Quyền tự do kinh doanh trong giải quyết tranh chấp kinh doanh bởi tòa án

INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2019  
ICYREB 2019  
QUYỀN TỰ DO KINH DOANH TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP  
KINH DOANH BỞI TÒA ÁN  
BUSINESS FREEDOM IN SETTLEMENT OF BUSINESS DISPUTES BY COURT  
Nguyễn Thị Thu Trang  
Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh  
TÓM TẮT  
Quyền tự do giải quyết tranh chấp kinh doanh là một trong những thành tố của quyền tự do kinh doanh. Đảm bảo  
quyền tự do giải quyết tranh chấp kinh doanh là đảm bảo quyền thực hiện các hoạt động khắc phục, loại trừ và  
tháo gỡ các tranh chấp kinh doanh nhằm đảm bảo lợi ích của chủ thể kinh doanh. Trong bài viết này, dưới góc  
nhìn so sánh, tác giả nghiên cứu pháp luật quốc tế và pháp luật Hoa Kỳ, Trung Quốc, Pháp, Nhật Bản với pháp  
luật Việt Nam để thấy được sự tương đồng và khác biệt. Từ đó, tác giả đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp  
luật Việt Nam để đảm bảo quyền tự do giải quyết tranh chấp kinh doanh thông qua Tòa án.  
Từ khóa: Quyền tự do kinh doanh, giải quyết tranh chấp, kinh doanh, tòa án.  
ABSTRACT  
Freedom right of business dispute resolution is one of the components of business freedom. Ensuring freedom  
right of business disputes resolution is ensuring the right to conduct activities to overcome, eliminate and remove  
business disputes to ensure the interests of business entities. In this article, by comparation methodology, the  
author studies international law and the laws of the United States, China, France, and Japan with Vietnamese  
laws to see the similarities and differences. Since then, the author made a number of recommendations to improve  
Vietnamese law to ensure freedom right of business disputes resolution by the Court.  
Keywords: Business freedom, dispute resolution, business, court.  
1. Giới thiệu  
Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa 1966 tại Khoản 1, Điều 11 ghi nhận:  
“Mọi người được có một cuộc sống thích đáng cho bản thân và gia đình, quyền được cải thiện không  
ngừng điều kiện sống”. Để đảm bảo quyền sống cuộc sống thích đáng và không ngừng cải thiện điều kiện  
sống (giá trị tốt đẹp mà con người hướng tới) thì đảm bảo quyền tự do nói chung và quyền tự do kinh  
doanh nói riêng là tất yếu. Xét dưới góc độ triết lý khách quan, tự do nói chung và quyền tự do kinh  
doanh nói riêng là phạm trù tồn tại khách quan, mang tính tất yếu, là quyền tự nhiên của con người (Bùi  
Xuân Hải, 2011). Trong quá trình kinh doanh sẽ xuất hiện những tranh chấp giữa các chủ thể kinh doanh.  
Việc xây dựng hành lang pháp lý nhằm bảo vệ quyền tự do giải quyết tranh chấp kinh doanh là cần thiết.  
Bài viết này dựa trên cơ sở lý thuyết của quyền tự do cá nhân và tự do ý chí để đánh giá được ưu, nhược  
điểm của pháp luật Việt Nam. Từ đó, tác giả đề xuất giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam  
nhằm đảm bảo quyền tự do giải quyết tranh chấp của chủ thể kinh doanh thông qua Tòa án.  
2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu  
2.1. Cơ sở lý thuyết  
Quyền tự do kinh doanh nói chung và tự do giải quyết tranh chấp kinh doanh nói riêng dựa trên nền  
tảng quyền tự do cá nhân và tự do ý chí. Cụ thể:  
Quyền tự do cá nhân: “Quyền tự do” là khái niệm được nhiều học giả tiếp cận về “tự do” và  
“quyền”. (1) Để lý giải cho khái niệm “tự do”, có các quan điểm sau: (i) Theo Montesquieu: “Tự do với ý  
nghĩa triết học là được thực hiện ý chí của mình hoặc ít ra là được nói lên quan niệm về thực hiện ý chí  
ấy, và trong một nước có pháp luật, tự do chỉ có thể là được làm những cái nên làm và không bị ép buộc  
làm những điều không nên làm” (Montesquieu, 2010). (ii) Theo Friedrich Hayek: “Tự do chân chính,  
922  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2019  
ICYREB 2019  
không hề không nhất quán với pháp luật, mà trên thực tế phụ thuộc vào pháp luật. Pháp luật đích thực là  
hiện thân của tự do. Pháp luật là nhân tố cốt lõi của tự do. Pháp luật đúng đắn là tự do và tự do là sự thống  
trị của pháp luật” (Mai Hồng Quỳ, 2010). Tóm lại, tự do là được thực hiện ý chí hoặc thể hiện ý chí của  
mình mà không bị ép buộc; thể hiện và thực hiện ý chí thống nhất với pháp luật và được pháp luật ghi  
nhận, bảo vệ. (2) Tiếp cận về “quyền”: Theo Ayn Rand, quyền là sự tự do hành động theo lý trí, vì các  
mục tiêu riêng, do sự lựa chọn riêng tự nguyện, không bị cưỡng ép (Mai Hồng Quỳ, 2010). Theo Từ  
điển tiếng Việt, quyền là điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi  
hỏi (Trung tâm từ điển học, 2009). Từ những quan điểm trên về “quyền” và “tự do”, “quyền tự do” là  
điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho chủ thể được hưởng, được làm, được đòi hỏi theo đúng ý  
chí của mình mà không bị ép buộc bởi bất kỳ chủ thể nào khác.  
Từ những quan điểm nêu trên của các học giả có thể rút ra: “Tự do cá nhân là điều pháp luật hoặc  
xã hội công nhận cho chủ thể được hưởng, được làm, được đòi hỏi, đồng thời cá nhân đó phải công nhận  
và tôn trọng tự do của người khác”.  
Tự do ý chí: Tự do ý chí là vấn đề được nhiều nhà triết học từ cổ đại đến nay tranh luận. Khi đề  
cập tới tự do ý chí, các triết gia đã hình thành hai trường phái lớn đó là những người theo: (i) Thuyết tất  
định như Aristotle, Kant,… cho rằng: tự do ý chí là tự do hành động dựa trên nguyên nhân nào đó (Andy  
Yu, 2009); (ii) Thuyết quyết định như Hobbe, Hume,…cho rằng: tự do ý chí là tự do quyết định và nó là  
nguyên nhân của hành động (Raymond Wacks, 2011 và Bob Doyle, 2011).  
Tác giả bài viết nhận thấy, cách tiếp cận tự do ý chí theo Thuyết quyết định là phù hợp. Bởi vì, tự  
do ý chí có nghĩa là tự do quyết định, chứ không phải tự do hành động. Đó là tự do chọn lựa một kiểu  
hành động nào đó, một mục tiêu nào đó, hay một lối sống nào đó. Nghĩa là, chúng ta lựa chọn hành vi tùy  
thuộc vào những hoàn cảnh ngoại tại. Nói cách khác, tự do ý chí là chủ thể tự do lựa chọn và quyết định  
hành động chứ không phải có hành động là tất yếu xảy ra từ một nguyên nhân nào đó.  
