có sự ghi nhận  
bình đẳng giữa những xu hướng tính dục,  
bản dạng giới khác nhau. Nếu không ghi  
nhận việc cấm phân biệt đối xử dựa trên  
xu hướng tính dục, bản dạng giới thì pháp  
luật sẽ ít nhiều mất đi giá trị xã hội vốn có  
của nó. Bình đẳng giới cần đề cập đến sự  
bình đẳng ngay trong một giới (giữa các xu  
hướng tính dục, bản dạng giới). Quan niệm  
bình đẳng giới bị bó hẹp như hiện nay có  
thể dẫn đến khả năng người LGBT bị kỳ thị,  
phân biệt đối xử trong nhiều lĩnh vực (đời  
sống, lao động, việc làm…).  
Nhìn chung, các yếu tố về xu hướng tính  
dục hay bản dạng giới chưa được đề cập/thể  
hiện rõ nét trong các quy định về quyền bình  
đẳng, không bị phân biệt đối xử trong đời  
sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã  
hội ở nước ta. Điều đó khiến cho cơ sở pháp  
lý để bảo vệ quyền của người LGBT nói  
chung và quyền lao động của người chuyển  
giới nói riêng chưa thực sự chắc chắn.  
Thứ ba, vấn đề chuyển đổi giới tính của  
người chuyển giới.  
Trước đây, trong quá trình xây dựng  
Bộ luật Dân sự năm 2005, vấn đề chuyển  
đổi giới tính đã được đề cập12 nhưng  
11 Chỉ việc một người có tình cảm, cảm xúc với người có cùng giới tính/khác giới tính/cả hai giới tính.  
12 Xem: Hồng Khánh (2006), Người chuyển đổi giới tính phải được thừa nhận, https://vnexpress.net/tin-tuc/  
thoi-su/nguoi-chuyen-doi-gioi-tinh-phai-duoc-thua-nhan-2072247.html, truy cập ngày 01/6/2021.  
6
Số 20(444) - T10/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
chưa được quy định. Bộ luật Dân sự năm  
2015 đã ghi nhận vấn đề chuyển đổi giới  
tính trong phần Quyền nhân thân (Điều  
37): “Việc chuyển đổi giới tính được thực  
hiện theo quy định của luật. Cá nhân đã  
chuyển đổi giới tính có quyền, nghĩa vụ  
đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của  
pháp luật về hộ tịch; có quyền nhân thân  
phù hợp với giới tính đã được chuyển đổi  
theo quy định của Bộ luật này và luật  
khác có liên quan”. Có thể thấy, đây là  
một bước tiến lớn trong tư duy lập pháp  
về quyền con người, quyền công dân.  
Điều này phản ánh sự đáp ứng kịp thời  
nhu cầu thực tiễn của đời sống xã hội  
của pháp luật nước ta. Khác với vấn đề  
quyền kết hôn của cặp đôi cùng giới, vấn  
đề chuyển giới có những nét riêng biệt  
cần được ghi nhận. Ví dụ, nhiều công dân  
Việt Nam đã ra nước ngoài phẫu thuật và  
quay về Việt Nam sống, gặp nhiều khó  
khăn trong cuộc sống; một số trường hợp  
bị xâm hại tình dục mà không được bảo  
vệ thích đáng; không được thay đổi giấy  
tờ cá nhân nên khó khăn trong một số  
công việc hàng ngày; nhiều trường hợp  
phẫu thuật “chui” nên gặp rủi ro về y tế,  
tính mạng…  
hành Bộ luật Dân sự năm 2015, quy định  
tại Điều 37 của Bộ luật này vẫn chưa  
được hiện thực hóa.  
