Thực hiện pháp luật về giải quyết việc làm trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM  
TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0  
IMPLEMENTATION OF THE LAW ON JOB IN THE CONTEXT OF THE  
INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0  
Nguyễn Minh Phục  
Lê Thị Trà My  
Võ Thị Hiền  
TÓM TẮT: Giải quyết việc làm là một trong những nhiệm vụ quan trọng mà tất  
cả các quốc gia trên thế giới đang hướng đến. Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp  
4.0 (CMCN 4.0), hành lang pháp lý về giải quyết việc làm ngày được quan tâm và mở  
rộng. Tuy nhiên, việc thực thi pháp luật về giải quyết việc làm trong bối cảnh CMCN  
4.0 vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập, đặt ra một thách thách to lớn cho các chính  
quyền Nhà nước. Bài báo này tập trung làm rõ thực trạng thực hiện pháp luật về giải  
quyết việc làm trong bối cảnh CMCN 4.0, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao  
hơn nữa hiệu quả của vấn đề này.  
Từ khóa: cách mạng công nghiệp 4.0, giải quyết việc làm, thực hiện pháp luật.  
ABSTRACT: Job creation is one of the important tasks that all countries in the  
world are aiming for. In the context of the industrial revolution 4.0 (Industry 4.0), the  
legal corridor on job settlement is concerned and expanded. However, the  
implementation of the law on job creation in the context of Industry 4.0 still has many  
limitations and shortcomings, posing a great challenge for State governments. This  
article focuses on clarifying the actual implementation of the law on job creation in  
the context of Industry 4.0, proposing some solutions to further improve the  
effectiveness of this issue.  
Keyword: industrial revolution 4.0, job creation, law enforcement.  
Sinh viên Trƣờng Đại học Luật, Đại học Huế  
 Sinh viên Trƣờng Đại học Luật, Đại học Huế  
 Sinh viên Trƣờng Đại học Luật, Đại học Huế; Email: [email protected]  
261  
1. Đặt vấn đề  
Thuật ngữ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ đƣợc gọi tắt là cuộc cách  
mạng 4.0 đƣợc xuất hiện lần đầu tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) lần thứ 46 bởi  
GS. Klaus Schwab, Chủ tịch WEF. Cuộc cách mạng 4.0 đƣợc hiểu là một cuộc cách  
mạng dựa trên công nghệ số, công nghệ thông minh để tối ƣu quy trình, phƣơng thức  
sản xuất. Đƣợc phát triển dựa trên ba lĩnh vực chính là kỹ thuật số, vật lý và công nghệ  
sinh học với các yếu tố cốt lõi là kết nối vạn vật (IoT- Internet of Things), trí tuệ nhân  
tạo (AI - Artificial Intelligence), xử lý dữ liệu lớn (Big Data), công nghệ in 3D, rô-bốt  
thông minh, các siêu vật liệu, công nghệ na-no…. Những đột phát của cuộc cách mạng  
4.0 mang lại sự biến đổi sâu sắc các quy trình, phƣơng thức sản xuất, làm thay đổi các  
hoạt động sản xuất, vận hành làm việc, cách giao tiếp lao động. Với sự tham gia của  
các lực lƣợng mới là chuỗi máy móc tự động, rô-bốt thông minh có nguy cơ sẽ thay  
thế phần lớn lực lƣợng lao động chân tay, và sự xuất hiện hàng loạt các công nghệ sẽ  
làm thay đổi hoàn toàn quy trình sản xuất, tạo ra thêm nhiều ngành nghề trong lĩnh vực  
kỹ thuật số mà ở đó cần các nguồn lao động chất lƣợng cao để vận hành. Để thích ứng  
tốt thị trƣờng lao động trong bối cảnh cách mạng 4.0 ta cần làm tốt vấn đề giải quyết  
việc làm.  
Nhận thức đƣợc tầm quan trọng của giải quyết việc làm trong bối cách mạng  
4.0 diễn ra mạnh mẽ, trong những năm qua, Đảng và Nhà nƣớc ta đã không ngừng  
quan tâm thực hiện đƣờng lối đổi mới kết hợp nhiều chính sách, chủ trƣơng tạo việc  
làm và giải quyết việc làm cho ngƣời lao động với nhiều phƣơng thức khác nhau. Tuy  
bƣớc đầu có những tiến bộ vƣợt bậc song việc nhìn nhận và đƣa ra các giải pháp nhằm  
hạn chế tác động của nó vẫn không mang hiệu quả cao. Do đó, nhiệm vụ hàng đầu đặt  
ra với Việt Nam ngay lúc này là cần phải có một giải pháp mới về giải quyết việc làm  
nhằm tạo điều kiện để chính sách đó đƣợc áp dụng trên thực tiễn, đáp ứng nguyện  
vọng của ngƣời lao động.  
