Quyền lao động của người chuyển giới tại Việt Nam hiện nay
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
QUYỀN LAO ĐỘNG CỦA NGƯỜI CHUYỂN GIỚI
TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
Trương Hồng Quang*
*TS. NCVC. Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Ở Việt Nam, người chuyển giới tồn tại khách quan trong đời sống xã hội. Xuất
phát từ đặc điểm về bản dạng giới, người chuyển giới ở nước ta cũng gặp những
hạn chế, khó khăn về vấn đề lao động, việc làm như nhiều quốc gia trên thế giới.
Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích, đánh giá quyền lao động của người
chuyển giới ở Việt Nam hiện nay và đưa ra các khuyến nghị nhằm bảo đảm, bảo
vệ quyền lao động của người chuyển giới.
Từ khoá: Bản dạng giới, chuyển
đổi giới tính, người chuyển
giới, quyền lao động của người
chuyển giới.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 03/6/2021
: 14/7/2021
: 16/7/2021
Article Infomation:
Abstract: In Vietnam, the existence of transgenders is objective in social
life. Deriving from the characteristics of gender identity, the transgender in our
country also faces barriers and obstacles in job seeking and employment matters
like several countries in the world. Within the scope of this article, the author
provides an analysis and assessment of the working rights of the transgenders in
Vietnam and also gives out recommendations to ensure and protect the working
rights of transgenders.
Keywords:
Gender identity;
gender transition; transgender,
working rights to transgender.
Article History:
Received
Edited
: 03 Jun. 2021
: 14 Jul. 2021
: 16 Jul. 2021
Approved
1. Dẫn nhập
lý thuyết về bản dạng giới (gender identity)
Khác với người đồng tính1 hay người
song tính2, người chuyển giới (transgender)
là người tự nhận (theo ý thức cá nhân -
personal sense) mình mang giới tính khác
với giới tính sinh học khi được sinh ra. Các
sẽ giải thích các vấn đề liên quan đến người
chuyển giới. Thuật ngữ bản dạng giới được
hiểu là việc một người tự nhận mình mang
một giới tính nào (có thể giống hoặc khác
với giới tính sinh học khi được sinh ra)3.
1 Người có tình cảm, cảm xúc với người cùng giới tính.
2 Người có tình cảm, cảm xúc với cả người khác giới tính và người cùng giới tính.
3 Xem: American Psychological Association (2012), Guidelines for Psychological Practice with Lesbian, Gay,
and Bisexual Clients, American Psychologist, Vol. 67, No. 1, p. 10-42.
Số 20(444) - T10/2021
3
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Lý thuyết “Transgender Emergence Model”
được Arlene Istar Lev đưa ra năm 2004 đã
đề xuất một mô hình gồm bốn phần về giới4.
Mô hình này giải thích giới bao gồm giới
tính sinh học, bản dạng giới, thể hiện giới
và xu hướng tính dục; trong đó, bản dạng
giới không bị kiểm soát bởi giới tính sinh
học. Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý (Social
Exchange Theory) được George Homans
đưa ra năm 19585 dựa vào tiền đề cho rằng,
con người luôn hành động một cách có chủ
đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các
nguồn lực một cách duy lý nhằm đạt được
kết quả tối đa với chi phí tối thiểu. Như vậy,
với lý thuyết này, sự lựa chọn công khai bản
dạng giới hay quyết định phẫu thuật chuyển
đổi giới tính của người chuyển giới… có
thể được lý giải một cách minh bạch.
niệm này vẫn được hiểu lẫn lộn, gây lúng
túng ngay cả với những người trong cuộc
khi không thể xác định bản dạng giới của
mình. Nhìn chung, “transgender” là một
thuật ngữ có nội hàm rất rộng6.
Đối với người chuyển giới, họ phải đối
mặt với sự kỳ thị từ xã hội nặng nề hơn so với
người đồng tính hay song tính. Một nguyên
nhân rất quan trọng của tình trạng này là do
phần đông người chuyển giới không thể che
giấu bản dạng giới của mình (ví dụ, người
chuyển giới từ nam sang nữ thường hay cải
trang thành nữ, dùng son phấn...) nên bị lộ
nhiều hơn so với người đồng tính. Nhiều
người chuyển giới đã phẫu thuật chuyển
giới nhưng chưa được pháp luật và xã hội
thừa nhận nên khó tiếp cận với các dịch vụ
y tế, khó kiếm việc làm...
Phân tích những lý thuyết xoay quanh
bản dạng giới cho thấy, các xu hướng về bản
dạng giới là điều hoàn toàn tự nhiên trong
xã hội. Do vậy, nếu một người có nhận thức,
mong muốn có giới tính khác với giới tính
khi sinh ra thì cũng là điều bình thường. Sau
khi thực hiện phẫu thuật, người chuyển giới
được gọi với một khái niệm đầy đủ hơn là
“người chuyển đổi giới tính” (transsexual).
Có hai dạng người chuyển giới là: người
chuyển giới nam sang nữ (male to female)
và người chuyển giới nữ sang nam (female
to male). Mặc dù, người chuyển giới và
chuyển đổi giới tính tồn tại ở mọi xã hội,
mọi nơi trên thế giới, nhưng những khái
Ở Việt Nam, tương tự như người đồng
tính (và song tính), cũng thật khó để biết
được chính xác số lượng người chuyển giới,
đặc biệt khi khái niệm chuyển giới không
chỉ khuôn gọn vào những người đã phẫu
thuật, mà cả những người có cảm nhận rõ
ràng về giới tính thực của mình khác với
giới tính sinh học, và có xu hướng/mong
muốn được chuyển đổi, mặc dù trên thực tế
điều đó có thể chưa và không bao giờ xảy
ra7. Theo một số nghiên cứu, những năm
gần đây, người chuyển giới ở Việt Nam
đang ngày càng hiện diện rõ nét8. Về địa
bàn sinh sống, theo một khảo sát công bố
năm 2017, trong số 408 người chuyển giới,
4 Xem:ArleneIstarLev(2004), TransgenderEmergence:UnderstandingDiverseGenderIdentitiesandExpressions,
http://www.choicesconsulting.com/assets/pro_writing/transgender%5B1%5D.pdf, truy cập ngày 01/6/2021.