Theo một nghiên cứu công bố năm  
201713, trong số 408 người chuyển giới  
tham gia khảo sát thì có 35 người (chiếm  
8,6%) đã từng trải qua ít nhất một lần phẫu  
thuật chuyển đổi giới tính. Trong số 35  
người này, 28,6% được khám đánh giá,  
nhưng chưa được làm đầy đủ, thoả đáng  
theo như họ mong muốn; 2% cho biết  
không được khám đánh giá trước phẫu  
thuật; 14,3% không nhận được chăm sóc  
và tư vấn hậu phẫu, 25,7% có nhận được  
dịch vụ này tuy nhiên không cảm thấy hài  
lòng; 60% cho biết họ nhận được khám  
và tư vấn tâm lý đầy đủ sau phẫu thuật;  
71,4% cho biết sau khi phẫu thuật, họ gặp  
rắc rối liên quan đến giấy tờ tùy thân, do  
ngoại hình thật không khớp với thông tin  
và hình ảnh trên giấy tờ; 14,3% nhận thấy  
sức khỏe giảm sút sau khi phẫu thuật. Với  
chi phí can thiệp y học rất cao, nhiều người  
đã tìm đến các dịch vụ chui giá thấp và  
chính họ gặp không ít rủi ro.  
Có thể thấy, việc chưa có một hành lang  
pháp lý đầy đủ về chuyển đổi giới tính đã  
dẫn đến khá nhiều hệ quả. Vấn đề chuyển  
đổi giới tính vẫn đang bị “treo” và nhiều  
người chuyển giới đã phẫu thuật trước đây  
vẫn tiếp tục sống trong tình trạng giấy tờ  
nhân thân khác với cơ thể hiện tại, vẫn có  
thể bị xâm phạm tình dục nhưng chưa được  
bảo vệ thích đáng, gặp khó khăn trong việc  
thực hiện một số thủ tục hành chính/dịch  
vụ công... Nhiều người chuyển giới vẫn  
chưa được thực hiện quyền của mình, gặp  
nhiều khó khăn trong cuộc sống cũng như  
Theo Kế hoạch triển khai thi hành Bộ  
luật Dân sự năm 2015 (ban hành kèm  
theo Quyết định số 243/QĐ-TTg ngày  
05/02/2016 của Thủ tướng Chính phủ),  
Bộ Y tế được giao “nghiên cứu, đề nghị  
xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về  
chuyển đổi giới tính” (mục II.4b), thực  
hiện trong năm 2016 và năm 2017. Như  
vậy, cho đến nay, sau hơn bốn năm thi  
13 Xem: Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (2017), Báo cáo nghiên cứu “Hiện trạng trải nghiệm  
y tế và nhu cầu chuyển đổi giới tính của người chuyển giới ở Việt Nam”, tlđd, tr. 8-9.  
Số 20(444) - T10/2021  
7
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
trong việc thực hiện các quyền lao động,  
làm việc…14  
cụm trong cộng đồng nhỏ bé của mình. Về  
cơ hội việc làm, khác với người đồng tính,  
với việc khao khát được chuyển đổi giới  
tính nên người chuyển giới thường có vẻ bề  
ngoài, ăn mặc khác với giới tính mình đang  
có. Từ đó, người chuyển giới thường khó có  
cơ hội xin việc làm do bị kỳ thị.  
Thứ tư, thực tiễn thực hiện quyền lao  
động của người chuyển giới.  
Để tìm hiểu bức tranh toàn diện về  
thực tiễn quyền lao động của người  
chuyển giới tương đối khó khăn và cần  
những nghiên cứu chuyên sâu với quy mô  
lớn. Tác giả tập trung làm rõ một số điểm  
trong bức tranh toàn cảnh đã được phản  
ánh thời gian qua.  
“Điều quan trọng khi nói ra điều này  
mình mong mọi người có thể hiểu rằng  
người chuyển giới ở Việt Nam vốn rất khó  
tìm được một công việc mà xã hội gọi là “tử  
tế”. Thời buổi hiện tại một nam thanh niên,  
nữ thanh niên đi xin việc đã khó, huống chi  
một người chuyển giới, mà còn là chuyển  
giới nữ. Đã có lần mình được nhận vào  
làm việc nhưng sau khi biết mình là người  
chuyển giới, công ty đã tìm lý do để sa thải.  