Từ việc tham khảo các quan điểm của các học giả, tác giả bài viết đưa ra cách tiếp cận như sau về  
tự do ý chí: “Tự do ý chí là sự lựa chọn và hành động tự do một cách có ý thức để đạt được một mục đích  
nào đó, theo cách này chủ thể điều khiển được chính bản thân trong những hành động và quyết định của  
mình”. Tuy vậy, tự do ý chí không có nghĩa là được tự do lựa chọn và quyết định mọi hành động mà sự tự  
do đó phải được thực hiện trong khuôn khổ nhất định nhằm tôn trọng quyền lợi của chủ thể khác và của  
xã hội.  
Dựa trên nền tảng lý thuyết của quyền tự do cá nhân và tự do ý chí, tác giả đưa ra quan điểm về  
quyền tự do kinh doanh như sau: “Quyền tự do kinh doanh là quyền kinh tế của con người, được pháp  
luật quốc gia và pháp luật quốc tế ghi nhận nhằm đảm bảo các quyền tự do gia nhập thị trường; tổ chức  
và thực hiện hoạt động kinh doanh; giải quyết tranh chấp kinh doanh và rút khỏi thị trường của con  
người”.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
2.2.1. Phương pháp phân tích  
Phương pháp này được sử dụng trong tất cả các nội dung của đề tài. Cụ thể là được sử dụng để đi  
sâu tìm hiểu, phân tích các quan điểm và các quy định pháp luật về quy định về tự do kinh doanh nói  
chung và quyền tự do giải quyết tranh chấp kinh doanh nói riêng. Phân tích làm rõ thực trạng các quy  
định của pháp luật kinh tế để chỉ ra mặt tích cực, hạn chế trong việc bảo vệ quyền tự do giải quyết tranh  
chấp kinh doanh.  
2.2.2. Phương pháp tổng hợp  
Phương pháp này được sử dụng tổng hợp các quan điểm triết học, pháp lý về quyền tự do kinh  
doanh nói chung và quyền tự do giải quyết tranh chấp kinh doanh nói riêng. Bên cạnh đó, phương pháp  
923  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2019  
ICYREB 2019  
được sử dụng để tổng hợp những phân tích quy định của pháp luật để có cơ sở đề xuất giải pháp, kiến  
nghị hoàn thiện pháp luật.  
2.2.3. Phương pháp so sánh luật học  
Phương pháp này được sử dụng trong việc so sánh quy định của pháp luật Việt Nam với pháp luật  
nước ngoài và các văn bản pháp lý quốc tế về tự do kinh doanh. Cụ thể: so sánh quy định của pháp luật  
Việt Nam với pháp luật của Hoa Kỳ, Trung Quốc, Pháp, Nhật Bản và quy định của Luật quốc tế. Tác giả  
đánh giá được những ưu, nhược điểm của pháp luật Việt Nam so với pháp luật các quốc gia và pháp luật  
quốc tế về quyền tự do giải quyết tranh chấp.  
2.2.4. Phương pháp lịch sử  
Phương pháp này được sử dụng để nghiên cứu quy định của pháp luật qua các thời kỳ khác nhau.  
Từ đó, tác giả đánh giá được sự phù hợp hay không phù hợp, sự tiến bộ hay không tiến bộ của pháp luật  
trong các thời điểm lịch sử nhất định.  
3. Nội dung  
3.1. Quyền tự do giải quyết tranh chấp kinh doanh thông qua Tòa án dưới góc nhìn so sánh  
Thứ nhất, tự do lựa chọn tòa án giải quyết tranh chấp  
Các chủ thể kinh doanh khi tham gia hoạt động kinh doanh thường dự liệu tranh chấp có thể xảy ra.  
Các bên tranh chấp hoàn toàn có thể thỏa thuận lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp thông qua tòa  
án và ấn định trước tòa án sẽ giải quyết nếu tranh chấp phát sinh. Thực vậy:  
Đối với những tranh chấp thương mại không có yếu tố nước ngoài, các bên tranh chấp có thể lựa  
chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng tòa án nhân dân Việt Nam và thỏa thuận trước tòa án nơi cư  
trú của một trong các bên tham gia giải quyết tranh chấp phát sinh. Điều này được ghi nhận trong Điểm a  
và b, Khoản 1, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015: “Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là  
cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục  
sơ thẩm những tranh chấp về dân sự…” và “các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản  
yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của  
nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức…”.  
Đối với tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài, các bên tranh chấp có quyền thỏa thuận lựa  
chọn tòa để giải quyết tranh chấp. Minh chứng cho điều này, ở một số luật chuyên ngành Việt Nam thừa  
nhận quyền tự do thỏa thuận lựa chọn tòa án giải quyết tranh chấp. Theo Bộ luật Hàng hải Việt Nam  
2015, Khoản 1, Điều 339 - Giải quyết tranh chấp hàng hải có ít nhất một bên là tổ chức, cá nhân nước  
ngoài quy định: “Trường hợp hợp đồng có ít nhất một bên là tổ chức, cá nhân nước ngoài thì các bên  
tham gia hợp đồng có thể thỏa thuận đưa tranh chấp ra giải quyết tại Trọng tài hoặc Tòa án ở nước  
ngoài”. Tương tự, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam 2006 sửa đổi, bổ sung năm 2014, tại Khoản 1,  
Điều 172: “Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng vận chuyển  
hàng không quốc tế hành khách, hành lý, hàng hóa theo lựa chọn của người khởi kiện trong các trường  
hợp sau đây: a) Người vận chuyển có trụ sở chính hoặc địa điểm kinh doanh chính tại Việt Nam;  
b) Người vận chuyển có địa điểm kinh doanh và giao kết hợp đồng vận chuyển tại Việt Nam; c) Việt Nam  
là địa điểm đến của hành trình vận chuyển”.  
Bộ Luật Tố tụng Dân sự Việt Nam 2015 không quy định cụ thể về việc lựa chọn tòa án giải quyết  
trong các tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài nhưng rải rác ở các luật chuyên ngành có ghi nhận  
quyền này của chủ thể kinh doanh. Điều này cho thấy pháp luật Việt Nam tôn trọng quyền tự do lựa chọn  
tòa án giải quyết tranh chấp thương mại của các bên. Thêm vào đó, tôn trọng quyền tự do lựa chọn tòa án  
giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật Việt Nam tương đồng với pháp luật của các nước trên  
thế giới và pháp luật quốc tế.  
924  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2019  
ICYREB 2019  
Pháp luật của Cộng hòa Pháp không có văn bản nào quy định cụ thể vấn đề thỏa thuận chọn tòa án  
nước ngoài đối với những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án Pháp (Bành Quốc Tuấn, 2012).  
Tuy nhiên, trong các bản án, tòa án Pháp thừa nhận nguyên tắc cho phép các bên có quyền thỏa thuận lựa  
chọn tòa án nước ngoài để giải quyết tranh chấp nếu tòa án nước ngoài chấp nhận giải quyết và thỏa thuận  
không rơi vào những trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết riêng biệt của tòa án Pháp (Đỗ Văn Đại &  
Mai Hồng Quỳ, 2009).  