5 Xem: Social Exchange Theory,
6
Xem: Lori Chambers (2007), “Unprincipled exclusions: Feminist Theory, transgender jurisprufdence, and
Kimberly Nixon”, Canadian Journal off Woman and the Law, Volume 19, Number 2, p.305-334.
7 Xem: Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (2012), Báo cáo nghiên cứu “Người chuyển giới ở Việt
Nam - Những vấn đề thực tiễn và pháp lý”, Hà Nội, tr.14.
8
Xem: Lê Bảo (2018), Đảm bảo quyền cho người chuyển giới: Cần những điều chỉnh phù hợp, http://
daidoanket.vn/xa-hoi/dam-bao-quyen-cho-nguoi-chuyen-gioi-can-nhung-dieu-chinh-phu-hop-tintuc418341,
truy cập ngày 01/6/2021.
4
Số 20(444) - T10/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
phần lớn hiện đang sống tại các vùng đô thị,
thành phố lớn, tập trung chủ yếu tại thành
phố Hồ Chí Minh (42,9%) và thành phố Hà
Nội (19%)9. Các rào cản về mặt xã hội, văn
hóa và pháp lý đang đặt người chuyển giới
trở thành nhóm dễ bị tổn thương. Họ bị bắt
nạt, kỳ thị và phân biệt đối xử ở chính gia
đình và cộng đồng. Cơ hội tiếp cận việc
làm và y tế của họ cũng bị giới hạn. Trong
khi các dịch vụ y tế, pháp lý và xã hội cho
người dân nói chung đang ngày càng cải
thiện, nhưng dịch vụ dành riêng cho người
chuyển giới hầu như không có.
động, Hiến pháp năm 2013 quy định người
làm công ăn lương được bảo đảm các điều
kiện làm việc công bằng, an toàn; được
hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi; nghiêm
cấm phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động
(khoản 2, 3 Điều 35); Nhà nước bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động,
người sử dụng lao động và tạo điều kiện xây
dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và
ổn định (khoản 2 Điều 57). Trước đây, Bộ
luật Lao động năm 2012 nghiêm cấm hành
vi phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc,
màu da, thành phần xã hội, tình trạng hôn
nhân, tín ngưỡng, tôn giáo, nhiễm HIV/
AIDS, khuyết tật hoặc vì lý do thành lập,
gia nhập và hoạt động công đoàn; ngược đãi
người lao động, quấy rối tình dục tại nơi
làm việc (khoản 1, 2 Điều 8). Có thể nhận
thấy, nếu như Hiến pháp năm 2013 quy định
chung về “nghiêm cấm phân biệt đối xử”
thì Bộ luật Lao động năm 2012 quy định
“nghiêm cấm hành vi phân biệt đối xử về
giới tính, dân tộc,...”.Hiện nay, Bộ luật Lao
động năm 2019 nghiêm cấm “phân biệt đối
xử trong lao động” (khoản 1 Điều 8); khoản
8 Điều 3 Bộ luật này quy định phân biệt đối
xử trong lao động là hành vi phân biệt, loại
trừ hoặc ưu tiên dựa trên chủng tộc, màu
da, nguồn gốc quốc gia hoặc nguồn gốc xã
hội, dân tộc, giới tính,... có tác động làm
ảnh hưởng đến bình đẳng về cơ hội việc
làm hoặc nghề nghiệp. Như vậy, hành vi
bị nghiêm cấm bởi Bộ luật Lao động năm
2019 có tính khái quát cao hơn so với Bộ
luật Lao động năm 2012 nhưng trong cả 2
bộ luật này, lý do để phân biệt đối xử chưa
bao phủ hết các đối tượng người LGBT
(trong đó có người chuyển giới) vì nếu nói
đến giới tính là về vấn đề nam/nữ, trong khi
2. Quyền lao động của người chuyển giới
ở Việt Nam hiện nay
Trước hết, về quyền bình đẳng, không bị
phân biệt đối xử trong đời sống chính trị,
dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội của người
chuyển giới.
Bình đẳng là các nhu cầu và lợi ích cơ
bản (về tinh thần và vật chất) của loài người
đều tồn tại ở mỗi người10. Hiến pháp năm
2013 và pháp luật Việt Nam chưa có quy
định riêng về quyền bình đẳng, không phân
biệt đối xử dựa trên các vấn đề về xu hướng
tính dục và bản dạng giới. Các quy định
về quyền này thường quy định chung cho
các đối tượng trong xã hội. Hiến pháp năm
2013 quy định mọi người đều bình đẳng
trước pháp luật, không ai bị phân biệt đối
xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh
tế, văn hóa, xã hội (Điều 16). Như vậy,
quyền bình đẳng trước pháp luật, không bị
phân biệt đối xử được áp dụng cho tất cả
mọi người (trong đó có cả người đồng tính,
song tính, chuyển giới (LGBT) nói chung
và người chuyển giới nói riêng).
Cụ thể hơn, trong lĩnh vực pháp luật lao
9 Xem: Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (2017), Báo cáo nghiên cứu “Hiện trạng trải nghiệm
y tế và nhu cầu chuyển đổi giới tính của người chuyển giới ở Việt Nam”, Hà Nội, tr.21.