Khi không tìm được một công việc ổn định  
cuộc sống của người chuyển giới gặp rất  
nhiều khó khăn và họ buộc phải đi làm  
những công việc có phần thấp kém. Bởi vì  
hầu hết người chuyển giới đều không nhận  
được sự hậu thuẫn từ gia đình” (Tâm sự  
của HySa B - Miss Beauty 2015)17.  
Thực tế cho thấy, người chuyển giới có  
thể thuộc nhiều nhóm, thành phần xã hội  
với khá nhiều công việc khác nhau. Nhiều  
người trong số họ đã đóng góp tích cực cho  
sự phát triển chung của xã hội15. Mặc dù có  
thể gặp nhiều khó khăn tìm kiếm việc làm  
và sự phân biệt đối xử ở nơi làm việc nhưng  
nhiều người chuyển giới có bằng đại học  
luôn muốn làm ở các công ty để chứng tỏ  
bản thân trong môi trường chuyên nghiệp16.  
Họ cho rằng, việc là người chuyển giới có  
tác động tích cực đến cuộc sống của họ, dạy  
họ phải tin tưởng vào bản thân, có tham  
vọng và bền chí.  
Số liệu khảo sát trực tuyến đối với 2363  
người LGBT khi mọi người xung quanh biết  
họ là LGBT cho thấy: trong lĩnh vực việc  
làm, 29,9% bị từ chối nhận vào làm trong  
khi đủ điều kiện; 8,8% bị đuổi việc; 48,4%  
nghe, nhìn thấy những nhận xét, hành động  
tiêu cực từ đồng nghiệp… Đặc biệt, tỷ lệ  
người chuyển giới bị từ chối khi xin việc  
Tuy nhiên, trong thực tế, môi trường lao  
động của người chuyển giới ở nước ta vẫn  
tồn tại những hạn chế nhất định, đặc biệt  
đối với khu vực lao động phi chính thức.  
Nhiều người chuyển giới vừa bị kỳ thị của  
xã hội và của chính cộng đồng LGBT, vừa  
không xin được việc làm nên thường co  
14  
Xem: Nhật Thy (2018), Người chuyển giới mong sớm ban hành Luật Chuyển đổi giới tính, https://www.  
moha.gov.vn/congtaccanbonu/binhdanggioi/nguoi-chuyen-gioi-mong-som-ban-hanh-luat-chuyen-doi-gioi-  
tinh-39697.html, ngày 26/9/2018; Tâm Lụa (2019), Quyền chuyển đổi giới tính: 4 năm “treo” hướng dẫn,  
he-luy-1506320.htm, ngày 12/6/2019…  
15 Xem: Người chuyển giới làm những nghề gì? Bộ ảnh này sẽ cho bạn câu trả lời, tlđd.  
16 Xem: Nhữ Trang (2015), Người chuyển giới: Gian nan cơ hội tìm việc làm, https://dantri.com.vn/doi-song/  
nguoi-chuyen-gioi-gian-nan-co-hoi-tim-viec-lam-20150930080432321.htm, truy cập ngày 01/6/2021.  
17 Xem: Nguyễn Toàn (2018), Hoa hậu chuyển giới Việt Nam đầu tiên sau hơn 2 năm đăng quang: “Ai cũng  
nghĩ sau Miss Beauty thì đời mình lên mây”, http://kenh14.vn, truy cập ngày 01/6/2021.  
8
Số 20(444) - T10/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
(59%) cao gấp ba lần so với nhóm đồng  
tính và song tính (19,6%)18. Theo nghiên  
cứu “Sinh kế với người chuyển giới” (công  
bố năm 2015) do Trung tâm Sáng kiến Sức  
khỏe và Dân số Việt Nam và Viện nghiên  
cứu phát triển Vương Quốc Anh tại Tp. Hà  
Nội, Tp. Hồ Chí Minh - khu vực được đánh  
giá tập trung đông đảo nhất người chuyển  
giới - với 197 người chuyển giới nam và  
nữ cho thấy, hầu hết người chuyển giới gặp  
phải rất nhiều khó khăn trong vấn đề tìm  
kiếm việc làm cũng như sự phân biệt, kỳ  
thị tại nơi làm việc. Qua tâm sự, nghiên  
cứu thực tế, nhóm nghiên cứu đã nhận thấy  
có sự khác biệt về vấn đề việc làm của  
người chuyển giới. Hơn 30% người tham  
gia cho biết đã từng nghỉ việc do là người  
chuyển giới. Hơn một nửa số này đã từng  
phải nghỉ việc từ hai lần trở lên. Gần 50%  
người chuyển giới có thu nhập chính từ một  
công việc hoàn toàn bán thời gian, 21 % có  
tích lũy, 28% đủ chi tiêu, 25% có thu nhập  
nhưng không đủ chi tiêu và khoảng 26%  
hoàn toàn không có thu nhập.  