Tương tự, pháp luật Trung Quốc cũng ghi nhận quyền tự do lựa chọn tòa án giải quyết tranh chấp  
có yếu tố nước ngoài. Theo đó, các bên tranh chấp về hợp đồng có yếu tố nước ngoài hoặc các bên có  
tranh chấp về quyền và lợi ích về tài sản có yếu tố nước ngoài có thể thỏa thuận bằng văn bản lựa chọn  
Tòa án nhân dân đặt tại nơi có liên quan đến vụ tranh chấp thực tế với tư cách là Tòa án xét xử vụ tranh  
chấp; nếu tòa án nhân dân Trung Hoa được lựa chọn là tòa án có thẩm quyền thì không được vi phạm  
những quy định về thẩm quyền theo cấp và thẩm quyền chuyên trách theo Luật Tố tụng Dân sự Trung  
Quốc (Article 242 Civil Procedure Law of the People’s Republic of China 1991).  
Pháp luật Nhật Bản, các bên tranh chấp có quyền tự do lựa chọn tòa án giải quyết tranh chấp.  
Thông qua thỏa thuận, các bên có thể xác định tòa án của một quốc gia mà họ sẽ nộp đơn khởi kiện  
(Article 3-7(1) Code of Civil Procedure of Japan 2011).  
Việt Nam cũng như các nước trên thế giới tôn trọng quyền tự định đoạt của các chủ thể trong việc  
lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp. Điều này hoàn toàn tương đồng với các điều ước quốc tế liên  
quan. Trên thực tế, các chủ thể tham gia vào quan hệ thương mại quốc tế thường dự liệu lựa chọn trước  
cơ quan giải quyết tranh chấp, trong đó có tòa án. Để đảm bảo cho quyền của chủ thể kinh doanh và nhằm  
thúc đẩy thương mại quốc tế, rất nhiều điều ước quốc tế đã ghi nhận nguyên tắc tự định đoạt này của  
chủ thể.  
Công ước Brussell 1968 về thẩm quyền và thi hành bản án về các vấn đề dân sự và thương mại ghi  
nhận quyền lựa chọn tòa của các bên tranh chấp. Nếu các bên (một hoặc nhiều bên có trụ sở tại một nước  
ký kết) đã đồng ý lựa chọn tòa án của một nước thành viên công ước để giải quyết tranh chấp thì tòa án  
đó có thẩm quyền xét xử riêng biệt đối với vụ tranh chấp đó (Article 17 Convention Brussel 1968).  
Tương tự, Công ước Lahaye 2005 về thỏa thuận lựa chọn tòa án cũng ghi nhận tại Khoản 1, Điều 5: “Tòa  
án của một nước được chọn trong thỏa thuận lựa chọn tòa án của các bên có thẩm quyền tuyệt đối giải  
quyết vụ việc, trừ khi thỏa thuận vô hiệu tại nước đó”. Bên cạnh tòa án được lựa chọn thông qua thỏa  
thuận của các bên tranh chấp, tòa án còn được lựa chọn theo ý chí của nguyên đơn. Công ước Liên hợp  
quốc về vận chuyển hàng hóa bằng đường biển (Hamburg 1978) quy định về quyền lựa chọn tòa án của  
nguyên đơn. Trong những vụ kiện liên quan đến chuyên chở hàng hóa theo công ước này, bên nguyên  
đơn có thể theo sự lựa chọn của mình, phát đơn kiện tại một tòa án mà luật pháp của nước có tòa án này  
công nhận là có thẩm quyền và trong phạm vi quyền hạn xét xử của tòa án nước đó (Article 21(1),  
Hamburg Rule 1978).  
Dù là thỏa thuận giữa các bên hay đơn phương lựa chọn tòa án thì các chủ thể tranh chấp đã có  
quyền định đoạt rất lớn khi lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng tòa án. Nói cách khác, luật  
quốc gia cũng như pháp luật quốc tế tôn trọng quyền tự do lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp, tôn  
trọng quyền tự do kinh doanh của chủ thể. Qua đó cũng thấy rằng pháp luật Việt Nam có sự tương đồng  
với pháp luật các quốc gia và pháp luật quốc tế nên quyền tự do lựa chọn tòa án nói riêng, quyền tự do  
kinh doanh nói chung đã được đảm bảo trong pháp luật Việt Nam.  
Thứ hai, tự do thương lượng, hòa giải trong quá trình tố tụng tại tòa án  
Trong quan hệ thương mại, tự do ý chí của các chủ thể kinh doanh là nguyên tắc then chốt để thiết  
lập quan hệ. Vì vậy, kể cả khi tranh chấp phát sinh thì ý chí của các bên trong việc giải quyết mâu thuẫn,  
xung đột cần phải tôn trọng. Chính vì lẽ đó, pháp luật Việt Nam ghi nhận quyền tự do thương lượng, hòa  
giải của các bên tranh chấp ngay khi đang tiến hành tố tụng tại tòa án. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ  
925  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2019  
ICYREB 2019  
thẩm vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ  
những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được theo quy định của pháp luật  
(Khoản 1, Điều 205 Bộ Luật tố tụng dân sự Việt Nam 2015). Theo Điểm a, Khoản 1, Điều 205 Bộ  
luật Tố tụng Dân sự Việt Nam 2015 quy định về nguyên tắc tiến hành hòa giải như sau: “Tôn trọng sự tự  
nguyện thỏa thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các  
đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình”. Sự tự do ý chí của đương sự trong giai  
đoạn hòa giải được tôn trọng cho thấy pháp luật Việt Nam tôn trọng quyền tự do kinh doanh của chủ thể  
kinh doanh. Bên cạnh đó, ngay tại phiên xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm, tòa án cũng tôn trọng và công  
nhận thỏa thuận của các bên tranh chấp. Ví dụ, Khoản 1, Điều 246 Bộ luật Tố tụng Dân sự có ghi nhận  
như sau: “Chủ tọa phiên tòa hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay  
không; trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thỏa thuận của họ  
là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội thì Hội đồng xét xử ra quyết  
định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc giải quyết vụ án”.  
Từ những điểm nêu trên cho thấy, ở các giai đoạn tố tụng khác nhau, nếu các bên đương sự tự thỏa  
thuận hoặc có sự hỗ trợ của tòa án để đưa ra được thỏa thuận giải quyết tranh chấp thì tòa án sẽ công nhận  
sự thỏa thuận đó. Quyền tự do ý chí, tự do định đoạt của chủ thể kinh doanh được đảm bảo. Những quy  
định này của pháp luật Việt Nam hoàn toàn tương đồng với các quốc gia khác trên thế giới.  
Pháp luật tố tụng dân sự của Pháp dành hẳn Mục VI, Quyển 1 để ghi nhận về thương lượng và hòa  
giải trong tố tụng dân sự. Trong đó, những vấn đề pháp lý liên quan tới quyền thương lượng của các bên  
được ghi nhận từ Điều 127 đến 131 Bộ luật Tố tụng Dân sự; quyền giải quyết tranh chấp với sự hỗ trợ  
hòa giải của tòa án được ghi nhận từ Điều 131-1 đến 131-15. Điều này cho thấy, Bộ luật Tố tụng Dân sự  
Pháp quy định rất kỹ về quyền, thủ tục và công nhận thương lượng và hòa giải của các bên tranh chấp.  
Theo đó, ngay cả khi tiến hành thủ tục tố tụng tại tòa án, thì các bên vẫn được quyền định đoạt để giải  
quyết tranh chấp và tòa án công nhận kết quả thỏa thuận, hòa giải của các bên.  