2. Tác động của cách mạng 4.0 đến pháp luật giải quyết việc làm  
2.1 Tác động của cuộc cách mạng 4.0 đến các hoạt động về giải quyết việc làm  
Cuộc cách mạng 4.0 có tác động về giải quyết việc làm chủ yếu hai nhóm là  
ngƣời lao động và việc làm. Dƣới sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng 4.0 nguy  
cơ mất việc làm rất cao đối với ngƣời lao động chân tay đặc biệt ở nhóm lao động  
262  
chƣa qua đào tạo, trình độ tay nghề thấp. Với việc xuất hiện lực lƣợng sản xuất mới sẽ  
làm thay đổi tính chất lao động trong cấu thành giá trị sản phẩm. Khi sức lao động của  
con ngƣời đã đƣợc thay thế bằng sức lao động máy móc, rô-bốt. Một lợi rất lớn mà  
cuộc cách mạng này mang đến là việc áp dụng các công nghệ số, rô-bốt tự động hóa đã  
giúp nâng cao năng suất, chất lƣợng hiệu quả lao động. Tuy nhiên, việc áp dụng công  
nghệ số và quá trình rô-bốt hóa đã dẫn tới tình trạng mất việc làm nghiêm trọng đối  
với ngƣời lao động, nhất là đối với các ngƣời lao đông làm những công việc lặp đi, lặp  
lại; các công việc không yêu cầu trình độ cao, cần bằng cấp, chỉ dựa trên quy trình  
định sẵn.  
Đối với tác động lớn của cuộc cách mạng 4.0 đến việc làm là việc tạo ra xu  
hƣớng mới về việc làm, xuất hiện nhiều mô hình sản xuất, các loại hình ngành nghề  
mới. Các quan hệ sản xuất mởi sẽ làm thay đổi phƣơng thức giao tiếp trong quá trình  
sản xuất từ trực tiếp sang tự động gián tiếp thông qua không gian mạng, thế giới ảo.  
Những ngành nghề nông, lâm, thủy sản, chế biến thực phẩm, sản xuất điện tử, dệt  
may,… sẽ là những ngành nghề chịu tác động lớn bởi hệ quả việc thay đổi quan hệ sản  
xuất truyền thống. Thay vào đó là sự xuất hiện của các ngành nghề có yếu tố công  
nghệ cao, các phƣơng thức sản xuất đƣợc số hóa nhƣ: các hoạt động kinh doanh  
thƣơng mại điện tử, các hoạt động du lịch, giải trí trực tuyến, các dịch vụ cung ứng tự  
động. Bên cạnh đó luồng dữ liệu liên tục mà Internet thu thập đƣợc đang tạo ra nhiều  
mô hình kinh doanh mới cho các nhà sản xuất. Các mô hình kinh doanh khác sử dụng  
dữ liệu cảm biến thông minh đang chờ đợi để đƣợc khám phá, và có thể mang lại lợi  
thế cạnh tranh đáng kể cho các doanh nghiệp đi đầu trong lĩnh vực xu hƣớng này.  
2.2 Tác động của cuộc cách mạng 4.0 đến pháp luật về giải quyết việc làm  
Cuộc cách mạng 4.0 tác động rất lớn trong lĩnh vực pháp luật, đặc biệt là làm  
phát sinh, thay đổi các đối tƣợng điều chỉnh trong quan hệ giải quyết việc làm. Các  
quan hệ sản xuất phát triển nhanh chóng, không chỉ dừng lại dƣới sự giao tiếp trực tiếp  
giữa ngƣời với ngƣời mà còn là giữa ngƣời với ngƣời qua thế giới ảo, và cả giữa ngƣời  
với máy móc, rô-bốt trí tuệ nhân tạo. Sự thay đổi quan hệ sản xuất dẫn đến các quan hệ  
pháp luật về giải quyết việc làm cũng thay đổi. Hệ quả, các nghĩa vụ, trách nhiệm của  
chủ thể tham gia giải quyết việc làm cần đƣợc thay đổi đáp ứng với thực tiễn. Cùng  
với đó là sự thay đổi trong các phƣơng thức, thủ tục, cách tiếp cận, tìm kiếm việc làm  
263  
trong giải quyết việc làm cho ngƣời lao động. Với làn sóng công nghệ, tiện ích mà  
cuộc cách mạng 4.0 mang lại ngƣời lao động có thể tự tìm kiếm việc trên cơ sở khối  
dữ liệu khủng lồ và các phân tích thông minh sẽ giúp ngƣời lao động tìm kiếm đƣợc  
việc làm phù hợp một cách thuận tiện, nhanh chóng tiếp cận với việc làm ở mọi lúc,  
mọi nơi.  
