Góp ý dự thảo thông tư hướng dẫn quản lý, thu chi tài chính cho công tác tổ chức lễ hội và tiền công đức, tài trợ cho di tích và hoạt động lễ hội

GÓP Ý DỰ THẢO THÔNG TƯ HƯỚNG DẪN QUẢN LÝ, THU CHI  
TÀI CHÍNH CHO CÔNG TÁC TỔ CHỨC LỄ HỘI VÀ TIỀN CÔNG ĐỨC,  
TÀI TRỢ CHO DI TÍCH VÀ HOẠT ĐỘNG LỄ HỘI1  
NGUYỄN THỊ LONG*  
Bài viết phân tích những nội dung mới của Dự thảo Thông tư hướng dẫn quản lý, thu chi tài  
chính cho công tác tổ chức lễ hội và tiền công đức, tài trợ cho di tích và hoạt động lễ hội cũng  
như những quy định chưa hợp lý và đề xuất giải pháp hoàn thiện một số nội dung của Dự thảo,  
góp phần bảo đảm tính hợp pháp, khả thi của Dự thảo Thông tư trước khi được thông qua và  
thi hành trên thực tế.  
Từ khoá: Tiền công đức, tổ chức tôn giáo, cơ sở tôn giáo, quản lý, thu chi tài chính.  
Ngày nhận bài: 15/4/2021; Biên tập xong: 18/4/2021; Duyệt đăng: 18/4/2021  
This paper analyzes the new contents and unreasonable regulations of the Draft Circular  
guiding the management of financial revenue and expenditure for festival organization and  
merit money, funding for monuments and festival activities. Thereby, the author proposes  
solutions to complete that Draft.  
Keywords: Merit money, religious organization, religious establishment, management of  
financial revenue and expenditure  
gày 28/4/2021, Bộ Tài chính ra Công đây viết tắt là Nghị định số 110/2018/NĐ-CP)3.  
văn số 4269/BTC-HCSN gửi các Bộ, cơ Tuy nhiên, Dự thảo Thông tư còn một số nội  
N
quan trung ương và Ủy ban nhân dân dung chưa thực sự khả thi và bảo đảm tính  
thống nhất với các văn bản pháp luật có liên  
quan như Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2015,  
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và các  
văn bản pháp luật khác quy định về lễ hội và  
tiền công đức. Để tiếp tục hoàn thiện Dự thảo  
Thông tư nêu trên, bài viết tập trung phân  
tích, đề xuất, góp ý về một số nội dung sau:  
các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương lấy  
ý kiến (lần 2) về Dự thảo Thông tư hướng dẫn  
quản lý, thu chi tài chính cho công tác tổ chức  
lễ hội và tiền công đức, tài trợ cho di tích và  
hoạt động lễ hội.2 Dự thảo lần này cơ bản đã  
xác định được đối tượng điều chỉnh và phạm  
vi điều chỉnh của văn bản; bổ sung được một  
số nội dung mới và cụ thể hơn về hoạt động  
quản lý, thu chi tài chính cho công tác tổ chức  
lễ hội và tiền công đức, tài trợ cho di tích và  
hoạt động lễ hội theo quy định tại Nghị định  
số 110/2018/NĐ-CP ngày 29/8/2018 của Chính  
phủ quy định về quản lý và tổ chức lễ hội (sau  
1. Về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp  
dụng  
Một là, về nội hàm thuật ngữ “lễ hội”  
Khoản 1 Điều 1 Dự thảo Thông tư quy  
định: “Thông tư này hướng dẫn quản lý, thu chi  
tài chính cho công tác tổ chức lễ hội và tiền công  
đức, tài trợ cho di tích và hoạt động lễ hội theo  
quy định tại Nghị định số 110/2018/NĐ-CP ngày  
29 tháng 8 năm 2018 của Chính phủ quy định về  
quản lý và tổ chức lễ”. Đối chiếu quy định này  
với Điều 3 Nghị định số 110/2018/ NĐ – CP  
cho thấy có 04 loại lễ hội được đề cập trong  
Nghị định này bao gồm: Lễ hội truyền thống;  
Lễ hội văn hoá; Lễ hội ngành nghề và Lễ hội  
1ꢀ Bài viết được thực hiện trong khuôn khổ đề tài  
của Trường Đại học Luật Hà Nội: “Quyền sở hữu  
của cơ sở tôn giáo, tổ chức tôn giáo theo pháp luật  
Việt Nam”.  