Theo pháp luật Trung Quốc, trong phiên xử vụ án dân sự, Tòa án nhân dân phân biệt giữa đúng và  
sai trên cơ sở các sự kiện rõ ràng và hòa giải giữa các bên tranh chấp dựa trên cơ sở tự nguyện. Một thỏa  
thuận giải quyết đạt được giữa hai bên thông qua hòa giải phải là ý chí tự do của chính họ và không bị ép  
buộc. Khi có thỏa thuận hòa giải thông qua hòa giải, Tòa án nhân dân lập một bản kết luận hòa giải. Kết  
luận hòa giải phải nêu rõ yêu cầu, các sự kiện của vụ án và kết quả hòa giải. Bản kết luận hòa giải sẽ do  
Thẩm phán và Thư ký Tòa án đóng dấu, do tòa án nhân dân đóng dấu, và phục vụ cho các bên. Khi hai  
bên có liên quan nhận được thì bản tuyên bố hòa giải sẽ có hiệu lực pháp luật (Article 85, 88, 89  
Procedure Law of the People’s Republic of China 1991).  
Tương tự, pháp luật Nhật Bản cũng ghi nhận quyền tự do thỏa thuận của các bên ngay cả khi tiến  
hành tố tụng tại tòa án. Một trong các cách xét xử theo thủ tục rút gọn là giải quyết các vụ việc thông qua  
thỏa thuận và hòa giải (Đặng Hoàng Oanh, 2009). Tố tụng Dân sự Nhật Bản không có hệ thống xét xử  
bồi thẩm, nhưng có thể giải quyết tranh chấp thông qua ủy ban hòa giải hoặc uỷ viên xét xử đóng vai trò  
quan trọng trong quá trình hòa giải. Thủ tục hòa giải không ghi nhận trong Luật Tố tụng Dân sự nhưng  
được ghi nhận trong Luật Hòa giải của Nhật Bản và hai văn bản luật có sự gắn kết, thống nhất tôn trọng  
quyền tự do ý chí của các bên. Theo đó, nếu các điều khoản hòa giải của các bên được ghi vào hồ sơ, hòa  
giải được coi là thành công thì kết quả hòa giải đó sẽ có cùng hiệu lực như việc giải quyết tư pháp (như  
phán quyết của tòa án) (Article 24-3(2) Civil Conciliation Act of Japan 1951). Nếu thấy thông thể đạt  
được thỏa thuận, sau khi nghe ý kiến của Hội đồng hòa giải, tòa án sẽ ra quyết định theo sáng kiến của  
mình nhưng vẫn phải trong phạm vi yêu cầu của các bên và khi đã xem xét toàn bộ tình tiết hợp lý đối với  
các bên (Dương Quỳnh Hoa, 2008).  
Qua đó cho thấy, dù các quốc gia có quy định về thủ tục hòa giải và tố tụng dân sự ở hai văn bản  
pháp luật khác nhau hay có quy định lồng ghép trong Bộ luật Tố tụng Dân sự thì quyền tự do ý chí của  
chủ thể kinh doanh vẫn được đảm bảo. Nghĩa là tòa án tạo điều kiện, hỗ trợ và thừa nhận kết quả thương  
926  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2019  
ICYREB 2019  
lượng, hòa giải của các bên tranh chấp. Kết quả thương lượng, hòa giải ngay khi các bên đang tiến hành  
thủ tục tố tụng tòa án vẫn được công nhận và được tòa án công nhận. Điều này một lần nữa khẳng định  
quyền tự do định đoạt của chủ thể kinh doanh trong giải quyết tranh chấp nói riêng và quyền tự do kinh  
doanh nói chung được Việt Nam và các quốc gia trên thế giới ghi nhận và tôn trọng. Đồng nghĩa với việc  
quyền tự do kinh doanh của chủ thể kinh doanh đã được đảm bảo trong pháp luật Việt Nam.  
Thứ ba, quyền tự do lựa chọn luật áp dụng để giải quyết tranh chấp  
Trong quan hệ pháp luật về hoạt động kinh doanh, thông thường tranh chấp phát sinh giữa các chủ  
thể không có yếu tố nước ngoài thì không đặt ra vấn đề lựa chọn luật áp dụng. Các quan hệ dân sự, ở đây  
là quan hệ thương mại, có yếu tố nước ngoài mới đặt ra vấn đề lựa chọn luật áp dụng. Trong nhiều văn  
bản pháp luật Việt Nam đã ghi nhận quyền thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng của các đương sự. Tại Khoản 2,  
Điều 664 Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015 đã ghi nhận rõ quyền tự do lựa chọn luật của các đương sự khi  
tham gia vào quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài: “Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội  
chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc luật Việt Nam có quy định các bên có quyền lựa chọn thì pháp  
luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định theo lựa chọn của các bên”. Có  
nhiều ngành luật chuyên ngành đã quy định quyền lựa chọn pháp luật của các bên khi tham gia vào quan  
hệ có yếu tố nước ngoài như:  
Theo Khoản 2, Điều 5 Luật Thương mại Việt Nam 2005 ghi nhận: “Các bên trong giao dịch  
thương mại có yếu tố nước ngoài được thỏa thuận áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại  
quốc tế nếu pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế đó không trái với các nguyên tắc cơ bản  
của pháp luật Việt Nam”.  
Tương tự, tại Khoản 2, Điều 5 Bộ luật Hàng hải Việt Nam cũng ghi nhận quyền lựa chọn luật áp  
dụng: “Các bên tham gia trong hợp đồng liên quan đến hoạt động hàng hải mà trong đó có ít nhất một  
bên là tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài thì có quyền thỏa thuận áp dụng luật nước ngoài hoặc tập quán  
hàng hải quốc tế trong quan hệ hợp đồng và chọn Trọng tài, Tòa án ở một trong hai nước hoặc ở một  
nước thứ ba để giải quyết tranh chấp”.  
Như vậy, quyền lựa chọn pháp luật điều chỉnh của các chủ thể trong quan hệ dân sự có yếu tố nước  
ngoài đã được ghi nhận trong pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, đó là các quy định rất hiếm hoi (Đỗ Văn  
Đại, 2013). Dù sao, những quy định hiếm hoi về quyền lựa chọn pháp luật của các bên cũng là cơ sở để  
tòa án sử dụng luật của nước được lựa chọn để giải quyết tranh chấp. Đây là một trong những điểm thể  
hiện pháp luật Việt Nam tôn trọng quyền tự do lựa chọn luật của các bên tranh chấp và cũng là điểm sáng  
thể hiện pháp luật Việt Nam tương đồng với pháp luật các nước trong nội dung này.  
Các quốc gia khác trên thế giới rất coi trọng quyền tự do lựa chọn luật của các chủ thể kinh doanh  
khi tham gia vào quan hệ kinh doanh có yếu tố nước ngoài. Minh chứng cho điều này:  
Luật Tư pháp quốc tế Trung Quốc 2010 đã rất tôn trọng nguyên tắc tự do lựa chọn pháp luật đối  
với các bên. Luật Tư pháp quốc tế Trung Quốc ra đời đã thay đổi một số những khiếm khuyết của Đạo  
luật xung đột trước đây về chọn luật trong quan hệ: Hợp đồng, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, tài  
sản, chứng khoán,... (Huo, Z., 2011). Cụ thể, các quy định sau cho phép các bên lựa chọn pháp luật điều  
chỉnh: Khoản 2 Điều 16 về đại diện theo ủy quyền; Điều 18 về thỏa thuận trọng tài; Điều 37 về vật quyền  
đối với động sản; Điều 38 về vật quyền trong quá trình vận chuyển; Điều 44 về bồi thường thiệt hại ngoài  
hợp đồng; Điều 47 về được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật và thực hiện công việc không có ủy  
quyền; Điều 49 về chuyển giao và sử dụng theo thỏa thuận quyền sở hữu trí tuệ; Điều 50 về bồi thường  
thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ... (Đỗ Văn Đại, 2013).  