10 Xem: Võ Khánh Vinh (chủ biên), Quyền con người: Tiếp cận đa ngành và liên ngành khoa học xã hội, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội, 2009, tr.18.
Số 20(444) - T10/2021
5
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
đó đối tượng LGBT liên quan đến vấn đề xu
hướng tính dục,11 bản dạng giới (họ có thể
là nam/nữ nhưng xu hướng tính dục hoặc
bản dạng giới có thể khác nhau).
Thứ hai, Hiến pháp năm 2013 và pháp
luật lao động quy định về quyền lao
động (học nghề, tìm kiếm việc làm, lựa
chọn nghề nghiệp, tuyển dụng…) chung
cho mọi người trong xã hội. Ví dụ, theo
Bộ luật Lao động năm 2019, người lao
động có quyền làm việc; tự do lựa chọn
việc làm, nơi làm việc, nghề nghiệp, học
nghề, nâng cao trình độ nghề nghiệp;
không bị phân biệt đối xử, cưỡng bức
lao động, quấy rối tình dục tại nơi làm
việc (điểm a khoản 1 Điều 5); người lao
động làm việc không trọn thời gian được
hưởng lương; bình đẳng trong thực hiện
quyền và nghĩa vụ với người lao động
làm việc trọn thời gian; bình đẳng về cơ
hội, không bị phân biệt đối xử, bảo đảm
an toàn, vệ sinh lao động (khoản 3, Điều
32)... Trong lĩnh vực có liên quan, hành
vi phân biệt đối xử về giới tính… trong
tuyển, quản lý lao động bị phạt tiền từ
5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng
(khoản 2 Điều 7 Nghị định số 28/2020/
NĐ-CP ngày 01/3/2020 của Chính phủ
quy định xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội,
đưa người lao động Việt Nam đi làm việc
ở nước ngoài theo hợp đồng). Như vậy,
pháp luật hiện hành của nước ta không
bao hàm quy định đặc thù riêng liên quan
đến quyền lao động của người chuyển
giới nói riêng và người LGBT nói chung.
Điều này có khả năng dẫn đến việc quyền
lao động của người chuyển giới sẽ không
được bảo đảm.
Bên cạnh đó, cơ sở pháp lý về bình đẳng
giới nói chung cho đến nay vẫn chưa thực
sự đầy đủ. Theo Luật Bình đẳng giới năm
2006 và các văn bản pháp luật liên quan,
hoạt động bình đẳng giới hướng đến mục
tiêu tạo sự ngang bằng giữa nam và nữ về
mọi mặt, trong đó tạo một số điều kiện để
nữ giới được phát huy khả năng của bản
thân. Tác giả cho rằng, quan niệm này đúng
nhưng dường như chưa đầy đủ, chưa đáp
ứng được xu hướng phát triển về giới hiện
nay. Mặc dù thuật ngữ gender (giới tính)
là khái niệm rộng, nhưng hiện tại chỉ mới
được hiểu ở mức độ biological sex/gender
(giới tính sinh học) mà chưa có sự ghi nhận
bình đẳng giữa những xu hướng tính dục,
bản dạng giới khác nhau. Nếu không ghi
nhận việc cấm phân biệt đối xử dựa trên
xu hướng tính dục, bản dạng giới thì pháp
luật sẽ ít nhiều mất đi giá trị xã hội vốn có
của nó. Bình đẳng giới cần đề cập đến sự
bình đẳng ngay trong một giới (giữa các xu
hướng tính dục, bản dạng giới). Quan niệm
bình đẳng giới bị bó hẹp như hiện nay có
thể dẫn đến khả năng người LGBT bị kỳ thị,
phân biệt đối xử trong nhiều lĩnh vực (đời
sống, lao động, việc làm…).
Nhìn chung, các yếu tố về xu hướng tính
dục hay bản dạng giới chưa được đề cập/thể
hiện rõ nét trong các quy định về quyền bình
đẳng, không bị phân biệt đối xử trong đời
sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã
hội ở nước ta. Điều đó khiến cho cơ sở pháp
lý để bảo vệ quyền của người LGBT nói
chung và quyền lao động của người chuyển
giới nói riêng chưa thực sự chắc chắn.
Thứ ba, vấn đề chuyển đổi giới tính của
người chuyển giới.
Trước đây, trong quá trình xây dựng
Bộ luật Dân sự năm 2005, vấn đề chuyển
đổi giới tính đã được đề cập12 nhưng
11 Chỉ việc một người có tình cảm, cảm xúc với người có cùng giới tính/khác giới tính/cả hai giới tính.
12 Xem: Hồng Khánh (2006), Người chuyển đổi giới tính phải được thừa nhận, https://vnexpress.net/tin-tuc/
thoi-su/nguoi-chuyen-doi-gioi-tinh-phai-duoc-thua-nhan-2072247.html, truy cập ngày 01/6/2021.
6
Số 20(444) - T10/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
chưa được quy định. Bộ luật Dân sự năm
2015 đã ghi nhận vấn đề chuyển đổi giới
tính trong phần Quyền nhân thân (Điều
37): “Việc chuyển đổi giới tính được thực
hiện theo quy định của luật. Cá nhân đã
chuyển đổi giới tính có quyền, nghĩa vụ
đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của
pháp luật về hộ tịch; có quyền nhân thân
phù hợp với giới tính đã được chuyển đổi
theo quy định của Bộ luật này và luật
khác có liên quan”. Có thể thấy, đây là
một bước tiến lớn trong tư duy lập pháp
về quyền con người, quyền công dân.