hay làm là để mua vui cho người khác (hát  
đám ma, phục vụ quán bar, vũ trường hay  
đi bán dâm…). Đặc biệt, đối tượng trẻ em  
đường phố là người chuyển giới đi làm các  
công việc này thường gặp những rủi ro rất  
lớn cho bản thân. Từ đó, người chuyển  
giới thường có nhiều rủi ro về mặt sức  
khỏe. Một mặt, do bị kỳ thị, xa lánh nên  
họ thiếu kiến thức về quan hệ tình dục, dễ  
bị lây nhiễm các căn bệnh khó chữa. Mặt  
khác, người chuyển giới ở Việt Nam, đặc  
biệt là những người làm các nghề như hát  
đám ma, bán dâm, lang thang… thường bị  
ảnh hưởng sức khỏe rất nhiều do công việc  
hoặc bị lạm dụng.  
Một điểm cũng cần quan tâm là, trong  
quá trình lao động, làm việc nói riêng hay  
trong cuộc sống nói chung, nhiều người  
chuyển giới cũng có nhu cầu được sử dụng  
nhà vệ sinh đúng với giới tính (đã can thiệp  
y tế để chuyển đổi giới tính) hoặc nhà vệ  
sinh trung tính (có thể dùng chung cho cả  
nam, nữ), nhà vệ sinh dành riêng cho người  
chuyển giới. Đây là vấn đề liên quan đến an  
toàn lao động của người chuyển giới. Tuy  
nhiên, xử lý nhu cầu này như thế nào vẫn là  
vấn đề còn gây tranh luận trên thế giới cũng  
như ở Việt Nam20.  
Một nghiên cứu về người chuyển giới nữ  
sinh sống và làm việc tại Tp. Hồ Chí Minh  
cho thấy, 45% bị từ chối việc làm do phân  
biệt đối xử dựa trên bản dạng giới19. Điều  
này phần nào giải thích cho thực tế chỉ có  
4% những người tham gia khảo sát có các  
việc làm ở khu vực chính thức (có hợp đồng  
lao động và được hưởng các chế độ, lợi ích  
của người lao động) và có tới 13% kiếm  
sống bằng nghề mại dâm.  
Có thể nhận thấy, mức độ nhận thức của  
xã hội về người LGBT nói chung và người  
chuyển giới nói riêng đôi khi chưa thực sự  
đầy đủ, tích cực nên đã dẫn đến sự kỳ thị  
đối với người LGBT, cho rằng đây là những  
người không bình thường, đi ngược lại tự  
nhiên. Do vậy, mặc dù Hiến pháp và pháp  
luật đã ghi nhận quyền bình đẳng, không bị  
phân biệt đối xử cho mọi người nói chung  
và người LGBT nói riêng nhưng vẫn chưa  
Đối với những người chuyển giới chưa  
qua phẫu thuật, nếu họ sống công khai,  
lộ thân phận thì cũng khó có cơ hội việc  
làm. Một số nghề mà người chuyển giới  
18 Xem: Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (2016), Báo cáo nghiên cứu “Có phải bởi vì tôi là LGBT?”  
Phân biệt đối xử dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới tại Việt Nam, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, tr. 45-74.  
19  
Xem: Hội thảo về sửa đổi Bộ luật Lao động - Các vấn đề liên quan đến cộng đồng LGBTIQ, https://  
vietnammoi.vn/xin-viec-con-ac-mong-doi-voi-nguoi-chuyen-gioi-53144.htm, truy cập ngày 01/6/2021.  