Tương tự, pháp luật Hoa Kỳ rất tôn trọng quyền lựa chọn luật của các bên khi tham gia quan hệ  
thương mại. Ví dụ như luật của Bang Delware ghi nhận quyền của các bên lựa chọn luật áp dụng trong  
quan hệ thương mại. Theo đó, trừ trường hợp có quy định khác, khi giao dịch phù hợp với mối quan hệ  
của Bang Delware với bang khác hoặc với quốc gia khác, các bên có thể lựa chọn pháp luật của bang này  
927  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2019  
ICYREB 2019  
hoặc của bang khác hoặc quốc gia khác sẽ điều chỉnh các quyền và nghĩa vụ của họ (6 DE Code § 1-301  
(2016)). Cách tiếp cận về quyền tự do lựa chọn luật của Bang Delware nói riêng và Hoa Kỳ nói chung  
khá mở cho chủ thể kinh doanh. Thay vì quy định quan hệ nào được lựa chọn luật áp dụng, pháp luật Hoa  
Kỳ quy định các quan hệ thương mại đều được lựa chọn luật trừ một số quy định khác. Từ đó cho thấy,  
các chủ thể kinh doanh tự do lựa chọn luật áp dụng nên tương ứng khi có tranh chấp phát sinh, tòa án thụ  
lý giải quyết phải áp dụng luật các bên đã lựa chọn.  
Qua góc nhìn so sánh trên cho thấy, pháp luật Việt Nam hiện so với pháp luật các nước trên thế  
giới chưa có sự thừa nhận rộng rãi quyền tự do lựa chọn luật trong các quan hệ dân sự có yếu tố nước  
ngoài. Tuy vậy, không thể phủ nhận rằng trong nhiều quan hệ có yếu tố nước ngoài pháp luật Việt Nam  
đã ghi nhận quyền tự do lựa chọn luật của các bên. Nhờ vào sự thừa nhận quyền tự do lựa chọn luật này  
thì khi có tranh chấp xảy ra, tòa án thụ lý giải quyết tranh chấp sẽ phải tôn trọng và áp dụng luật các bên  
đã lựa chọn. Điều này cho thấy, ngay cả khi giải quyết tranh chấp bằng tòa án, các bên tranh chấp vẫn  
được tự do thể hiện ý chí qua việc lựa chọn luật áp dụng để giải quyết tranh chấp.  
Từ những điều trên nhận thấy, quyền tự do kinh doanh của chủ thể kinh doanh được đảm bảo một  
cách gián tiếp thông qua quyền tự định đoạt của mình khi tham gia với tư cách đương sự trong vụ tranh  
chấp thương mại được giải quyết bằng tòa án. Quyền tự định đoạt của đương sự là quyền cơ bản của con  
người nên đã được đảm bảo trong pháp luật Việt Nam và được đảm bảo trên phạm vi toàn cầu. Suy rộng  
ra, quyền tự do kinh doanh đã được đảm bảo trong pháp luật Việt Nam.  
3.2. Một số nhận định và khuyến nghị nhằm đảm bảo quyền tự do giải quyết tranh chấp kinh doanh  
thông qua Tòa án  
Một điều không thể phủ nhận rằng, pháp luật Việt Nam hiện nay tôn trọng quyền tự do của chủ  
thể kinh doanh trong giải quyết tranh chấp thương mại. Như phân tích ở trên cho thấy, quyền định đoạt  
của các bên tranh chấp là rất lớn và các quyền này tương đồng với các quyền được ghi nhận trong pháp  
luật các quốc gia trên thế giới và điều ước quốc tế. Tuy vậy, trên thực tế, pháp luật trọng tài thương mại  
Việt Nam còn nhiều bất cập khiến quyền tự do kinh doanh nói riêng và quyền con người nói chung gặp  
khó khăn để trở nên phổ quát tại Việt Nam. Dưới đây là một số bất cập và kiến nghị của tác giả luận án  
nhằm đảm bảo quyền tự do giải quyết tranh chấp kinh doanh trong pháp luật kinh tế Việt Nam.  
Thứ nhất, mối quan hệ giữa thỏa thuận lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp: trọng  
tài, tòa án và hòa giải  
Hiện nay, pháp luật Việt Nam đã có quy định về mối quan hệ giữa thỏa thuận lựa chọn phương  
thức giải quyết tranh chấp giữa trọng tài và tòa án. Trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thỏa thuận  
trọng tài mà một bên khởi kiện tại Tòa án thì Tòa án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thỏa thuận trọng  
tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được (Điều 6 Luật trọng tài thương mại Việt  
Nam 2010). Trường hợp vừa có thỏa thuận trọng tài, vừa có thỏa thuận Tòa án là cơ quan giải quyết  
tranh chấp mà các bên không có thỏa thuận lại hoặc thỏa thuận mới về cơ quan có thẩm quyền giải quyết  
tranh chấp và không thuộc trường hợp Tòa án có thẩm quyền giải quyết thì xử lý như sau (Khoản 4, Điều  
2 Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP): (i) Trường hợp người khởi kiện yêu cầu Trọng tài giải quyết  
trước khi yêu cầu Tòa giải quyết hoặc trước khi Tòa thụ lý thì Tòa phải từ chối thụ lý, giải quyết. Khi  
nhận được đơn khởi kiện, Tòa phải trả lại đơn khởi kiện. Trường hợp đã thụ lý, Tòa phải ra quyết định  
đình chỉ việc giải quyết vụ án vì không thuộc thẩm quyền của Tòa án, trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu  
gửi kèm theo đơn khởi kiện; (ii) Trường hợp người khởi kiện yêu cầu Tòa giải quyết, Tòa phải xác định  
một trong các bên đã yêu cầu Trọng tài giải quyết hay chưa. Nếu Tòa xác định người bị kiện, người khởi  
kiện đã yêu cầu Trọng tài giải quyết thì trả lại đơn cho người khởi kiện. Trường hợp người bị kiện, người  
khởi kiện chưa yêu cầu Trọng tài giải quyết thì Tòa xem xét thụ lý giải quyết theo thủ tục chung. Nếu Tòa  
đã thụ lý mà phát hiện đã có yêu cầu Trọng tài giải quyết trước thời điểm Tòa thụ lý thì Tòa ra quyết định  
đình chỉ việc giải quyết vụ án vì không thuộc thẩm quyền của Tòa án, trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu  
gửi kèm theo đơn khởi kiện.  