Điều này phản ánh sự đáp ứng kịp thời
nhu cầu thực tiễn của đời sống xã hội
của pháp luật nước ta. Khác với vấn đề
quyền kết hôn của cặp đôi cùng giới, vấn
đề chuyển giới có những nét riêng biệt
cần được ghi nhận. Ví dụ, nhiều công dân
Việt Nam đã ra nước ngoài phẫu thuật và
quay về Việt Nam sống, gặp nhiều khó
khăn trong cuộc sống; một số trường hợp
bị xâm hại tình dục mà không được bảo
vệ thích đáng; không được thay đổi giấy
tờ cá nhân nên khó khăn trong một số
công việc hàng ngày; nhiều trường hợp
phẫu thuật “chui” nên gặp rủi ro về y tế,
tính mạng…
hành Bộ luật Dân sự năm 2015, quy định
tại Điều 37 của Bộ luật này vẫn chưa
được hiện thực hóa.
Theo một nghiên cứu công bố năm
201713, trong số 408 người chuyển giới
tham gia khảo sát thì có 35 người (chiếm
8,6%) đã từng trải qua ít nhất một lần phẫu
thuật chuyển đổi giới tính. Trong số 35
người này, 28,6% được khám đánh giá,
nhưng chưa được làm đầy đủ, thoả đáng
theo như họ mong muốn; 2% cho biết
không được khám đánh giá trước phẫu
thuật; 14,3% không nhận được chăm sóc
và tư vấn hậu phẫu, 25,7% có nhận được
dịch vụ này tuy nhiên không cảm thấy hài
lòng; 60% cho biết họ nhận được khám
và tư vấn tâm lý đầy đủ sau phẫu thuật;
71,4% cho biết sau khi phẫu thuật, họ gặp
rắc rối liên quan đến giấy tờ tùy thân, do
ngoại hình thật không khớp với thông tin
và hình ảnh trên giấy tờ; 14,3% nhận thấy
sức khỏe giảm sút sau khi phẫu thuật. Với
chi phí can thiệp y học rất cao, nhiều người
đã tìm đến các dịch vụ chui giá thấp và
chính họ gặp không ít rủi ro.
Có thể thấy, việc chưa có một hành lang
pháp lý đầy đủ về chuyển đổi giới tính đã
dẫn đến khá nhiều hệ quả. Vấn đề chuyển
đổi giới tính vẫn đang bị “treo” và nhiều
người chuyển giới đã phẫu thuật trước đây
vẫn tiếp tục sống trong tình trạng giấy tờ
nhân thân khác với cơ thể hiện tại, vẫn có
thể bị xâm phạm tình dục nhưng chưa được
bảo vệ thích đáng, gặp khó khăn trong việc
thực hiện một số thủ tục hành chính/dịch
vụ công... Nhiều người chuyển giới vẫn
chưa được thực hiện quyền của mình, gặp
nhiều khó khăn trong cuộc sống cũng như
Theo Kế hoạch triển khai thi hành Bộ
luật Dân sự năm 2015 (ban hành kèm
theo Quyết định số 243/QĐ-TTg ngày
05/02/2016 của Thủ tướng Chính phủ),
Bộ Y tế được giao “nghiên cứu, đề nghị
xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về
chuyển đổi giới tính” (mục II.4b), thực
hiện trong năm 2016 và năm 2017. Như
vậy, cho đến nay, sau hơn bốn năm thi
13 Xem: Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (2017), Báo cáo nghiên cứu “Hiện trạng trải nghiệm
y tế và nhu cầu chuyển đổi giới tính của người chuyển giới ở Việt Nam”, tlđd, tr. 8-9.
Số 20(444) - T10/2021
7
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
trong việc thực hiện các quyền lao động,
làm việc…14
cụm trong cộng đồng nhỏ bé của mình. Về
cơ hội việc làm, khác với người đồng tính,
với việc khao khát được chuyển đổi giới
tính nên người chuyển giới thường có vẻ bề
ngoài, ăn mặc khác với giới tính mình đang
có. Từ đó, người chuyển giới thường khó có
cơ hội xin việc làm do bị kỳ thị.
Thứ tư, thực tiễn thực hiện quyền lao
động của người chuyển giới.
Để tìm hiểu bức tranh toàn diện về
thực tiễn quyền lao động của người
chuyển giới tương đối khó khăn và cần
những nghiên cứu chuyên sâu với quy mô
lớn. Tác giả tập trung làm rõ một số điểm
trong bức tranh toàn cảnh đã được phản
ánh thời gian qua.
“Điều quan trọng khi nói ra điều này
mình mong mọi người có thể hiểu rằng
người chuyển giới ở Việt Nam vốn rất khó
tìm được một công việc mà xã hội gọi là “tử
tế”. Thời buổi hiện tại một nam thanh niên,
nữ thanh niên đi xin việc đã khó, huống chi
một người chuyển giới, mà còn là chuyển
giới nữ. Đã có lần mình được nhận vào
làm việc nhưng sau khi biết mình là người
chuyển giới, công ty đã tìm lý do để sa thải.
Khi không tìm được một công việc ổn định
cuộc sống của người chuyển giới gặp rất
nhiều khó khăn và họ buộc phải đi làm
những công việc có phần thấp kém. Bởi vì
hầu hết người chuyển giới đều không nhận
được sự hậu thuẫn từ gia đình” (Tâm sự
của HySa B - Miss Beauty 2015)17.
Thực tế cho thấy, người chuyển giới có
thể thuộc nhiều nhóm, thành phần xã hội
với khá nhiều công việc khác nhau. Nhiều
người trong số họ đã đóng góp tích cực cho
sự phát triển chung của xã hội15. Mặc dù có
thể gặp nhiều khó khăn tìm kiếm việc làm
và sự phân biệt đối xử ở nơi làm việc nhưng
nhiều người chuyển giới có bằng đại học
luôn muốn làm ở các công ty để chứng tỏ
bản thân trong môi trường chuyên nghiệp16.