2ꢀ Dự thảo Thông tư hướng dẫn quản lý, thu chi tài  
chính cho công tác tổ chức lễ hội và tiền công đức, tài  
trợ cho di tích và hoạt động lễ hội.  
Link:  
hꢁps://mof.gov.vn/webcenter/portal/btc/r/ * Thạc sĩ, Giảng viên Khoa Pháp luật Dân sự, Trường  
cd/dtvb/dtddlyk/dtddlyk_chitiet?id=15957&_ Đại học Luật Hà Nội  
afrLoop=2405782521860801#%40%3F_afrLoop%3 3ꢀ Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại  
D2405782521860801%26id%3D15957%26_adf.ctrl- biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự  
state%3Dbm5dnpgbf_45.  
thật, Hà Nội, 2011, tr. 81.  
84 Khoa học Kiểm sát  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
NGUYỄN THỊ LONG  
có nguồn gốc từ nước ngoài. Theo tác giả, giọt dầu. Tiền giọt dầu không thuộc sự điều  
cách phân loại lễ hội của Nghị định này dựa chỉnh của Dự thảo Thông tư này, do đó, việc  
theo nguồn gốc hình thành lễ hội. Tuy nhiên, tiếp nhận tiền giọt dầu không phải có sổ sách  
bên cạnh cách phân lễ hội thành bốn loại nói thu chi đảm bảo công khai, minh bạch giống  
trên, theo quy định tại khoản 3 Điều 2 và Điều như tiền công đức.5  
10 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 còn có  
lễ hội tín ngưỡng, tức là “hoạt động tín ngưỡng  
tập thể được tổ chức theo lễ nghi truyền thống  
nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của cộng đồng”  
do các cơ sở tín ngưỡng tổ chức. Ngoài ra, hội  
còn được các nhà khoa học phân thành nhiều  
loại khác nhau dựa trên niên đại, sự kiện lịch  
sử hoặc theo cấu trúc… Theo thống kê của  
Cục Văn hoá cơ sở (thuộc Bộ Văn hoá, Thể  
thao và Du lịch) là cơ quan quản lý nhà nước  
về lễ hội thống kê cho thấy, Việt Nam có các  
loại lễ hội sau: Lễ hội dân gian gồm 7.039 lễ  
hội, chiếm 88,36%; Lễ hội tôn giáo gồm 5.449  
lễ hội, chiếm 6,82%; Lễ hội lịch sử cách mạng  
gồm 332 lễ hội, chiếm 4,16%; Lễ hội du nhập  
từ nước ngoài gồm 10 lễ hội, chiếm 0,12%; Lễ  
hội khác có 40 lễ hội, chiếm 0,5%. Tổng cộng  
cả nước có 327 lễ hội do cấp tỉnh quản lý, 8 lễ  
hội do cấp bộ quản lý. Như vậy, mặc dù là đối  
tượng quản lý của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo  
năm 2016, Nghị định số 110/2018/ NĐ – CP  
nhưng các lễ hội hiện nay chưa có sự thống  
nhất về tên gọi trong các văn bản pháp lý.4  
Vì vậy, Dự thảo Thông tư cần bổ sung  
điều luật giải thích thuật ngữ, trong đó cần  
giải thích tiền công đức, tiền giọt dầu, tiền tài  
trợ để thống nhất cách hiểu và cách áp dụng.  