928  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2019  
ICYREB 2019  
Phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh bằng thủ tục hòa giải đã được quy định trong Nghị  
định số 22/2017/NĐ-CP về hòa giải thương mại. Tuy vậy, pháp luật Việt Nam hiện hành chưa chỉ ra mối  
quan hệ giữa thỏa thuận hòa giải với thỏa thuận giải quyết tại trọng tài thương mại hoặc tòa án. Điều này  
dẫn đến các chủ thể kinh doanh gặp khó khăn khi lựa chọn giải quyết tranh chấp thương mại theo phương  
thức nào. Đồng thời tòa án, trọng tài và trung tâm hòa giải (hoặc hòa giải viên) không xác định được thẩm  
quyền giải quyết tranh chấp. Vì vậy, tác giả luận án kiến nghị pháp luật Việt Nam cần bổ sung quy định  
hướng dẫn xác định thẩm quyền của hòa giải, trọng tài và tòa án như sau:  
Một là, xác định thẩm quyền giữa hòa giải và trọng tài: (1) Trường hợp các bên tranh chấp chỉ thỏa  
thuận lựa chọn một trong hai phương thức giải quyết bằng hòa giải hoặc trọng tài thì hòa giải và trọng tài  
tiếp nhận giải quyết theo đúng thỏa thuận của các bên; (2) Trường hợp các bên tranh chấp thỏa thuận cả  
hai phương thức giải quyết tranh chấp thì bên tranh chấp yêu cầu giải quyết theo phương thức nào trước  
thì hòa giải hoặc trọng tài được lựa chọn trước sẽ có thẩm quyền giải quyết.  
Hai là, xác định thẩm quyền giữa hòa giải và tòa án: (1) Trường hợp các bên tranh chấp có thỏa  
thuận giải quyết tranh chấp bằng hòa giải thì tòa án không được thụ lý; (2) Trường hợp các bên tranh chấp  
thỏa thuận cả 2 phương thức trên thì bên tranh chấp yêu cầu giải quyết theo phương thức nào trước thì  
hòa giải hoặc tòa án được yêu cầu trước sẽ có thẩm quyền giải quyết.  
Ba là, xác định thẩm quyền giữa hòa giải, trọng tài và tòa án: Trường hợp các bên tranh chấp thỏa  
thuận giải quyết tranh chấp bằng cả ba phương thức trên thì hòa giải hoặc trọng tài hoặc tòa án nào được  
yêu cầu giải quyết trước sẽ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp.  
Thứ hai, vấn đề tự do thỏa thuận lựa chọn tòa án giải quyết tranh chấp có yếu tố nước ngoài  
Như phân tích ở trên, pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật của các quốc gia trên thế giới và  
pháp luật quốc tế đều ghi nhận quyền tự do lựa chọn tòa án giải quyết tranh chấp có yếu tố nước ngoài  
của của các chủ thể kinh doanh. Tuy vậy, Bộ luật Tố tụng Dân sự Việt Nam hiện nay không có quy định  
cụ thể về nội dung này mà quyền này được ghi nhận rải rác ở các luật chuyên ngành. Trong khi đó, các  
quy định của luật chuyên ngành cũng không thống nhất về vấn đề thỏa thuận lựa chọn tòa án giải quyết  
tranh chấp có yếu tố nước ngoài như: Thời điểm thỏa thuận lựa chọn tòa án, hình thức thỏa thuận, hiệu  
lực của thỏa thuận và trường hợp loại trừ thỏa thuận tòa án. Chính điều này dẫn đến việc các chủ thể kinh  
doanh không biết sẽ làm gì, làm như thế nào để thực hiện quyền tự do định đoạt của mình, cụ thể ở đây là  
tự do lựa chọn tòa án. Ngoài ra, bản thân tòa án Việt Nam cũng khó khăn khi xác định hiệu lực của thỏa  
thuận tòa án, xác định thẩm quyền tòa án hoặc từ chối công nhận bản án của tòa nước ngoài do xét xử  
không đúng thẩm quyền.  
Thiết nghĩ, để quyền tự do định đoạt của chủ thể kinh doanh được đảm bảo, để quyền tự do kinh  
doanh được phổ quát trong pháp luật tố tụng tại Việt Nam và để giải quyết những khó khăn của chủ thể  
kinh doanh cũng như tòa án, Bộ luật Tố tụng Dân sự Việt Nam nên thống nhất quy định về thỏa thuận lựa  
chọn tòa án giải quyết tranh chấp có yếu tố nước ngoài. Ghi nhận những nội dung về thỏa thuận lựa chọn  
tòa án trong Bộ luật Tố tụng Dân sự sẽ giúp cho các luật chuyên ngành dễ dàng áp dụng và quy định chi  
tiết hơn những nội dung mang tính đặc thù của chuyên ngành. Tác giả luận án có một số kiến nghị như  
sau:  
Một là, bổ sung vào quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự (Điều 5, Bộ luật Tố tụng Dân  
sự 2015) nội dung sau: “Đương sự có quyền tự do thỏa thuận lựa chọn tòa án giải quyết tranh chấp. Tòa  
án được chọn trong thỏa thuận lựa chọn tòa án của các bên có thẩm quyền tuyệt đối giải quyết vụ việc,  
trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc khi thỏa thuận vô hiệu”. Quy định này được ghi nhận tại  
đây sẽ là một phần của nguyên tắc tự định đoạt của đượng sự và trở thành nền tảng để Bộ luật Tố tụng  
Dân sự và các văn bản pháp luật khác dễ dàng quy định chi tiết về quyền này. Đồng thời, các chủ thể kinh  
doanh nhìn vào nguyên tắc này cũng thấy được quyền tự do của mình và tự tin khi thỏa thuận lựa chọn  
tòa án giải quyết tranh chấp, đặc biệt tranh chấp có yếu tố nước ngoài.  
929  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2019  
ICYREB 2019  
Hai là, Bộ luật Tố tụng Dân sự Việt Nam cần dành ra một phần để quy định cụ thể về thỏa thuận  
tòa án với những nội dung sau: (1) Thời điểm thỏa thuận tòa án: Trước khi xảy ra tranh chấp hoặc sau khi  
xảy ra tranh chấp; (2) Hình thức thỏa thuận: Văn bản; (3) Trường hợp thỏa thuận vô hiệu: Tranh chấp  
phát sinh không thuộc thẩm quyền của tòa án; người xác lập thỏa thuận tòa án không có thẩm quyền theo  
quy định của pháp luật; Người xác lập thỏa thuận tòa án không có năng lực hành vi dân sự theo quy định  
của Bộ luật Dân sự; hình thức thỏa thuận không đúng quy định; Một trong các bị lừa dối, đe doạ, cưỡng  
ép trong quá trình xác lập thỏa thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thỏa thuận tòa án đó là vô hiệu;  
thỏa thuận tòa án vi phạm điều cấm của pháp luật; (4) Tính độc lập của thỏa thuận: Thỏa thuận tòa án  
hoàn toàn độc lập với hợp đồng; (5) Ngoại lệ: Tòa án Việt Nam vẫn giải quyết tranh chấp dù các bên có  
thỏa thuận tòa án quốc gia khác khi vụ tranh chấp đó thuộc thẩm quyền riêng biệt của tòa án Việt Nam và  
trường hợp khác do pháp luật quy định.  