20 Xem: Phúc Duy (2015), Tranh cãi người chuyển giới sử dụng nhà vệ sinh nam hay nữ? https://thanhnien.vn/  
tranh-cai-nguoi-chuyen-gioi-su-dung-nha-ve-sinh-nam-hay-nu-post521066.html  
Số 20(444) - T10/2021  
9
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
được hiện thực hóa trong thực tế, ở đây là  
lĩnh vực lao động, việc làm.  
giáo dục và đào tạo, cần tiếp tục mở rộng  
nội dung của các chương trình giáo dục giới  
tính (đặc biệt cho học sinh phổ thông, sinh  
viên). Theo đó, cần thông tin, giáo dục các  
vấn đề về xu hướng tính dục và bản dạng  
giới để góp phần định hướng nhận thức đúng  
đắn cho học sinh, sinh viên nói riêng và giới  
trẻ nói chung. Ngoài ra, cần phổ biến các  
kiến thức khoa học chính thống về xu hướng  
tính dục, bản dạng giới, đồng tính, chuyển  
giới… cho các cơ quan, tổ chức, người dân,  
gia đình, xã hội và đặc biệt là các cơ sở khám  
bệnh, chữa bệnh và cán bộ ngành y tế…  
3. Khuyến nghị nhằm bảo đảm, bảo vệ  
quyền lao động của người chuyển giới tại  
Việt Nam  
Thứ nhất, nâng cao nhận thức nhằm  
giảm thiểu, xóa bỏ sự phân biệt về giới, xu  
hướng tính dục và bản dạng giới.  
Những phân tích ở phần trên cho thấy,  
nhận thức của các chủ thể trong xã hội về  
xu hướng tính dục, bản dạng giới hay cụ thể  
hơn về người chuyển giới còn chưa đầy đủ.  
Đây là một trong những nguyên nhân chính  
dẫn đến sự kỳ thị, phân biệt đối xử đối với  
người chuyển giới liên quan đến lao động,  
việc làm. Để khắc phục tình trạng này, các  
cơ quan, tổ chức cần có các giải pháp tuyên  
tuyền, phổ biến pháp luật về quyền của người  
LGBT nói chung và người chuyển giới nói  
riêng thực sự hiệu quả và thiết thực hơn. Bộ  
Tư pháp (cùng một số Bộ khác như: Bộ Lao  
động, Thương binh và Xã hội; Bộ Văn hóa,  
Thể thao và Du lịch…) cần tiếp tục đổi mới  
hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục  
pháp luật về quyền con người, quyền công  
dân. Trong quá trình xây dựng pháp luật liên  
quan đến quyền của người LGBT cần chú  
trọng thực hiện truyền thông chính sách để  
người dân và xã hội hiểu rõ, hiểu đúng về các  
chính sách, quy định mới. Một số đối tượng  
cán bộ liên quan trực tiếp đến các quyền  
của người LGBT (cán bộ xây dựng pháp  
luật, cán bộ hộ tịch, công an, cán bộ cấp xã,  
cán bộ tư pháp…) cũng cần được bổ sung,  
phổ biến các kiến thức đúng đắn về người  
LGBT. Bên cạnh đó, cần xây dựng chương  
trình tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp  
luật dành riêng cho các nhóm đối tượng dễ  
bị tổn thương (trong đó có người LGBT) để  
giúp họ nắm được quyền, nghĩa vụ cũng như  
các cơ chế bảo vệ quyền của mình. Trong  
Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện các quy định  
của pháp luật về bình đẳng giới và chống  
phân biệt đối xử nói chung, trong lĩnh vực  
lao động nói riêng.  
Bình đẳng luôn được coi là nền tảng  
của sự ổn định và tiến bộ của mọi xã hội21.  