Bởi lẽ, tiền công đức có thể hiểu là những tài  
sản mà tín đồ chuyển giao quyền sở hữu của  
mình cho các cơ sở tôn giáo, tổ chức tôn giáo  
với mục đích mong muốn những tài sản này  
phục vụ cho hoạt động tín ngưỡng, hoạt động  
tôn giáo. Trong khi đó, tiền giọt dầu được  
nhiều cơ sở thờ tự coi là tiền công đức, nhưng  
cũng nhiều nơi cho rằng tiền giọt dầu là tiền  
mà tín đồ gửi lại để mua hương, nhang thờ  
tự. Dự thảo Thông tư muốn đề xuất phương  
án quản lý thì cần phân định rõ. Tuy nhiên,  
dưới khoa học pháp luật dân sự, dù được gọi  
với cái tên là tiền công đức hay tiền giọt dầu  
thì đây đều là tài sản mà tín đồ, khách tham  
quan chuyển giao quyền sở hữu thông qua  
hoạt động tặng cho, dâng cúng, tài trợ cho cơ  
sở tôn giáo, cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo  
vì mục đích tu bổ và tổ chức các hoạt động lễ  
hội, các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo phù  
hợp với từng bối cảnh cụ thể.  
Do vậy, cần làm rõ nội hàm “lễ hội” ở đây  
là những lễ hội nào bởi Việt Nam có rất nhiều  
loại hình lễ hội với quy mô khác nhau, chủ  
thể tiến hành khác nhau, dẫn đến việc xác lập  
quyền sở hữu đối với tiền công đức, tiền tài  
trợ từ các hoạt động lễ hội sẽ thuộc về các chủ  
sở hữu khác nhau.  
2. Về nguyên tắc quyền góp, tiếp nhận  
các khoản công đức, tài trợ  
Điều 2 Dự thảo Thông tư quy định 9 nhóm  
nguyên tắc6, trong đó có quy định: Việc công  
đức, tài trợ cho tổ chức lễ hội, di tích và hoạt  
động lễ hội là hoạt động tự nguyện, không  
chủ thể nào được quyền can thiệp vào hoạt  
động này của người công đức, tài trợ. Nguyên  
tắc này phù hợp với quy định về quyền tự do  
tín ngưỡng, tôn giáo của công dân được quy  
định tại Điều 6 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm  
2016 và Điều 24 Hiến pháp năm 2013. Tuy  
nhiên, việc quy định nguyên tắc này tại Điều  
2 Dự thảo Thông tư, theo tác giả là không cần  
thiết vì đây là nguyên tắc đã được Hiến định.  
Bên cạnh đó, cách diễn đạt tại đoạn hai khoản  
1 Điều 2 Dự thảo Thông tư quy định về các  
hành vi được xem là đi ngược lại nguyên tắc  
tự nguyện. Sẽ là phù hợp hơn nếu Dự thảo  
Thông tư quy định thành các hành vi bị  
nghiêm cấm như:  
Hai là, về nội hàm thuật ngữ “tiền công đức”  
Bên cạnh thuật ngữ “lễ hội” và “hoạt động  
tổ chức lễ hội”, đối tượng được điều chỉnh bởi  
Dự thảo Thông tư này còn là các quan hệ xã  
hội liên quan đến hoạt động tiếp nhận, quản  
lý và sử dụng tiền công đức, tài sản được tài  
trợ cho di tích và hoạt động lễ hội. Trên thực  
tế, trong các văn bản pháp luật, ngay cả Dự  
thảo Thông tư, Ban soạn thảo cũng không có  
quy định định danh “tiền công đức” là gì?  
Tiền công đức khác gì với tiền giọt dầu? Nếu  
dự thảo Thông tư không làm được điều này  
thì các chủ thể có liên quan có thể “lách” quy  
định bằng việc đặt 1 hòm công đức và 10 hòm  
4ꢀ Phạm Loan Oanh, Nguyễn Hoàng, Hướng dẫn  
quản lý, tổ chức lễ hội truyền thống ở cơ sở, Nxb. Chính 5ꢀ Thịnh Nguyễn, “Lại nóng chuyện đếm hòm công  
trị Quốc gia – sự thật, Hà Nội, 2015. Link: hꢁp:// đức”. Link: hꢁps://thanhnien.vn/van-hoa/lai-nong-  
tuyengiaohungyen.vn/bai-viet/nhung-van-de-chung- chuyen-dem-hom-cong-duc-903496.html.  
ve-le-hoi-phan-loai-le-hoi-va-gia-tri-cua-le-hoi.aspx.  