Thứ ba, vấn đề ra quyết định công nhận thỏa thuận của các bên khi giải quyết tranh chấp tại  
Tòa án  
Quyền tự định đoạt của đương sự là nguyên tắc quan trọng trong tố tụng dân sự. Đây là một nguyên  
tắc thể hiện rõ quyền tự do kinh doanh của chủ thể khi chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân  
sự. Để đảm bảo quyền tự định đoạt của chủ thể và rộng hơn là nhằm đảm bảo quyền tự do kinh doanh,  
pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam nói riêng, pháp luật Việt Nam nói chung cần phải tôn trọng thỏa thuận  
của các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp tại tòa án. Tuy vậy, theo Khoản 2, Điều 212 Bộ luật Tố  
tụng Dân sự quy định “Thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nếu các  
đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án”. Nghĩa là, các đương sự thỏa thuận  
toàn bộ vụ án thì mới được cộng nhận sự thỏa thuận còn thỏa thuận một phần vụ án thì không được công  
nhận tại tòa án.  
Thiết nghĩ, quy định trên của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam đã hạn chế quyền tự định đoạt của  
đương sự. Vì vậy, tác giả luận án kiến nghị đương sự thỏa thuận được một phần hay toàn bộ vụ án thì  
thẩm phán ra quyết định công nhận sự thỏa thuận một phần hoặc toàn bộ vụ án đó. Nếu ghi nhận nội dung  
này thì nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự được đảm bảo, đồng thời dựa vào một phần  
thỏa thuận của đương sự được công nhận, tòa án sẽ dễ dàng hơn khi xét xử nội dung còn lại của vụ án.  
Nói cách khác, việc công nhận sự thỏa thuận một phần vụ án đã thể hiện quyền tự do kinh doanh được  
đảm bảo trong tố tụng tòa án.  
Thứ tư, về chủ thể có thẩm quyền hòa giải trong tố tụng tòa án  
Hiện nay, theo Khoản 1, Điều 205 Bộ luật Tố tụng Dân sự Việt Nam 2015 ghi nhận: “Trong thời  
hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về  
việc giải quyết vụ án…”. Theo quy định này thì bên hòa giải chỉ là tòa án – cơ quan có thẩm quyền giải  
quyết tranh chấp. Một câu hỏi đặt ra, liệu trong giai đoạn hòa giải tại tòa án, các đương sự hoặc tòa án có  
thể chỉ định hòa giải viên chuyên nghiệp (ngoài tòa) tham gia vào quá trình hòa giải được không? Để trả  
lời cho câu hỏi này ta phân tích những điểm sau đây:  
Một là, thẩm phán và nhân viên hòa giải thuộc tòa án nhân dân Việt Nam hiện nay không phải lúc  
nào cũng là những người có kiến thức chuyên môn sâu trong lĩnh vực tranh chấp. Thêm vào đó, những  
đối tượng này cũng không được đào tào những kỹ năng hỗ trợ cho hòa giải thương mại.  
Hai là, hiện nay số lượng án dân sự tại các tòa là rất lớn nên đề cho tòa án đảm nhận vai trò là bên  
thứ ba tiến hành hòa giải sẽ dẫn đến quá tải.  
Ba là, hiện nay Việt Nam đã ra quy định riêng về thủ tục hòa giải thương mại tại Nghị định số  
22/2017/NĐ-CP. Theo quy định của Nghị định, thủ tục hòa giải ghi nhận khá rõ ràng. Thêm vào đó, Nghị  
định này mở đường để Việt Nam hình thành một đội ngũ hòa giải viên chuyên nghiệp với đạo đức tốt,  
chuyên môn sâu, am hiểu pháp luật và tập quán, kỹ năng tốt. Đội ngũ này sẽ hỗ trợ rất nhiều để giải quyết  
tranh chấp theo thủ tục hòa giải, trọng tài và tòa án.  
930  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2019  
ICYREB 2019  
Với những lý do nêu trên và đảm bảo quyền tự do định đoạt của chủ thể, tác giả luận án nhận thấy  
chỉ định hòa giải viên chuyên nghiệp tham gia hòa giải trong tố tụng tòa án là cần thiết. Các bên tranh  
chấp hoặc tòa án có thể chỉ định hòa giải viên chuyên nghiệp tham gia vào giai đoạn hòa giải. Với sự hỗ  
trợ của hòa giải viên chuyên nghiệp, tòa án nhân dân sẽ giảm tải áp lực công việc; kiến thức của hòa giải  
viên hỗ trợ rất nhiều cho thẩm phán trong thủ tục hòa giải cũng như xét xử sau này nếu hòa giải không  
thành; khả năng tỷ lệ hòa giải thành công sẽ cao hơn.  
Thứ năm, vấn đề lựa chọn luật áp dụng trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài và áp  
dụng luật nước ngoài để giải quyết tranh chấp tại tòa án Việt Nam  
Như phân tích nội dung về chọn luật áp dụng để giải quyết tranh chấp thương mại có yếu tố nước  
ngoài ở trên, pháp luật Việt Nam chưa có sự thừa nhận rộng rãi quyền tự do chọn luật của các bên và việc  
tòa án Việt Nam áp dụng luật nước ngoài để giải quyết tranh chấp là rất hạn chế. “Xu thế toàn cầu hóa,  
hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa thương mại đang là vấn đề nổi bật của kinh tế thế giới hiện nay.  
Chính đặc điểm này tạo ra sự liên kết và phụ thuộc lẫn nhau càng cao giữa các quốc gia và khu vực. Điều  
đó cũng đồng nghĩa rằng, việc áp dụng pháp luật nước ngoài là một nhu cầu khách quan không thể tránh  
khỏi ở tất cả các quốc gia trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, nhằm bảo vệ các quyền và lợi  
ích chính đáng của các đương sự và thúc đẩy giao lưu dân sự phát triển. Thời gian qua, cùng với sự phát  
triển của các giao lưu dân sự, thương mại, đầu tư, lao động,... giữa nước ta với cộng đồng quốc tế, đặc  
biệt là các nước trong khu vực, số lượng các vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài được các tòa án Việt Nam  
thụ lý giải quyết cũng gia tăng” (Phạm Thị Hồng Đào, 2013). Do đó, để đảm bảo quyền tự do lựa chọn  
luật của đương sự và nâng cao hiệu quả xét xử của tòa án Việt Nam, tác giả luận án đề xuất các giải pháp  
và kiến nghị sau:  
Một là, Việt Nam nên xây dựng Luật Tư pháp quốc tế riêng để điều chỉnh chung các quan hệ dân  
sự có yếu tố nước ngoài. Bởi vì, điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài khác nhau được quy  
định rải rác ở các luật chuyên ngành khiến các chủ thể khó áp dụng. Nếu có một văn bản pháp luật thống  
nhất giúp cho chủ thể dễ dàng tiếp cận và dễ dàng lựa chọn luật áp dụng.  
Hai là, tôn trọng quyền tự định đoạt của chủ thể trong việc chọn luật áp dụng. Theo đó, chủ thể có  
quyền lựa chọn luật của một quốc gia, của điều ước quốc tế áp dụng cho một phần hoặc toàn bộ tranh  
chấp; Một tranh chấp có thể được áp dụng và điều chỉnh bởi nhiều luật khác nhau.  
Ba là, thời điểm lựa chọn luật áp dụng của các bên là trước khi có tranh chấp hoặc khi tranh chấp  
đã xảy ra. Hình thức lựa chọn phải thể hiện bằng văn bản, hợp pháp.  