Ngoài ra, cuộc cách mạng 4.0 cũng sẽ có tác động lớn đến các nội dung chính  
sách trong cơ chế tạo việc làm. Sự xuất hiện của nhiều loại hình, ngành nghề mới đồng  
nghĩa với việc các chính sách tạo việc làm phải đƣợc thay đổi để phù hợp với từng  
ngành nghề. Cần có những cơ chế khuyến kích, tạo điều kiện, tránh sự kìm hãm phát  
triển của ngành nghề mới đó dẫn đến thiếu động lực tạo thêm việc làm cho thị trƣờng  
lao động.  
3. Thực hiện pháp luật về giải quyết việc làm trong bối cảnh cách mạng 4.0  
3.1. Quy định của pháp luật về giải quyết việc làm trong bối cảnh cách mạng 4.0  
Thứ nhất là, trách nhiệm giải quyết việc làm của Nhà nƣớc. Đây là chủ thể đóng  
vai trò chủ đạo trong việc giải quyết việc làm. Nhà nƣớc tham gia vào giải quyết việc  
làm bằng cách đề ra chỉ tiêu việc làm mới trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội  
giai đoạn năm năm và hàng năm. Bên cạnh đó, các quy định, chính sách hỗ trợ việc  
làm và giải quyết việc làm cũng đƣợc Nhà nƣớc rất quan tâm. Một số quy định hỗ trợ  
việc làm đƣợc cụ thể hóa trong các chính sách nhƣ Nghị định số 38/2020/NĐ-CP ngày  
03/04/2020 của Chính phủ về Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Ngƣời  
lao động Việt Nam đi làm việc ở nƣớc ngoài theo hợp đồng đã khuyến khích, tạo điều  
kiện cho ngƣời lao động có nhu cầu và khả năng đi làm việc ở nƣớc ngoài theo hợp  
đồng; hỗ trợ ngƣời lao động đƣợc tham gia đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để  
đáp ứng yêu cầu của nƣớc tiếp nhận lao động; hỗ trợ ngƣời lao động đƣợc tham gia  
đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để đáp ứng yêu cầu của nƣớc tiếp nhận lao  
động. Các chính sách hỗ trợ tạo việc thông qua việc phát triển thị trƣờng lao động,  
Quyết định số 176/QĐ-TTg ngày 05/02/2021 của Thủ tƣớng Chính phủ về Ban hành  
Chƣơng trình hỗ trợ phát triển thị trƣờng lao động đến năm 2030 theo đó Nhà nƣớc có  
một số nhiệm vụ hỗ trợ nhƣ: thu thập, cung cấp thông tin thị trƣờng lao động, phân  
tích, dự báo thị trƣờng lao động, kết nối cung cầu lao động; hiện đại hóa hoạt động  
dịch vụ việc làm và hệ thống thông tin thị trƣờng lao động; đầu tƣ nâng cao năng lực  
264  
trung tâm dịch vụ việc làm. Ngoài ra Nhà nƣớc còn có một số chính sách hỗ trợ khác  
nhƣ hỗ trợ ngƣời lao động vay vốn ƣu đãi; ngƣời lao động độ tuổi thanh niên sẽ đƣợc  
tạo việc làm qua việc hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an, thanh niên tình  
nguyện hoàn thành nhiệm vụ thực hiện chƣơng trình, dự án phát triển kinh tế – xã hội,  
đƣợc tƣ vấn, định hƣớng nghề nghiệp và giới thiệu việc làm miễn phí; hàng năm Nhà  
nƣớc tổ chức kế hoạch chƣơng trình việc làm, đề án tạo việc làm.. Không chỉ dừng lại  
ở việc trực tiếp hỗ trợ tạo việc làm cho ngƣời lao động mà Nhà nƣớc còn những chính  
sách khuyến kích, hỗ trợ các doanh nghiệp chuyển đổi số, từng bƣớc tiếp cận với các  
nền tảng công nghệ số để thị trƣờng lao động trong nƣớc không bị tụt hậu. Bộ Kế  
hoạch và Đầu tƣ đã xây dựng Chƣơng trình hỗ trợ chuyển đổi số trong doanh nghiệp,  
hợp tác xã và hộ kinh doanh giai đoạn 2021-2025. Bộ trƣởng Bộ Thông tin và Truyền  
thông ban hành Quyết định số 377/QĐ-BTTTT ngày 26/3/2021 về Chƣơng trình hỗ  
trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số với mục tiêu giới thiệu để các doanh  
nghiệp tiếp cận sử dụng các nền tảng công nghệ số. Với những chính sách hỗ trợ đó đã  
giúp đóng góp hiệu quả vào công tác giải quyết việc làm trong bối cách mạng 4.0 đang  
phát triển mạnh mẽ.  