6ꢀ Xem Điều 9, Dự thảo Thông tư.  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 85  
GÓP Ý DỰ THẢO THÔNG TƯ HƯỚNG DẪN QUẢN LÝ, THU CHI...  
(i) Nghiêm cấm việc ép buộc tổ chức, cá các trường hợp cụ thể để đảm bảo quyền, lợi  
nhân đóng góp tài trợ cho tổ chức lễ hội, di ích chính đáng cho chủ sở hữu tài sản, đồng  
tích và hoạt động lễ hội.  
thời cũng đảm bảo được mục đích của việc  
sử dụng loại tài sản trên theo một trong hai  
phương án:  
- Phương án 1: Điều chỉnh tên gọi của  
Điều 2 Dự thảo từ “nguyên tắc” thành “các  
hành vi bị nghiêm cấm” cho phù hợp với nội  
dung đã quy định.  
- Phương án 2: Bổ sung điều khoản độc  
lập quy định về nguyên tắc và mô tả nguyên  
tắc theo hướng khái quát. Ví dụ: Nguyên tắc  
tự nguyện; nguyên tắc công khai, minh bạch;  
nguyên tắc sử dụng đúng mục đích…  
3. Về phương thức tiếp nhận các khoản  
công đức, tài trợ cho tổ chức lễ hội, di tích và  
hoạt động lễ hội  
(ii) Nghiêm cấm coi việc công đức, tài trợ  
là điều kiện để tổ chức lễ hội hoặc điều kiện  
để tham gia, tham quan, du lịch, nghiên cứu  
lễ hội, di tích.  
…
Tương tự như vậy, khoản 2 và khoản 3  
Điều 2 Dự thảo Thông tư cũng đang thiết kế  
dưới dạng “không được” – “không thực hiện”:  
“2. Không tiếp nhận tiền công đức, tài trợ kèm  
theo các điều kiện làm sai lệch bản chất, nội dung,  
ý nghĩa lịch sử, giá trị văn hóa, truyền thống của lễ  
hội; làm sai lệch kiến trúc di tích, xâm hại cảnh quan,  
danh lam thắng cảnh và vi phạm quy định của pháp  
luật về di sản văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo.  
Điều 3 Dự thảo Thông tư quy định những  
chủ thể có thẩm quyền tiếp nhận công đức, tài  
trợ cho tổ chức lễ hội, di tích và lễ hội “mở tài  
khoản tiền gửi tại ngân hàng thương mại hoặc Kho  
bạc Nhà nước để phản ánh các khoản thu, chi tài  
chính cho công tác tổ chức lễ hội, quản lý di tích và  
hoạt động lễ hội”. Đây được xem là một trong  
những nội dung mới của Dự thảo Thông tư  
so với các văn bản pháp luật trước đây. Quy  
định này nhằm công khai số tiền thu được từ  
hoạt động tổ chức lễ hội, cơ sở quản lý di tích  
tiếp nhận công đức, tài trợ.  
3. Không được lợi dụng việc tổ chức lễ hội,  
quản lý và sử dụng di tích nhằm mục đích trục lợi  
cá nhân, phục vụ lợi ích nhóm…”.  
Đây là cấu trúc mô tả các hành vi bị  
nghiêm cấm phù hợp hơn là việc coi đó là  
nguyên tắc. Bởi lẽ, nguyên tắc phải là những  
tư tưởng khái quát nhất, không mang tính liệt  
kê, mô tả chi tiết như Dự thảo Thông tư đang  
quy định.  