Theo tác giả, trước hết nên nghiên cứu, bổ  
sung quan niệm về bình đẳng giới. Như  
đã nêu trong các phần trên, quan niệm  
về bình đẳng giới có tác động rất lớn đến  
việc chống phân biệt đối xử, kỳ thị đối với  
người LGBT nói chung và người chuyển  
giới nói riêng. Hiện nay, ở các nước trên  
thế giới thường có sự ghi nhận về bình  
đẳng giữa các xu hướng tính dục, bản dạng  
giới (ví dụ như cấm sự kỳ thị đồng tính),  
nghĩa là hướng đến sự bình đẳng ngay  
trong cùng một giới. Như vậy, quan niệm  
về bình đẳng giới phải rộng hơn, không chỉ  
bó hẹp trong mối quan hệ bình đẳng giữa  
nam và nữ. Các nước cũng thể hiện thái độ  
khác nhau đối với bình đẳng về xu hướng  
tính dục, ví dụ như có nước cấm sự kỳ thị  
nhưng có nước lại cấm hiện tượng đồng  
tính, cấm tuyên truyền về đồng tính… Việc  
ghi nhận nguyên tắc cấm sự kỳ thị về xu  
hướng tính dục, bản dạng giới là điều hoàn  
toàn phù hợp với xu hướng nhân quyền  
21  
Xem: Võ Khánh Vinh (chủ biên, 2009), Quyền con người: Tiếp cận đa ngành và liên ngành khoa học xã  
hội, tlđd, tr.386.  
10  
Số 20(444) - T10/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
hiện nay. Điều đó sẽ làm cho quan niệm  
về bình đẳng giới được toàn diện hơn nữa.  
qua cái đời mình, chắc tới đời con, đời cháu  
gì rồi” (chuyển giới nam, 18-24 tuổi, Tp.  
Hồ Chí Minh)23.  
Trong thời gian tới, cần sửa đổi Luật  
Bình đẳng giới năm 2006 theo hướng mở  
rộng quan niệm bình đẳng giới đối với vấn  
đề xu hướng tính dục, bản dạng giới. Các  
văn bản luật chuyên ngành trong các lĩnh  
vực (dân sự, lao động, việc làm…) cần  
lồng ghép yếu tố này để góp phần tạo cơ sở  
chống phân biệt đối xử, kỳ thị đối với người  
LGBT nói chung và người chuyển giới nói  
riêng trong xã hội. Pháp luật cần thể hiện cụ  
thể, rõ nét tinh thần không phân biệt đối xử  
dựa trên xu hướng tính dục, bản dạng giới,  
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tất cả  
người lao động; thể hiện qua nội quy lao  
động bắt buộc và được cam kết thực thi một  
cách nghiêm túc, nhất quán.  
Theo chúng tôi, trong bối cảnh hiện nay,  
việc ban hành một luật riêng về chống phân  
biệt đối xử, nghiêm cấm phân biệt đối xử  
dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng  
giới chưa thực sự cần thiết. Sự bất bình  
đẳng, phân biệt đối xử hay kỳ thị trong xã  
hội xuất phát từ rất nhiều lý do khác nhau.  