Thứ hai là, trách nhiệm của ngƣời sử dụng lao động. Ngƣời sử dụng lao động  
đứng vị trí trung tâm trong giải quyết việc làm. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 3  
BLLĐ 2019 thì ngƣời sử dụng lao động bao gồm doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp  
tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mƣớn, sử dụng ngƣời lao động làm việc cho mình  
theo thỏa thuận. Pháp luật cho phép ngƣời sử dụng lao động đƣợc thực hiện quản lý  
lao động của mình nhƣ tăng, giảm lao động theo nhu cầu, điều hành lao động theo sản  
xuất kinh doamh, ban hành nội quy, thỏa ƣớc lao động tập thể, khen thƣởng và xử lý vi  
phạm kỷ luật lao động, ký kết thỏa ƣớc lao động tập thể, đƣợc chấm dứt hợp đồng và  
đƣợc yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động. Bên cạnh đó, pháp luật còn quy định  
trách nhiệm giải quyết giải quyết việc làm của ngƣời sử dụng lao động thông qua các  
hoạt động nhƣ quy định về tuyển dụng ngƣời lao động, trong việc sắp xếp, bố trí công  
việc, môi trƣờng làm việc cho ngƣời lao động, tạo điều kiện làm việc cũng nhƣ nâng  
cao chất lƣợng bảo đảm việc làm cho ngƣời lao động.  
Thứ ba là, trách nhiệm của các Trung tâm dịch vụ việc làm và các doanh nghiệp  
hoạt động dịch vụ việc làm (sau đây đƣợc gọi chung là các Trung tâm dịch vụ việc  
265  
làm). Theo Nghị định số 23/2021/NĐ-CP ngày 19 tháng 03 năm 2021 quy định chi tiết  
khoản 3 Điều 37 và Điều 39 của Luật Việc làm về Trung tâm dịch vụ việc làm, doanh  
nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm theo đó, các Trung tâm dịch vụ việc làm có một số  
nhiệm vụ, chức năng sau nhƣ: các hoạt động tƣ vấn việc làm, tƣ vấn nghề nghiệp, tƣ  
vấn tuyển, sử dụng, quản lý lao động, tƣ vấn các chính sách lao động; hoạt động giới  
thiệu việc làm; làm cầu nối cung ứng và tuyển dụng lao động; đào tạo kỹ năng phỏng  
vấn, làm việc; giáo dục nghề nghiệp; thu nhập và cung cấp thông tin; phân tích và dự  
báo thị trƣờng; và thực hiện các chƣơng trình, dự án về việc làm.  
Thứ tƣ là, trách nhiệm giải quyết việc làm của ngƣời lao động. Ngƣời lao động  
là chủ thể quyết định trong việc giải quyết việc làm, họ là chủ thể duy nhất tự giác đi  
tìm kiếm việc làm, họ tự bán sức lao động của mình cho ngƣời sử dụng lao động. Pháp  
luật cho phép ngƣời lao động có quyền đƣợc làm việc, tự do chọn công việc, nơi làm  
việc. Thông qua tuyển dụng, ngƣời lao động xem xét nhu cầu cũng nhƣ khả năng của  
bản thân để tìm kiếm một công việc phù hợp. Để đƣợc lao động và có một việc làm ổn  
định thì trách nhiệm này trƣớc hết phụ thuộc vào bản thân của ngƣời lao động. Ngƣời  
lao động phải lao động tạo ra thu nhập để nuôi sống bản thân, gia đình và xã hội. Đây  
là trách nhiệm và nghĩa vụ mà ngƣời ngƣời lao động phải thực hiện. Ngƣời lao động  
có nghĩa vụ cần nắm vững tình hình các chính sách và thông tin thị trƣờng, rèn luyện  
bản thân theo những yêu cầu mà thị trƣờng, doanh nghiệp yêu cầu để đáp ứng tiêu chí  
tuyển dụng lao động.  