Ngoài ra, khoản 4 điều luật này quy định:  
“Tiền công đức, tài trợ cho tổ chức lễ hội, di tích  
và hoạt động lễ hội không thuộc sở hữu cá nhân và  
không phản ánh vào ngân sách nhà nước; được để  
lại toàn bộ cho cơ quan, đơn vị tổ chức lễ hội, quản  
lý di tích sử dụng cho các hoạt động lễ hội, quản  
lý và sử dụng di tích theo quy định tại Thông tư  
này”. Tác giả cho rằng Dự thảo Thông tư đang  
tránh việc định danh chính xác chủ sở hữu  
tiền công đức, tiền tài trợ từ hoạt động lễ hội  
là ai. Một mặt, Dự thảo Thông tư phủ nhận  
cá nhân có thể sở hữu, một mặt lại loại trừ  
việc nhập loại tài sản này vào ngân sách nhà  
nước (tức không phải sở hữu toàn dân), mặt  
khác khẳng định tiền này được “để lại” cho  
chủ thể tổ chức lễ hội, quản lý di tích nhưng  
chủ thể này có phải chủ sở hữu không thì Dự  
thảo Thông tư không khẳng định cũng không  
phủ nhận. Tác giả không tán thành cách quy  
định này bởi như vậy không khác nào khiến  
tiền công đức trở thành loại tài sản không xác  
định được ai là chủ sở hữu.  
Theo tác giả, quy định này có ưu điểm và  
một số hạn chế như sau:  
Về ưu điểm: Nếu quy định này của Dự thảo  
Thông tư được thông qua thì sẽ giúp cơ quan  
quản lý nhà nước và các chủ thể quản lý di  
tích cũng thuận lợi hơn trong việc kiểm soát  
được dòng tiền công đức, tiền tài trợ cho di  
tích, hoạt động lễ hội. Bởi lẽ, khi tiền công  
đức, tiền tài trợ được chuyển vào tài khoản  
sẽ giúp các chủ thể minh bạch được nguồn tài  
sản này về đầu ra và đầu vào, các dữ liệu tài  
khoản sẽ được theo dõi và thống kê đầy đủ,  
nhanh chóng, chính xác bởi tổ chức tín dụng  
tiếp nhận mở tài khoản. Đối với nhà nước,  
quy định này cũng hỗ trợ hoạt động thu thuế  
của nhà nước (với những nguồn thu có tính  
thuế). Điều này cũng phù hợp với khoản 1  
Điều 15 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016  
về quản lý, sử dụng khoản thu được từ việc tổ  
chức lễ hội tín ngưỡng.  
Do vậy, trong thời gian tới, Ban soạn thảo  
Dự thảo Thông tư cần bám sát quy định của  
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, Hiến  
Về hạn chế:  
Một là, tính khả thi của quy định: Đây là  
chương 16 tôn giáo tại Việt Nam, BLDS năm quy định còn mới mẻ và chưa tiệm cận với  
2015 để có những quy định phù hợp hơn, định phong tục, tập quán và truyền thống của  
danh cụ thể chủ sở hữu tiền công đức trong người Việt Nam. Nhiều người khi đến với di  
86 Khoa học Kiểm sát  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
NGUYỄN THỊ LONG  
tích, tham gia các hoạt động lễ hội đều có nhân hoặc các nguồn khác theo quy định của  
mong muốn tự tay mình dâng tài sản vào pháp luật9. Những quy định này còn chung  
hòm công đức7; hoặc có những người không chung khiến cho việc áp dụng pháp luật còn  
nhiều quan điểm khác nhau.  