Họ cho rằng, việc là người chuyển giới có
tác động tích cực đến cuộc sống của họ, dạy
họ phải tin tưởng vào bản thân, có tham
vọng và bền chí.
Số liệu khảo sát trực tuyến đối với 2363
người LGBT khi mọi người xung quanh biết
họ là LGBT cho thấy: trong lĩnh vực việc
làm, 29,9% bị từ chối nhận vào làm trong
khi đủ điều kiện; 8,8% bị đuổi việc; 48,4%
nghe, nhìn thấy những nhận xét, hành động
tiêu cực từ đồng nghiệp… Đặc biệt, tỷ lệ
người chuyển giới bị từ chối khi xin việc
Tuy nhiên, trong thực tế, môi trường lao
động của người chuyển giới ở nước ta vẫn
tồn tại những hạn chế nhất định, đặc biệt
đối với khu vực lao động phi chính thức.
Nhiều người chuyển giới vừa bị kỳ thị của
xã hội và của chính cộng đồng LGBT, vừa
không xin được việc làm nên thường co
14
moha.gov.vn/congtaccanbonu/binhdanggioi/nguoi-chuyen-gioi-mong-som-ban-hanh-luat-chuyen-doi-gioi-
tinh-39697.html, ngày 26/9/2018; Tâm Lụa (2019), Quyền chuyển đổi giới tính: 4 năm “treo” hướng dẫn,
phát sinh nhiều hệ lụy, https://tuoitre.vn/quyen-chuyen-doi-gioi-tinh-4-nam-treo-huong-dan-phat-sinh-nhieu-
he-luy-1506320.htm, ngày 12/6/2019…
15 Xem: Người chuyển giới làm những nghề gì? Bộ ảnh này sẽ cho bạn câu trả lời, tlđd.
16 Xem: Nhữ Trang (2015), Người chuyển giới: Gian nan cơ hội tìm việc làm, https://dantri.com.vn/doi-song/
nguoi-chuyen-gioi-gian-nan-co-hoi-tim-viec-lam-20150930080432321.htm, truy cập ngày 01/6/2021.
17 Xem: Nguyễn Toàn (2018), Hoa hậu chuyển giới Việt Nam đầu tiên sau hơn 2 năm đăng quang: “Ai cũng
nghĩ sau Miss Beauty thì đời mình lên mây”, http://kenh14.vn, truy cập ngày 01/6/2021.
8
Số 20(444) - T10/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
(59%) cao gấp ba lần so với nhóm đồng
tính và song tính (19,6%)18. Theo nghiên
cứu “Sinh kế với người chuyển giới” (công
bố năm 2015) do Trung tâm Sáng kiến Sức
khỏe và Dân số Việt Nam và Viện nghiên
cứu phát triển Vương Quốc Anh tại Tp. Hà
Nội, Tp. Hồ Chí Minh - khu vực được đánh
giá tập trung đông đảo nhất người chuyển
giới - với 197 người chuyển giới nam và
nữ cho thấy, hầu hết người chuyển giới gặp
phải rất nhiều khó khăn trong vấn đề tìm
kiếm việc làm cũng như sự phân biệt, kỳ
thị tại nơi làm việc. Qua tâm sự, nghiên
cứu thực tế, nhóm nghiên cứu đã nhận thấy
có sự khác biệt về vấn đề việc làm của
người chuyển giới. Hơn 30% người tham
gia cho biết đã từng nghỉ việc do là người
chuyển giới. Hơn một nửa số này đã từng
phải nghỉ việc từ hai lần trở lên. Gần 50%
người chuyển giới có thu nhập chính từ một
công việc hoàn toàn bán thời gian, 21 % có
tích lũy, 28% đủ chi tiêu, 25% có thu nhập
nhưng không đủ chi tiêu và khoảng 26%
hoàn toàn không có thu nhập.
hay làm là để mua vui cho người khác (hát
đám ma, phục vụ quán bar, vũ trường hay
đi bán dâm…). Đặc biệt, đối tượng trẻ em
đường phố là người chuyển giới đi làm các
công việc này thường gặp những rủi ro rất
lớn cho bản thân. Từ đó, người chuyển
giới thường có nhiều rủi ro về mặt sức
khỏe. Một mặt, do bị kỳ thị, xa lánh nên
họ thiếu kiến thức về quan hệ tình dục, dễ
bị lây nhiễm các căn bệnh khó chữa. Mặt
khác, người chuyển giới ở Việt Nam, đặc
biệt là những người làm các nghề như hát
đám ma, bán dâm, lang thang… thường bị
ảnh hưởng sức khỏe rất nhiều do công việc
hoặc bị lạm dụng.
Một điểm cũng cần quan tâm là, trong
quá trình lao động, làm việc nói riêng hay
trong cuộc sống nói chung, nhiều người
chuyển giới cũng có nhu cầu được sử dụng
nhà vệ sinh đúng với giới tính (đã can thiệp
y tế để chuyển đổi giới tính) hoặc nhà vệ
sinh trung tính (có thể dùng chung cho cả
nam, nữ), nhà vệ sinh dành riêng cho người
chuyển giới. Đây là vấn đề liên quan đến an
toàn lao động của người chuyển giới. Tuy
nhiên, xử lý nhu cầu này như thế nào vẫn là
vấn đề còn gây tranh luận trên thế giới cũng
như ở Việt Nam20.