3.2. Thực trạng thực hiện pháp luật về giải quyết việc làm trong bối cảnh cách  
mạng 4.0  
Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2021 của nƣớc ta dần đƣợc đƣợc  
phục hồi, tốc độ tăng trƣởng kinh tế tăng. Cụ thể, theo báo cáo tình hình kinh tế xã hội  
quý II và 6 tháng đầu năm 2021 thì Tổng sản phẩm trong nƣớc (GDP) quý II/2021 ƣớc  
tính tăng 6,61% so với cùng kỳ năm trƣớc, cao hơn tốc độ tăng 0,39% của quý II/2020,  
trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,11%; khu vực công nghiệp và  
xây dựng tăng 10,28%; khu vực dịch vụ tăng 4,30%. Tổng sản phẩm trong nƣớc  
(GDP) 6 tháng đầu năm 2021 tăng 5,64%, cao hơn tốc độ tăng 1,82% của 6 tháng đầu  
năm 2020. Nhƣng do sự bùng phát của dịch Covid 19 nên đã đặt ra nhiều thách thức,  
rủi ro cho nƣớc ta trong việc thực hiện mục tiêu kép “vừa phòng chống dịch bệnh, vừa  
266  
phát triển kinh tế”. Kết quả tăng trƣởng 6 tháng đầu năm cho thấy sự chỉ đạo, điều  
hành quyết liệt của Chính phủ, Thủ tƣớng Chính phủ; sự chung sức, đồng lòng của hệ  
thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp, nhân dân cả nƣớc và lực lƣợng tuyến đầu  
chống dịch để kiểm soát dịch bệnh, thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp phát triển  
kinh tế - xã hội năm 2021 .  
Về tình hình lực lƣợng lao động, nƣớc ta có quy mô dân số lớn với nguồn nhân  
lực dồi dào. Theo báo cáo lao động , tính đến quý II năm 2021 lực lƣợng lao động từ  
15 tuổi trở lên đạt 51,1 triệu ngƣời lao động trong đó, tỷ lệ ngƣời lao động qua đào tạo  
có bằng, chứng chỉ là 13,3 triệu ngƣời, chiếm 26,1%. Có đến 49,9 triệu ngƣời lao động  
có việc làm chiếm 97,7%. Lực lƣợng lao động phân bố ở các nhóm ngành nông, lâm  
nghiệp và thủy sản là 27,0%, nhóm ngành dịch vụ là 38,0% và ở nhóm khu vực công  
nghiệp và xây dựng có 32,5%. Mỗi năm Việt Nam có khoảng 1,2 triệu ngƣời lao động  
thất nghiệp, trong đó trung bình có khoảng 52,9% lao động cƣ trú ở khu vực thành thị.  
Đặc biệt quá trình diễn ra cuộc cách mạng 4.0 với sự phát triễn mạnh mẽ trong lĩnh  
vực công nghệ, kỹ thuật số sẽ mang lại sức ép lớn hơn cho các lao động ở thành thị.  
Hiện nay, cả nƣớc có khoảng 64.438 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ  
số chủ yếu hoạt động ở các thành phố, đô thị. Theo Chỉ thị số 01/CT-TTg của Thủ  
tƣớng Chính phủ ngày 14 tháng 01 năm 2020 Về thúc đẩy phát triển doanh nghiệp  
công nghệ số Việt Nam đề ra mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam có ít nhất 100.000  
doanh nghiệp công nghệ số. Dƣới sự xuất hiện của các doanh nghiệp công nghệ số sẽ  
có tác động rất lớn đến ngƣời lao động ở thành thị nói riêng và cả ngƣời lao động cả  
nƣớc nói chung.  