thạo công nghệ để chuyển khoản. Việc quy  
định này dẫn đến nhiều chủ thể rụt rè trong  
việc thực hiện việc tài trợ, dâng cúng. Hơn  
nữa, việc chưa xác định chính xác chủ sở hữu  
của tài sản này dẫn đến việc khó khăn trong  
việc mở tài khoản tại các tổ chức tín dụng  
hoặc Kho bạc Nhà nước. Những vấn đề được  
đặt ra khi mở tài khoản đó là: Chủ tài khoản  
là ai? Trong khoảng thời gian gửi vào ngân  
hàng, Kho bạc có được lựa chọn phương  
thức gửi tiết kiệm để tính lãi không? Việc  
sử dụng tiền lãi này được thực hiện như thế  
nào? Những nội dung này Dự thảo Thông tư  
chưa tập trung điều chỉnh cũng như không  
có chỉ dẫn chuyển tiếp đến văn bản pháp  
luật có liên quan để các chủ thể khi thực thi  
dễ dàng thực hiện.  
Vì vậy, Dự thảo Thông tư nên có điều  
khoản chuyển tiếp đến văn bản pháp luật  
hướng dẫn việc mở và sử dụng tài khoản  
thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ  
thanh toán. Ví dụ, khoản 1 Điều 3 Thông tư số  
23/2014/TT-NHNN ngày 19/8/2014 của Ngân  
hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn việc mở  
và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức  
cung ứng dịch vụ thanh toán quy định các  
hình thức mở tài khoản thanh toán bao gồm:  
Tài khoản thanh toán của cá nhân, tài khoản  
thanh toán của tổ chức và tài khoản thanh  
toán chung. Dự thảo Thông tư cần xác định  
cụ thể tại Điều 3 việc mở tài khoản để chuyển  
tiền công đức, tiền tài trợ cho hoạt động tổ  
Theo quan điểm của tác giả, việc nhận  
định ai là chủ sở hữu tiền công đức, tiền tài  
trợ cho hoạt động lễ hội là vấn đề mấu chốt  
của Dự thảo Thông tư. Khi định danh cụ thể  
chủ sở hữu thì việc quy định chủ tài khoản,  
chủ thể có quyền quản lý, sử dụng tiền công  
đức mới cụ thể và khả thi. Thực tế cho thấy  
hiện nay có hai nhóm chủ thể quản lý tiền  
công đức:  
Nhóm 1: Đối với những di tích có Ban  
quản lý, việc quản lý tiền công đức thường do  
Ban quản lý đảm nhiệm dưới sự giám sát của  
chính quyền, việc thu chi thông qua Kho bạc  
nhà nước và công khai trước nhân dân theo  
quy định.  
Nhóm 2: Đối với các cơ sở tín ngưỡng, cơ  
sở tôn giáo việc quản lý tiền công đức chủ yếu  
do người đại diện cơ sở tín ngưỡng, sư trụ trì  
thực hiện10.  
Tuy nhiên, việc phân định này cũng chưa  
thực sự phù hợp. Trong khoa học pháp luật  
dân sự, chủ sở hữu là người có toàn quyền đối  
với tài sản của mình. Quyền sở hữu cho phép  
chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi của  
mình đối với tài sản11. Do vậy, việc định danh  
chủ sở hữu đối với những nguồn thu trên là  
thực sự cần thiết.  
4. Về việc quản lý, thu chi tài chính cho  
công tác tổ chức lễ hội và hoạt động lễ hội  
Điều 4 Dự thảo Thông tư quy định về  
chức lễ hội, di tích là tài khoản nào trong số quản lý, thu chi tài chính cho công tác tổ  
ba tài khoản trên.  
chức lễ hội và hoạt động lễ hội với bốn nội  
dung: Một là, quy định về việc lập kế hoạch  
quyên góp, tiếp nhận tài trợ cho công tác  
tổ chức lễ hội; Hai là, quy định về nguồn  
thu từ hoạt động lễ hội; Ba là, quy định về  
nội dung chi; Bốn là, quy định về mức chi.  
Trong số những quy định này, quy định tại  
khoản 1 Điều 4 Dự thảo Thông tư trùng với  
nội dung của khoản 2 Điều 19 Nghị định số  
162/2017/NĐ–CP ngày 30/12/2017 quy định  
Hai là, tính thống nhất của nội dung Dự  
thảo Thông tư với quy định của các văn bản  
có liên quan. Những di tích, lễ hội trực thuộc  
cơ sở tôn giáo, tổ chức tôn giáo đã có sự điều  
chỉnh của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016.  