Nếu ban hành một luật riêng về chống phân  
biệt đối xử dựa trên xu hướng tính dục,  
bản dạng giới sẽ tác động đến nhiều văn  
bản luật tương tự dưới các góc độ dân tộc,  
tôn giáo, tín ngưỡng, tiếng nói… Bên cạnh  
đó, cho dù có quy định bằng một luật riêng  
hay lồng ghép vào các luật chuyên ngành  
khác nhau, điều quan trọng vẫn là nhận thức  
của các chủ thể thi hành pháp luật. Trong  
nhiều trường hợp, mặc dù luật đã nghiêm  
cấm hành vi phân biệt đối xử nhưng tình  
trạng phân biệt đối xử vẫn xảy ra. Chính  
vì vậy, hiện nay, việc nâng cao hiệu quả thi  
hành pháp luật quan trọng hơn việc xem xét  
ban hành một luật riêng. Trong tương lai xa  
hơn, có thể nghiên cứu xây dựng một luật  
chung về phòng, chống phân biệt đối xử  
để xác định các nguyên tắc chung, cơ bản  
cho tất cả mọi lĩnh vực, trong đó có phân  
biệt đối xử về giới tính, xu hướng tính dục  
và bản dạng giới. Trên cơ sở đó, các luật  
chuyên ngành sẽ cụ thể hóa trong từng lĩnh  
vực. Trước mắt, cần sửa đổi khoản 8 Điều 3  
Bộ luật Lao động năm 2019 theo hướng bổ  
sung các yếu tố về xu hướng tính dục, bản  
dạng giới. Theo đó, không được phân biệt  
đối xử vì bất kỳ lý do gì trong lĩnh vực lao  
động, việc làm, nghề nghiệp liên quan đến  
xu hướng tính dục hay bản dạng giới. Đây  
sẽ là cơ sở quan trọng để bảo đảm, bảo vệ  
Theo một khảo sát công bố năm 2016,  
85,4% người được hỏi mong muốn Nhà  
nước ban hành luật chống phân biệt đối xử,  
nghiêm cấm phân biệt đối xử dựa trên xu  
hướng tính dục và bản dạng giới22. Cũng  
theo khảo sát này, khi được hỏi thêm rằng  
họ có nghĩ rằng luật này sẽ hiệu quả trên  
thực tế không, nhiều ý kiến tỏ ra không  
chắc chắn. Có người tin rằng quan điểm  
xã hội chỉ cải thiện khi diễn ra sự thay đổi  
thế hệ, tức là ở tương lai xa: “Em nghĩ Luật  
Chống phân biệt đối xử cũng không (hiệu  
quả) đâu. Cho nên mình vận động thì cứ  
vận động còn nếu không mà đời mình không  
được thì biết đâu thế hệ sau này lớn lên thì  
sẽ không có bị phân biệt đối xử nữa. Nhiều  
khi em nghĩ là tầng lớp già đi rồi lên đường  
rồi, tầng lớp trẻ lớn lên, nhiều khi may ra tư  
tưởng của mấy bạn hiện đại hơn thì cũng có  
thể thay đổi được nhưng mà lúc đó thì cũng  
22 Xem: Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (2016), Báo cáo nghiên cứu “Có phải bởi vì tôi là  
LGBT?” Phân biệt đối xử dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới tại Việt Nam, tlđd, tr.88.  
23 Xem: Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (2016), Báo cáo nghiên cứu “Có phải bởi vì tôi là  
LGBT?” Phân biệt đối xử dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới tại Việt Nam, tlđd, tr.89.  
Số 20(444) - T10/2021  
11  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
quyền của người lao động là người chuyển  
giới trong các nội dung cụ thể của Bộ luật  
Lao động năm 2019.  
Bên cạnh đó, cần nghiên cứu giải quyết  
nhu cầu về việc sử dụng nhà vệ sinh của  
người chuyển giới. Tại Hoa Kỳ, trong vấn  
đề sử dụng nhà vệ sinh, người chuyển giới  
cũng gặp khó khăn trong việc được sử  
dụng nhà vệ sinh đúng với giới tính sau  
khi chuyển giới của mình. Tháng 6/2015,  
Cơ quan quản lý y tế và an toàn lao động  
Hoa Kỳ (OSHA) đã ban hành “Hướng dẫn  
sử dụng nhà vệ sinh cho người lao động  
chuyển giới” gửi đến tất cả doanh nghiệp ở  
Hoa Kỳ25. Theo đó, hạn chế hoặc không cho  
phép người lao động chuyển giới sử dụng  
nhà vệ sinh đúng với giới tính của họ sau  
khi phẫu thuật chuyển giới có thể khiến họ  
cảm thấy bất an; một người nhận dạng là  
đàn ông nên được sử dụng nhà vệ sinh nam,  
và một người được nhận dạng là phụ nữ nên  
sử dụng nhà vệ sinh nữ… Tuy nhiên, OSHA  
cũng thừa nhận việc người chuyển giới nên  
sử dụng nhà vệ sinh nào hiện vẫn là vấn đề  
gây tranh cãi gay gắt tại các trường học và  
doanh nghiệp. Chính vì lẽ đó, OSHA chỉ ra  
văn bản hướng dẫn, theo đó dừng lại ở mức  
“kêu gọi” chứ không phải ra luật hay quy  
định áp đặt tất cả các doanh nghiệp phải  
tuân theo26. Theo chúng tôi, đây là vấn đề  
cần có sự đánh giá tác động kinh tế, xã hội  
và giới cụ thể. Nếu xây dựng nhà vệ sinh  
riêng cho người chuyển giới sẽ phải cân  
nhắc về khả năng kinh tế của chính quyền,  
số lượng và nhu cầu sử dụng của người  
chuyển giới. Cũng cần lưu ý không phải lúc  
nào việc có quy định đặc thù cũng mang lại  
tác động tích cực. Ví dụ, xây dựng nhà vệ  
sinh riêng cho người chuyển giới cũng có  
khả năng khiến người chuyển giới bị chú ý  
Thứ ba, hoàn thiện cơ sở pháp lý về  
vấn đề chuyển đổi giới tính của người  
chuyển giới.  