Về hoạt động giải quyết việc làm, ƣớc tính từ năm 2017 đến tháng 6/2021 trên  
cả nƣớc đã giải quyết đƣợc 6,79 triệu lao động. Trong công tác tƣ vấn, đào tạo và tạo  
việc làm cho ngƣời lao động nhìn chung có nhiều kết quả khả quan. Tỷ lệ ngƣời lao  
động tìm đƣợc việc làm qua các Trung tâm dịch việc làm hàng năm luôn đạt trên mức  
80%, vào tính đến tháng 6/2021 tỷ lệ này đạt 86,89%. Trong những năm qua, đƣợc sự  
phối hợp và giúp đỡ của giữa các Phòng chuyên môn thuộc Sở, các Phòng Lao động –  
Thƣơng binh và Xã hội và các doanh nghiệp trong cả nƣớc, Trung tâm dịch vụ việc  
làm đã thực hiện tốt các chỉ tiêu, kế hoạch đề ra hằng năm. Hoạt động giới thiệu việc  
làm, cung ứng lao động đƣợc kết nối qua nhiều hình thức, nhƣ trực tiếp tại trụ sở  
267  
chính, tại các điểm giao dịch vệ tinh của trung tâm dịch vụ việc làm, các phiên giao  
dịch việc làm; gián tiếp qua cổng thông tin điện tử việc làm, các website, điện thoại,  
tin nhắn, … tạo thành một mạng lƣới bao phủ trên toàn quốc. Bên cạnh đó, hình thức  
giảng dạy trực tuyến đã xuất hiện trong thời đại số, với hình thức giảng dạy này ngƣời  
học và ngƣời dạy không cần trực tiếp gặp mà vẫn có thể trao đổi thông tin, mở ra một  
hƣớng đi mới trong việc đào tạo.  
Việc đƣa ngƣời lao động Việt nam đi làm việc ở nƣớc ngoài là một trong những  
chính sách quan trọng của nƣớc ta. Trong xuất khẩu và đƣa ngƣời lao động đi làm việc  
ở nƣớc ngoài từ năm 2017 đến năm 2020 là khoảng 371.567 ngƣời lao động, chủ yếu ở  
thị trƣờng các nƣớc Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc. Theo Cục Quản lý lao động ngoài  
nƣớc, Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội, trong 7 tháng đầu năm 2021, tổng số lao  
động Việt Nam đi làm việc ở nƣớc ngoài là 41.383 lao động, trong đó có 14.912 lao  
động nữ. Đài Loan là thị trƣờng tiếp nhận nhiều lao động Việt Nam nhất với 19.300  
lao động, Nhật Bản đứng thứ 2 với 18.819 lao động. Đáng chú ý, Hàn Quốc, Romania,  
Hungary hay cả Singapore vẫn đều đặn tiếp nhận lao động Việt Nam.  
3.3. Một số bất cập về giải quyết việc làm trong bối cách mạng 4.0  
Các văn bản, chính sách về lao động, việc làm ra đời nhƣng việc ban hành các  
văn bản hƣớng dẫn thực hiện chƣa đầy đủ, chƣa thực sự theo sát thực tiễn, hiệu quả  
triển khai thực hiện chính sách còn chậm, lúng túng và thấp. Công tác thanh tra, kiểm  
tra thực hiện chính sách chƣa đƣợc thƣờng xuyên, việc xử lý vi phạm chƣa thực sự  
nghiêm minh, ảnh hƣởng không tốt đến việc giải quyết việc làm và phát triển thị  
trƣờng lao động. Pháp luật về việc làm mặc dù đã đƣợc quy định cụ thể với tình hiện  
nay nhƣng các chính sách đó vần chƣa thu hút mạnh các nhà đầu tƣ, doanh nghiệp  
phát triển với mô hình số hóa tạo ra nhiều việc làm hơn. Đặc biệt cần có những chính  
sách hữu hiệu hơn trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp tái hoạt động sản xuất sau ảnh  
hƣởng từ đại dịch Covid-19. Cụ thể, tại thời điểm tháng 6/2021, cả nƣớc có 4.867  
doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, 3867 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh  
doanh có thời hạn, hơn nữa lại có 5.238 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ  
tục giải thể, con số này ngày tăng lên và điều này ảnh hƣởng đến việc tuyển dụng lao  
động trong thời gian tới .  
268  
Chỉ số lao động có việc làm thấp. Sự tác động của dịch Covid-19 làm tình hình  
về việc làm của nƣớc ta có nhiều thay đổi, số ngƣời tham gia lực lƣợng lao động, lao  
động có việc làm giảm so với năm trƣớc, tình trạng ngƣời lao động bị thất nghiệp và  
thiếu việc làm đang có chiều hƣớng gia tăng và diễn biến phức tạp. Tính đến Quý I  
năm 2021, cả nƣớc có gần 1.093 nghìn ngƣời trong độ tuổi thất nghiệp, có 952,5 nghìn  
lao động trong độ tuổi thiếu việc làm (trong đó 74,96% lao động nông thôn; 43,65%  
làm việc trong Nông lâm thủy sản) . Điều này đang là mối đe dọa nghiêm trọng đến  
tình hình phát triển kinh tế của Nhà nƣớc cũng nhƣ chất lƣợng cuộc sống của ngƣời  
lao động.  