Theo quy định của luật này thì cơ sở tôn giáo,  
tổ chức tôn giáo được quyền “nhận tài sản hợp  
pháp do tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức cá  
nhân nước ngoài tự nguyện tặng cho”8. Những tài  
sản thuộc sở hữu của cơ sở tôn giáo, tổ chức  
tôn giáo, cơ sở tín ngưỡng bao gồm: Tài sản  
được hình thành từ đóng góp của thành viên  
tổ chức; quyên góp, tặng cho của tổ chức, cá  
9ꢀ Khoản 1 Điều 56 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016.  
10ꢀ Đinh Thuận, “Quản lý tiền công đức tại Hà Nội: Khó  
vẫn phải thực hiện”. Link: hꢁps://bnews.vn/quan-  
ly-tien-cong-duc-tai-ha-noi-kho-van-phai-thuc-  
7ꢀ Vũ Trung Kiên, “Khuyến khích chuyển khoản tiền công hien/80227.html.  
đức”, link: hꢁps://tuoitre.vn/khuyen-khich-chuyen- 11ꢀ Nguyễn Minh Oanh (2017), Vật quyền trong pháp  
khoan-tien-cong-duc-20210518203500135.htm.  
luật dân sự Việt Nam hiện đại, Sách chuyên khảo, Nxb.  
8ꢀ Khoản 6 Điều 7 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 167.  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 87  
GÓP Ý DỰ THẢO THÔNG TƯ HƯỚNG DẪN QUẢN LÝ, THU CHI...  
chi tiết một số điều và biện pháp thi hành từ tiền công đức, tiền tài trợ cho hoạt động  
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo. Điều luật này  
đã quy định về hoạt động quyên góp của  
cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo, tổ chức  
tôn giáo trực thuộc, cụ thể: “Người đại diện  
hoặc ban quản lý cơ sở tín ngưỡng; tổ chức tôn  
giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc có trách nhiệm  
thông báo bằng văn bản đến cơ quan nhà  
nước có thẩm quyền quy định tại khoản 3  
Điều này về việc tổ chức quyên góp, trong  
đó nêu rõ mục đích, địa bàn, cách thức, thời  
gian quyên góp; phương thức quản lý và sử  
dụng tài sản được quyên góp”. Điểm a khoản  
1 Điều 4 Dự thảo Thông tư đang chỉ nhắc lại  
quy định của khoản 2 Điều 19 Nghị định số  
162/2017/NĐ–CP. Do đó, tác giả đề xuất hai  
phương án:  
Phương án 1: Ban soạn thảo Dự thảo  
Thông tư bỏ điểm a khoản 1 Điều 4.  
Phương án 2: Nếu giữ lại điểm a khoản  
1 Điều 4 thì chỉ nên quy định dưới dạng  
chuyển tiếp đến khoản 2 Điều 19 Nghị định số  
162/2017/NĐ–CP, tránh việc nhắc lại nguyên  
văn quy định trên.  
tổ chức lễ hội, di tích? Trình tự, thủ tục báo  
cáo? (Điều 8, 9); Chế tài cho hành vi vi phạm?  
(Điều 10); Hiệu lực của thông tư (Điều 11).  
Theo đó, nội dung Dự thảo Thông tư cần  
thiết kế lại theo đề xuất sau:  
Phần 1: Quy định chung (từ Điều 1 đến  
Điều 4)  
Phần 2: Tiền công đức và tiền tài trợ (từ  
Điều 5 đến Điều 9)  
Phần 3: Hành vi vi phạm và trách nhiệm  
pháp lý (Điều 10)  
Phần 4: Hiệu lực thi hành (Điều 11)  
Để đảm bảo quy định của Dự thảo Thông  
tư được khả thi và hiệu quả, Dự thảo Thông  
tư cần được rà soát, loại bỏ những quy định  
không thực sự thống nhất với BLDS năm  
2015, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016,  
Luật Di sản văn hoá năm 2001, sửa đổi, bổ  
sung năm 2009./.  