Một nghiên cứu về người chuyển giới nữ
sinh sống và làm việc tại Tp. Hồ Chí Minh
cho thấy, 45% bị từ chối việc làm do phân
biệt đối xử dựa trên bản dạng giới19. Điều
này phần nào giải thích cho thực tế chỉ có
4% những người tham gia khảo sát có các
việc làm ở khu vực chính thức (có hợp đồng
lao động và được hưởng các chế độ, lợi ích
của người lao động) và có tới 13% kiếm
sống bằng nghề mại dâm.
Có thể nhận thấy, mức độ nhận thức của
xã hội về người LGBT nói chung và người
chuyển giới nói riêng đôi khi chưa thực sự
đầy đủ, tích cực nên đã dẫn đến sự kỳ thị
đối với người LGBT, cho rằng đây là những
người không bình thường, đi ngược lại tự
nhiên. Do vậy, mặc dù Hiến pháp và pháp
luật đã ghi nhận quyền bình đẳng, không bị
phân biệt đối xử cho mọi người nói chung
và người LGBT nói riêng nhưng vẫn chưa
Đối với những người chuyển giới chưa
qua phẫu thuật, nếu họ sống công khai,
lộ thân phận thì cũng khó có cơ hội việc
làm. Một số nghề mà người chuyển giới
18 Xem: Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (2016), Báo cáo nghiên cứu “Có phải bởi vì tôi là LGBT?”
Phân biệt đối xử dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới tại Việt Nam, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, tr. 45-74.
19
Xem: Hội thảo về sửa đổi Bộ luật Lao động - Các vấn đề liên quan đến cộng đồng LGBTIQ, https://
vietnammoi.vn/xin-viec-con-ac-mong-doi-voi-nguoi-chuyen-gioi-53144.htm, truy cập ngày 01/6/2021.
20 Xem: Phúc Duy (2015), Tranh cãi người chuyển giới sử dụng nhà vệ sinh nam hay nữ? https://thanhnien.vn/
tranh-cai-nguoi-chuyen-gioi-su-dung-nha-ve-sinh-nam-hay-nu-post521066.html
Số 20(444) - T10/2021
9
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
được hiện thực hóa trong thực tế, ở đây là
lĩnh vực lao động, việc làm.
giáo dục và đào tạo, cần tiếp tục mở rộng
nội dung của các chương trình giáo dục giới
tính (đặc biệt cho học sinh phổ thông, sinh
viên). Theo đó, cần thông tin, giáo dục các
vấn đề về xu hướng tính dục và bản dạng
giới để góp phần định hướng nhận thức đúng
đắn cho học sinh, sinh viên nói riêng và giới
trẻ nói chung. Ngoài ra, cần phổ biến các
kiến thức khoa học chính thống về xu hướng
tính dục, bản dạng giới, đồng tính, chuyển
giới… cho các cơ quan, tổ chức, người dân,
gia đình, xã hội và đặc biệt là các cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh và cán bộ ngành y tế…
3. Khuyến nghị nhằm bảo đảm, bảo vệ
quyền lao động của người chuyển giới tại
Việt Nam
Thứ nhất, nâng cao nhận thức nhằm
giảm thiểu, xóa bỏ sự phân biệt về giới, xu
hướng tính dục và bản dạng giới.
Những phân tích ở phần trên cho thấy,
nhận thức của các chủ thể trong xã hội về
xu hướng tính dục, bản dạng giới hay cụ thể
hơn về người chuyển giới còn chưa đầy đủ.
Đây là một trong những nguyên nhân chính
dẫn đến sự kỳ thị, phân biệt đối xử đối với
người chuyển giới liên quan đến lao động,
việc làm. Để khắc phục tình trạng này, các
cơ quan, tổ chức cần có các giải pháp tuyên
tuyền, phổ biến pháp luật về quyền của người
LGBT nói chung và người chuyển giới nói
riêng thực sự hiệu quả và thiết thực hơn. Bộ
Tư pháp (cùng một số Bộ khác như: Bộ Lao
động, Thương binh và Xã hội; Bộ Văn hóa,
Thể thao và Du lịch…) cần tiếp tục đổi mới
hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục
pháp luật về quyền con người, quyền công
dân. Trong quá trình xây dựng pháp luật liên
quan đến quyền của người LGBT cần chú
trọng thực hiện truyền thông chính sách để
người dân và xã hội hiểu rõ, hiểu đúng về các
chính sách, quy định mới. Một số đối tượng
cán bộ liên quan trực tiếp đến các quyền
của người LGBT (cán bộ xây dựng pháp
luật, cán bộ hộ tịch, công an, cán bộ cấp xã,
cán bộ tư pháp…) cũng cần được bổ sung,
phổ biến các kiến thức đúng đắn về người
LGBT. Bên cạnh đó, cần xây dựng chương
trình tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp
luật dành riêng cho các nhóm đối tượng dễ
bị tổn thương (trong đó có người LGBT) để
giúp họ nắm được quyền, nghĩa vụ cũng như
các cơ chế bảo vệ quyền của mình. Trong
Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện các quy định
của pháp luật về bình đẳng giới và chống
phân biệt đối xử nói chung, trong lĩnh vực
lao động nói riêng.
Bình đẳng luôn được coi là nền tảng
của sự ổn định và tiến bộ của mọi xã hội21.