Vấn đề tƣ vấn, giới thiệu việc làm cũng gặp nhiều khó do đại dịch Covid-19  
diễn biễn phức tạp khiến các Trung tâm dịch vụ việc làm không thể tiến hành đƣợc các  
hoạt động chƣơng trình việc làm ở hầu hết các địa phƣơng cả nƣớc. Phần lớn các  
Trung tâm dịch vụ việc làm cũng đã cố gắng thích nghi bằng cách tổ chức, đối thoại,  
hỗ trợ tƣ vấn, giới thiệu, giải đáp trực tuyến cho ngƣời lao động xong vẫn rất còn hạn  
chế. Nguyên nhân xuất phát từ ngƣời lao động từ độ tuổi 40 – 65 tuổi khó khăn trong  
việc tiếp cận công nghệ thông tin, và đây cũng là lần đầu các hoạt động chƣơng trình  
việc làm, tƣ vấn, giới thiệu đƣợc các Trung tâm dịch vụ việc làm áp dụng rộng rãi trên  
quy mô lớn nên còn thiếu kinh nghiệm tổ chức để hiệu quả.  
Trong công tác đào tạo, giáo dục nghề nghiệp còn nhiều hạn chế. Hiện nay, các  
ngành nghề đào tạo còn đơn điệu, ít nắm bắt xu thế thị trƣờng lao động. Hàng năm có  
khoảng hơn 12,5 triệu ngƣời lao động đƣợc qua đào tạo chiểm khoảng 23% thị trƣờng  
lao động, nhƣng đến hơn 80% lao động đó đƣợc đào tạo ở ngành nghề lao động thủ  
công, chân tay. Bên cạch đó, các cơ sở, trang thiết bị kỹ thuật còn rất hạn chế, nhất là  
các trang thiết bị hỗ trợ công nghệ thông tin. Ở các cơ sở giáo dục đa số chỉ có một  
phòng máy tính với số máy khoảng 10 – 20 chiếc để phục vụ cho việc dạy nghề, đây là  
một con số khiêm tốn. Nguyên do là các cơ sở giáo dục chƣa có sự quan tâm, đầu tƣ  
về các cơ sở vật chất, trang thiết bị cũng nhƣ là chƣa nhận thức đƣợc tầm quan trọng  
của việc đào tạo nghề trong lĩnh vực công nghệ thông tin để bắt kịp xu hƣớng thị  
trƣờng lao động.  
Các doanh nghiệp, các tổ chức tạo việc làm cho ngƣời lao động ở Việt Nam chủ  
yếu có quy mô nhỏ, phạm vi áp dụng phần lớn chủ yếu ở địa phƣơng mà nó thành lập  
269  
do khoảng cách địa lý. Vì vậy, việc đi phỏng vấn hay tìm việc làm của ngƣời lao động  
còn gặp nhiều khó khăn.  
4. Một số đề xuất để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về giải quyết việc làm  
trong bối cảnh cách mạng 4.0  
Thứ nhất về quy định pháp luật, các chính sách lao động việc làm. Tiếp tục  
hoàn thiện hệ thống pháp luật về giải quyết việc làm phù hợp với bối cảnh hiện nay.  
Thể chế hóa quan điểm, đƣờng lối của Đảng về việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị  
trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa, phát triển việc làm và thị trƣờng lao động phù  
hợp với yêu cầu của cuộc cách mạng 4.0. Đi cùng với đó là các chính sách cụ thể hỗ  
trợ tạo việc làm nhƣ tăng cƣờng thêm sự khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp thành  
lập mới, mở thêm quy mô sản xuất, có những chính sách thu hút thêm nhà đầu tƣ vào  
các dự án tạo động lực có thêm việc làm cho ngƣời lao động. Nhƣ các chính sách hỗ  
trợ đăng ký doanh nghiệp, hỗ trợ hƣớng dẫn hoàn thiện hồ sơ. Chính sách hỗ trợ miễn,  
giảm thuế ở một số hạn mục với các doanh nghiệp tăng quy mô sản ở một số ngành  
nghề. Có những chính sách ƣu đãi vƣợt trội, cạnh tranh quốc tế tạo điều kiện kinh  
doanh thuận lợi thu hút các dự án lớn, trọng điểm quốc gia, dự án công nghệ cao, thu  
hút các nhà đầu tƣ chiến lƣợc, các tập đoàn đa quốc gia đầu tƣ.  