5. Về xử lý vi phạm  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Dự thảo Thông tư không quy định chế tài  
áp dụng trong trường hợp các chủ thể không  
thực hiện nghĩa vụ quản lý tiền công đức, tài  
trợ cho hoạt động lễ hội và di tích theo quy  
định của pháp luật. Sự thiếu vắng này sẽ dẫn  
tới việc không thống nhất cho việc thực thi  
pháp luật trên thực tiễn và không đảm bảo  
tính răn đe đối với hành vi vi phạm pháp luật.  
Tác giả đề xuất ban soạn thảo cân nhắc hai  
phương án:  
Phương án 1: Bổ sung chế tài xử lý vi  
phạm.  
Phương án 2: Chuyển tiếp đến quy định  
pháp luật chuyên ngành có liên quan, ví dụ  
như Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.  
1. Dự thảo Thông hướng dẫn quản lý, thu  
chi tài chính cho công tác tổ chức lễ hội và tiền  
công đức, tài trợ cho di tích và hoạt động lễ hội.  
2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại  
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB. Chính trị  
quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011.  
3. Phạm Loan Oanh, Nguyễn Hoàng, Hướng  
dẫn quản lý, tổ chức lễ hội truyền thống ở cơ sở, Nxb.  
Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2015.  
4. Thịnh Nguyễn, “Lại nóng chuyện đếm hòm  
công đức”. Link: hꢁps://thanhnien.vn/van-hoa/lai-  
nong-chuyen-dem-hom-cong-duc-903496.html.  
5. Vũ Trung Kiên, “Khuyến khích chuyển  
khoản tiền công đức”, link: hꢁps://tuoitre.  
vn/khuyen-khich-chuyen-khoan-tien-cong-  
duc-20210518203500135.htm.  
6. Đinh Thuận, “Quản lý tiền công đức tại Hà  
Nội: Khó vẫn phải thực hiện”. Link: hꢁps://bnews.  
vn/quan-ly-tien-cong-duc-tai-ha-noi-kho-van-  
phai-thuc-hien/80227.html.  
7. Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ (2017),  
Bình luận khoa học Bộ Luật Dân sự năm 2015 của  
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Công  
an nhân dân, Hà Nội.  
8. Nguyễn Minh Oanh (2017), Vật quyền  
trong pháp luật dân sự Việt Nam hiện đại, Sách  
6. Về kỹ thuật lập pháp  
Về bố cục của Dự thảo Thông tư: Theo tác  
giả, nội dung của Dự thảo Thông tư cần trả  
lời được các câu hỏi: Tiền công đức, tiền tài  
trợ được điều chỉnh trong văn bản này là gì?  
Cho những loại lễ hội nào? (Điều 1: Phạm vi  
và đối tượng điều chỉnh và Điều 2: Giải thích  
thuật ngữ); Nguyên tắc cơ bản các chủ thể  
cần tuân theo? (Điều 3); Những hành vi bị  
nghiêm cấm? (Điều 4); Chủ thể nào được tiếp  
nhận, quản lý, sử dụng tiền công đức; tiền  
tài trợ cho hoạt động lễ hội? (Điều 5: Tiền  
công đức, Điều 6: Tiền tài trợ); Phương thức  
thực hiện? (Điều 7); Nội dung chi và mức chi chuyên khảo, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.  
88 Khoa học Kiểm sát  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
pdf 5 trang Thùy Anh 12820 Free
Bạn đang xem tài liệu "Góp ý dự thảo thông tư hướng dẫn quản lý, thu chi tài chính cho công tác tổ chức lễ hội và tiền công đức, tài trợ cho di tích và hoạt động lễ hội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgop_y_du_thao_thong_tu_huong_dan_quan_ly_thu_chi_tai_chinh_c.pdf