Theo tác giả, trước hết nên nghiên cứu, bổ
sung quan niệm về bình đẳng giới. Như
đã nêu trong các phần trên, quan niệm
về bình đẳng giới có tác động rất lớn đến
việc chống phân biệt đối xử, kỳ thị đối với
người LGBT nói chung và người chuyển
giới nói riêng. Hiện nay, ở các nước trên
thế giới thường có sự ghi nhận về bình
đẳng giữa các xu hướng tính dục, bản dạng
giới (ví dụ như cấm sự kỳ thị đồng tính),
nghĩa là hướng đến sự bình đẳng ngay
trong cùng một giới. Như vậy, quan niệm
về bình đẳng giới phải rộng hơn, không chỉ
bó hẹp trong mối quan hệ bình đẳng giữa
nam và nữ. Các nước cũng thể hiện thái độ
khác nhau đối với bình đẳng về xu hướng
tính dục, ví dụ như có nước cấm sự kỳ thị
nhưng có nước lại cấm hiện tượng đồng
tính, cấm tuyên truyền về đồng tính… Việc
ghi nhận nguyên tắc cấm sự kỳ thị về xu
hướng tính dục, bản dạng giới là điều hoàn
toàn phù hợp với xu hướng nhân quyền
21
Xem: Võ Khánh Vinh (chủ biên, 2009), Quyền con người: Tiếp cận đa ngành và liên ngành khoa học xã
hội, tlđd, tr.386.
10
Số 20(444) - T10/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
hiện nay. Điều đó sẽ làm cho quan niệm
về bình đẳng giới được toàn diện hơn nữa.
qua cái đời mình, chắc tới đời con, đời cháu
gì rồi” (chuyển giới nam, 18-24 tuổi, Tp.
Hồ Chí Minh)23.
Trong thời gian tới, cần sửa đổi Luật
Bình đẳng giới năm 2006 theo hướng mở
rộng quan niệm bình đẳng giới đối với vấn
đề xu hướng tính dục, bản dạng giới. Các
văn bản luật chuyên ngành trong các lĩnh
vực (dân sự, lao động, việc làm…) cần
lồng ghép yếu tố này để góp phần tạo cơ sở
chống phân biệt đối xử, kỳ thị đối với người
LGBT nói chung và người chuyển giới nói
riêng trong xã hội. Pháp luật cần thể hiện cụ
thể, rõ nét tinh thần không phân biệt đối xử
dựa trên xu hướng tính dục, bản dạng giới,
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tất cả
người lao động; thể hiện qua nội quy lao
động bắt buộc và được cam kết thực thi một
cách nghiêm túc, nhất quán.
Theo chúng tôi, trong bối cảnh hiện nay,
việc ban hành một luật riêng về chống phân
biệt đối xử, nghiêm cấm phân biệt đối xử
dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng
giới chưa thực sự cần thiết. Sự bất bình
đẳng, phân biệt đối xử hay kỳ thị trong xã
hội xuất phát từ rất nhiều lý do khác nhau.
Nếu ban hành một luật riêng về chống phân
biệt đối xử dựa trên xu hướng tính dục,
bản dạng giới sẽ tác động đến nhiều văn
bản luật tương tự dưới các góc độ dân tộc,
tôn giáo, tín ngưỡng, tiếng nói… Bên cạnh
đó, cho dù có quy định bằng một luật riêng
hay lồng ghép vào các luật chuyên ngành
khác nhau, điều quan trọng vẫn là nhận thức
của các chủ thể thi hành pháp luật. Trong
nhiều trường hợp, mặc dù luật đã nghiêm
cấm hành vi phân biệt đối xử nhưng tình
trạng phân biệt đối xử vẫn xảy ra. Chính
vì vậy, hiện nay, việc nâng cao hiệu quả thi
hành pháp luật quan trọng hơn việc xem xét
ban hành một luật riêng. Trong tương lai xa
hơn, có thể nghiên cứu xây dựng một luật
chung về phòng, chống phân biệt đối xử
để xác định các nguyên tắc chung, cơ bản
cho tất cả mọi lĩnh vực, trong đó có phân
biệt đối xử về giới tính, xu hướng tính dục
và bản dạng giới. Trên cơ sở đó, các luật
chuyên ngành sẽ cụ thể hóa trong từng lĩnh
vực. Trước mắt, cần sửa đổi khoản 8 Điều 3
Bộ luật Lao động năm 2019 theo hướng bổ
sung các yếu tố về xu hướng tính dục, bản
dạng giới. Theo đó, không được phân biệt
đối xử vì bất kỳ lý do gì trong lĩnh vực lao
động, việc làm, nghề nghiệp liên quan đến
xu hướng tính dục hay bản dạng giới. Đây
sẽ là cơ sở quan trọng để bảo đảm, bảo vệ
Theo một khảo sát công bố năm 2016,
85,4% người được hỏi mong muốn Nhà
nước ban hành luật chống phân biệt đối xử,
nghiêm cấm phân biệt đối xử dựa trên xu
hướng tính dục và bản dạng giới22. Cũng
theo khảo sát này, khi được hỏi thêm rằng
họ có nghĩ rằng luật này sẽ hiệu quả trên
thực tế không, nhiều ý kiến tỏ ra không
chắc chắn. Có người tin rằng quan điểm
xã hội chỉ cải thiện khi diễn ra sự thay đổi
thế hệ, tức là ở tương lai xa: “Em nghĩ Luật
Chống phân biệt đối xử cũng không (hiệu
quả) đâu. Cho nên mình vận động thì cứ
vận động còn nếu không mà đời mình không
được thì biết đâu thế hệ sau này lớn lên thì
sẽ không có bị phân biệt đối xử nữa. Nhiều
khi em nghĩ là tầng lớp già đi rồi lên đường
rồi, tầng lớp trẻ lớn lên, nhiều khi may ra tư
tưởng của mấy bạn hiện đại hơn thì cũng có
thể thay đổi được nhưng mà lúc đó thì cũng
22 Xem: Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (2016), Báo cáo nghiên cứu “Có phải bởi vì tôi là
LGBT?” Phân biệt đối xử dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới tại Việt Nam, tlđd, tr.88.