Thứ hai, về nguồn nhân lực chất lƣợng cao đáp ứng nhƣ cầu việc làm bối cảnh  
cách mạng 4.0. Việc làm trong bối cảnh cách mạng 4.0 đòi hỏi ngƣời lao động, muốn  
có việc làm thì phải có trình độ tay nghề, linh hoạt sáng tạo và thích nghi nhanh. Để  
đáp ứng yêu cầu đó, trƣớc tiên, Nhà nƣớc cần phải có chính sách đào tạo, giáo dục,  
nâng cao tay nghề cho ngƣời lao động. Cần phải xem xét, theo dõi và lựa chọn những  
thành viên ƣu tú, có năng lực phẩm chất để thay mặt Nhà nƣớc quản lý các hoạt động  
việc làm. Nâng cao nhận thức của xã hội về sự cần thiết phải nâng cao chất lƣợng  
nguồn nhân lực đặc biệt trong lĩnh vực về công nghệ thông tin, công nghệ số. Xây  
dựng chiến lƣợc nhân tài, và thực hiện các chính sách trọng dụng và đãi ngộ nhân tài.  
Thứ ba, về công tác tƣ vấn, giới thiệu việc làm, tuyển dụng lao động. Tích cực  
đổi mới trong công tác tƣ vấn, giới thiệu việc làm cần có những cuộc tập huấn, hƣớng  
dẫn cho những ngƣời thực hiện việc tƣ vấn, giới thiệu việc làm trong việc thích nghi  
với thời đại số. Từ đó có những hƣớng dẫn phù hợp hơn giúp ngƣời lao động dễ tiếp  
cận với hoạt động tƣ vấn, giới thiệu qua hình thức trực tuyến từ xa.  
270  
Thứ tƣ, về hoạt động đào tạo, giáo dục nghề nghiệp. Cần tăng cƣờng quan tâm,  
chú trong đầu tƣ cơ sở vật chất phục vụ dạy nghề trong các lĩnh vực công nghệ thông  
tin. Đa dạng các ngành nghề, quan tâm hơn về đào tạo nghề có yếu tố công nghệ. Bên  
cạch đó cũng chú trọng đào tạo, nâng cao trình độ giảng dạy trong các ngành nghề mới  
cho cán bộ dạy nghề.  
5. Kết luận  
Với vai trò và tầm quan trọng đặc biệt trong mọi hoạt động của xã hội cũng nhƣ  
đối với ngƣời lao động, các quy định và cơ chế thực hiện pháp luật về giải quyết việc  
làm của nƣớc ta ngày càng đƣợc mở rộng, tổ chức thực thi trên thực tế. Tuy nhiên,  
bƣớc vào thời kì hội nhập quốc tế, đặc biệt là bối cảnh cách mạng 4.0, việc thực hiện  
pháp luật về giải quyết việc làm cho ngƣời lao động của nƣớc ta không thể tránh khỏi  
những bất cập, sai sót cần phải sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện. Chính vì thế, Việt Nam  
phải luôn trông thế chủ động, tích cực đổi mới hoạt động giải quyết việc làm nhằm hòa  
nhập với xu thế ngày nay.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ (2021), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý 2 và 6 tháng  
đầu năm 2021.  
2. Bộ lao động thƣơng binh và xã hội (2021), Bản tin cập nhật thị trường lao động  
Việt Nam, số 29 quý 1 năm 2021.  
3. Nguyễn Duy Phƣơng, Đào Mộng Diệp (2013), Giáo trình Luật lao động Việt Nam,  
Nxb Đại học Huế.  
4. Tổng cục Thống kê (2021), Báo cáo Tình hình lao động việc làm quý I năm 2021.  
5.Tổng cục Thống kê (2021), Báo cáo Tình hình lao động việc làm quý II và 6 tháng  
đầu năm 2021.  
271  
pdf 11 trang Thùy Anh 10580 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thực hiện pháp luật về giải quyết việc làm trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuc_hien_phap_luat_ve_giai_quyet_viec_lam_trong_boi_canh_ca.pdf