Hiện nay, nhu cầu đẩy nhanh quá trình  
soạn thảo Luật Chuyển đổi giới tính là rất  
cấp thiết. Trên cơ sở nhận thức đầy đủ vấn  
đề trọng tâm của Luật này là quyền con  
người chứ không đơn thuần chỉ là vấn đề y  
khoa, Luật Chuyển đổi giới tính cần xử lý  
một số vấn đề quan trọng như sau:24 (1) Mức  
độ công nhận người chuyển giới (không can  
thiệp y tế/can thiệp y tế bằng hóc-môn/can  
thiệp y tế bằng phẫu thuật toàn bộ hoặc một  
phần); (2) Điều kiện về độ tuổi của người  
chuyển đổi giới tính; (3) Điều kiện về tình  
trạng hôn nhân của người muốn chuyển  
đổi giới tính; (4) Quy trình chuyển đổi giới  
tính; (5) Số lần được chuyển đổi giới tính;  
(6) Các cơ sở y tế can thiệp chuyển đổi giới  
tính; (7) Công nhận những người đã chuyển  
đổi giới tính trước đây; (8) Chi phí can thiệp  
y tế chuyển đổi giới tính; (9) Tác động đến  
các văn bản pháp luật khác (pháp luật về hộ  
tịch và các giấy tờ pháp lý, pháp luật về thể  
thao, pháp luật về xác định giới tính…).  
Trong tương lai, cẩn sửa đổi tên gọi của  
Điều 37 Bộ luật Dân sự năm 2015 thành  
“Quyền chuyển đổi giới tính” để khẳng định  
rõ ràng đây là quyền của người chuyển giới  
và bảo đảm sự thống nhất trong hệ thống  
các quyền nhân thân. Việc xây dựng cơ sở  
pháp lý đầy đủ về vấn đề chuyển đổi giới  
tính sẽ góp phần tạo điều kiện thuận lợi để  
người chuyển giới hòa nhập với xã hội, góp  
phần hạn chế sự kỳ thị không đáng có, nhất  
là trong đời sống hàng ngày cũng như trong  
quá trình lao động, làm việc…  
hơn và dễ bị kỳ thị hơn  
24 Xem thêm: Trương Hồng Quang (2019), Quyền của người đồng tính, song tính, chuyển giới và liên giới tính  
theo pháp luật Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 135-142.  
25 Xem: A Guide to Restroom Access for Transgender Workers, https://www.dol.gov/sites/dolgov/files/OASP/  
legacy/files/TransgenderBathroomAccessBestPractices.pdf, truy cập ngày 03/6/2021.  
26 Xem: Phúc Duy (2015), Tranh cãi: Người chuyển giới sử dụng nhà vệ sinh nam hay nữ?, tlđd.  
12  
Số 20(444) - T10/2021  
pdf 10 trang Thùy Anh 15920 Free
Bạn đang xem tài liệu "Quyền lao động của người chuyển giới tại Việt Nam hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfquyen_lao_dong_cua_nguoi_chuyen_gioi_tai_viet_nam_hien_nay.pdf