23 Xem: Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (2016), Báo cáo nghiên cứu “Có phải bởi vì tôi là
LGBT?” Phân biệt đối xử dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới tại Việt Nam, tlđd, tr.89.
Số 20(444) - T10/2021
11
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
quyền của người lao động là người chuyển
giới trong các nội dung cụ thể của Bộ luật
Lao động năm 2019.
Bên cạnh đó, cần nghiên cứu giải quyết
nhu cầu về việc sử dụng nhà vệ sinh của
người chuyển giới. Tại Hoa Kỳ, trong vấn
đề sử dụng nhà vệ sinh, người chuyển giới
cũng gặp khó khăn trong việc được sử
dụng nhà vệ sinh đúng với giới tính sau
khi chuyển giới của mình. Tháng 6/2015,
Cơ quan quản lý y tế và an toàn lao động
Hoa Kỳ (OSHA) đã ban hành “Hướng dẫn
sử dụng nhà vệ sinh cho người lao động
chuyển giới” gửi đến tất cả doanh nghiệp ở
Hoa Kỳ25. Theo đó, hạn chế hoặc không cho
phép người lao động chuyển giới sử dụng
nhà vệ sinh đúng với giới tính của họ sau
khi phẫu thuật chuyển giới có thể khiến họ
cảm thấy bất an; một người nhận dạng là
đàn ông nên được sử dụng nhà vệ sinh nam,
và một người được nhận dạng là phụ nữ nên
sử dụng nhà vệ sinh nữ… Tuy nhiên, OSHA
cũng thừa nhận việc người chuyển giới nên
sử dụng nhà vệ sinh nào hiện vẫn là vấn đề
gây tranh cãi gay gắt tại các trường học và
doanh nghiệp. Chính vì lẽ đó, OSHA chỉ ra
văn bản hướng dẫn, theo đó dừng lại ở mức
“kêu gọi” chứ không phải ra luật hay quy
định áp đặt tất cả các doanh nghiệp phải
tuân theo26. Theo chúng tôi, đây là vấn đề
cần có sự đánh giá tác động kinh tế, xã hội
và giới cụ thể. Nếu xây dựng nhà vệ sinh
riêng cho người chuyển giới sẽ phải cân
nhắc về khả năng kinh tế của chính quyền,
số lượng và nhu cầu sử dụng của người
chuyển giới. Cũng cần lưu ý không phải lúc
nào việc có quy định đặc thù cũng mang lại
tác động tích cực. Ví dụ, xây dựng nhà vệ
sinh riêng cho người chuyển giới cũng có
khả năng khiến người chuyển giới bị chú ý
Thứ ba, hoàn thiện cơ sở pháp lý về
vấn đề chuyển đổi giới tính của người
chuyển giới.
Hiện nay, nhu cầu đẩy nhanh quá trình
soạn thảo Luật Chuyển đổi giới tính là rất
cấp thiết. Trên cơ sở nhận thức đầy đủ vấn
đề trọng tâm của Luật này là quyền con
người chứ không đơn thuần chỉ là vấn đề y
khoa, Luật Chuyển đổi giới tính cần xử lý
một số vấn đề quan trọng như sau:24 (1) Mức
độ công nhận người chuyển giới (không can
thiệp y tế/can thiệp y tế bằng hóc-môn/can
thiệp y tế bằng phẫu thuật toàn bộ hoặc một
phần); (2) Điều kiện về độ tuổi của người
chuyển đổi giới tính; (3) Điều kiện về tình
trạng hôn nhân của người muốn chuyển
đổi giới tính; (4) Quy trình chuyển đổi giới
tính; (5) Số lần được chuyển đổi giới tính;
(6) Các cơ sở y tế can thiệp chuyển đổi giới
tính; (7) Công nhận những người đã chuyển
đổi giới tính trước đây; (8) Chi phí can thiệp
y tế chuyển đổi giới tính; (9) Tác động đến
các văn bản pháp luật khác (pháp luật về hộ
tịch và các giấy tờ pháp lý, pháp luật về thể
thao, pháp luật về xác định giới tính…).
Trong tương lai, cẩn sửa đổi tên gọi của
Điều 37 Bộ luật Dân sự năm 2015 thành
“Quyền chuyển đổi giới tính” để khẳng định
rõ ràng đây là quyền của người chuyển giới
và bảo đảm sự thống nhất trong hệ thống
các quyền nhân thân. Việc xây dựng cơ sở
pháp lý đầy đủ về vấn đề chuyển đổi giới
tính sẽ góp phần tạo điều kiện thuận lợi để
người chuyển giới hòa nhập với xã hội, góp
phần hạn chế sự kỳ thị không đáng có, nhất
là trong đời sống hàng ngày cũng như trong
quá trình lao động, làm việc…
hơn và dễ bị kỳ thị hơn
24 Xem thêm: Trương Hồng Quang (2019), Quyền của người đồng tính, song tính, chuyển giới và liên giới tính
theo pháp luật Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 135-142.
25 Xem: A Guide to Restroom Access for Transgender Workers, https://www.dol.gov/sites/dolgov/files/OASP/
legacy/files/TransgenderBathroomAccessBestPractices.pdf, truy cập ngày 03/6/2021.
26 Xem: Phúc Duy (2015), Tranh cãi: Người chuyển giới sử dụng nhà vệ sinh nam hay nữ?, tlđd.
12
Số 20(444) - T10/2021
Bạn đang xem tài liệu "Quyền lao động của người chuyển giới tại Việt Nam hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
quyen_lao_dong_cua_nguoi_chuyen_gioi_tai_viet_nam_hien_nay.pdf