Bốn là, hiện nay pháp luật Việt Nam thường quy định liệt kê các quan hệ mà các bên có quyền lựa  
chọn luật điều chỉnh. Thiết nghĩ, càng mở rộng quyền chọn luật của các chủ thể thì hoạt động kinh doanh  
thương mại càng năng động và tạo tâm lý yên tâm đối với các chủ thể. Nói cách khác, quyền tự do chọn  
luật của các chủ thể càng rộng thì quyền tự do kinh doanh càng được đảm bảo và quyền đó được phổ quát  
mạnh mẽ trong pháp luật quốc gia. Vì vậy, pháp luật Việt Nam cần mở rộng các quan hệ dân sự có yếu tố  
nước ngoài mà các bên có quyền tự do lựa chọn luật áp dụng. Cụ thể, thay vì liệt kê các trường hợp được  
lựa chọn luật như hiện nay, luật tư pháp quốc tế Việt Nam hãy liệt kê những trường hợp không được lựa  
chọn luật áp dụng.  
Năm là, giải pháp nâng cao hiệu quả xét xử của tòa án khi áp dụng luật nước ngoài: (1) Nâng cao  
trình độ ngoại ngữ của đội ngũ thẩm phán, thư ký và những người tiến hành tố tụng khác; (2) Nâng cao  
trình độ chuyên môn và thường xuyên cho đội ngũ trên tiếp cận các hệ thống pháp luật của các quốc gia  
mà các đương sự hay lựa chọn pháp luật để giải quyết; (3) Hội thẩm nhân dân nên mời những người có  
chuyên môn về lĩnh vực tranh chấp và hiểu biết về pháp luật của quốc gia được các bên lựa chọn luật; (4)  
Trong quá trình hòa giải nên mời các trọng tài viên chuyên nghiệp am hiều về pháp luật của quốc gia các  
bên chọn luật tham gia; (5) Việt Nam cần xây dựng cơ sở dữ liệu luật của các quốc gia trên thế giới và  
điều ước quốc tế để các cơ quan xét xử dễ dàng truy cập.  
931  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2019  
ICYREB 2019  
4. Kết luận  
Quyền tự do kinh doanh nằm ở những nấc cao nhất chỉ sau quyền tự do dân chủ và quyền chính trị  
trong hệ thống quyền tự do của con người. Điều này có nghĩa là các quốc gia tôn trọng quyền dân chủ và  
tiến bộ thì quyền tự do kinh doanh nói chung và quyền tự do giải quyết tranh chấp nói riêng được công  
nhận và bảo vệ triệt để. Trong bài viết này, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phân  
tích, tổng hợp, so sánh luật học và lịch sử để nghiên cứu về quyền tự do kinh doanh trong giải quyết tranh  
chấp thông qua tòa án. Từ kết quả nghiên cứu, tác giả rút ra những kết luận cơ bản sau đây: Thứ nhất,  
quyền tự do giải quyết tranh chấp kinh doanh trong pháp luật Việt Nam tương thích với pháp luật quốc tế  
và pháp luật của các quốc gia trên thế giới. Điều đó cho thấy, quyền tự do giải quyết tranh chấp kinh  
doanh được ghi nhận và là giá trị chung được pháp luật kinh tế Việt Nam và các nước trên thế giới tôn  
trọng. Thứ hai, để đảm bảo quyền tự do giải quyết tranh chấp thông qua tòa án, tác giả đưa ra kiến nghị  
nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam như sau: (i) Bổ sung quy định mối quan hệ giữa giải quyết tranh  
chấp bằng hòa giải, trọng tài hoặc tòa án; (ii) Kiến nghị về tự do thỏa thuận lựa chọn tòa án đối với tranh  
chấp có yếu tố nước ngoài; (iii) Kiến nghị về công nhận thỏa thuận của các bên khi giải quyết tranh chấp  
tại tòa án; (iv) Kiến nghị về chủ thể có thẩm quyền hòa giải tại tòa; (v) Kiến nghị về vấn đề tự do lựa  
chọn luật giải quyết tranh chấp đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Convention on jurisdiction and the enforcement of judgments in civil and commercial matters  
(Brussel 27/10/1968).  
[2] Công ước Lahaye 2005 về thỏa thuận lựa chọn tòa án.  
[3] United Nations Convention on the carriage of goods by sea, 1978 (Hamburg Rule).  
[4] Doyle, B. (2011). Free Will: The Scandal in Philosophy, Publisher: Information Philosopher  
(ISBN-10: 0983580200).  
[5] Đỗ Văn Đại, Mai Hồng Quỳ (2009). Tư pháp quốc tế Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Tp. Hồ  
Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh.  
[6] Đỗ Văn Đại (2013). “Quyền lựa chọn pháp luật trong tư pháp quốc tế Việt Nam”, Tạp chí  
Nghiên cứu lập pháp số, (2).  
[7] Phạm Thị Hồng Đào (2013). “Áp dụng pháp luật nước ngoài tại Việt Nam - những lợi ích và  
bất lợi của Việt Nam khi tham gia Công ước Viên 1980”, truy xuất tại http://moj.gov.vn/qt/tintuc  
[9] Bùi Xuân Hải (2011). “Tự do kinh doanh: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Tạp chí Nhà  
nước và pháp luật, (5), Tr.69.  
[10] Dương Quỳnh Hoa (2008). “Hòa giải trong tố tụng dân sự của Việt Nam và Nhật Bản nhìn từ  
góc độ so sánh”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật (2).  
[11] Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao (2014), Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP  
Hướng dẫn thi hành một số quy định Luật trọng tài thương mại, ban hành ngày 20/3/2014.  
[12] Huo, Z. (2011). Highlights of China's New Private International Law Act: From the  
Perspective of Comparative Law, RJT ns, 45.  
[13] Japan (1951), Civil Conciliation Act of Japan 1951.  
[14] Japan (2011), Code of Civil Procedure of Japan (Act No. 109 of 1996, Amendment : Act No.  
36 of 2011).  
[15] Montesquieu (2010). Tinh thần pháp luật, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng.  
932  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2019  
ICYREB 2019  
[16] Đặng Hoàng Oanh (2009). “Giải quyết tranh chấp thương mại tại Nhật Bản: Nét đặc thù của  
[18] Quốc hội nước Cộng hòa xã hội Việt Nam (2015), Bộ luật Dân sự Việt Nam, số  
92/2015/QH13, ban hành ngày 25/11/2015.  
[19] Quốc hội nước Cộng hòa xã hội Việt Nam (2015), Bộ luật Hàng Hải Việt Nam, số  
95/2015/QH13, ban hành ngày 25/11/2015.  
[20] Quốc hội nước Cộng hòa xã hội Việt Nam (2010), Luật Trọng tài thương mại Việt Nam, số  
54/2010/QH12, ban hành ngày 17/6/2010.  
[21] Quốc hội nước Cộng hòa xã hội Việt Nam (2014), Luật sửa đổi một số điều của Luật Hàng  
không dân dụng Việt Nam, số 61/2014/QH13, ban hành ngày 21/11/2014.  
[22] Mai Hồng Quỳ (2010). Hành trình của quyền con người: Những quan điểm kinh điển và hiện  
đại, NXB Tri thức, Tp. Hồ Chí Minh.  
[23] Trung tâm từ điển học (2009). Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng.  
[24] Bành Quốc Tuấn (2012), “Quyền thỏa thuận lựa chọn tòa án giải quyết tranh chấp dân sự có  
yêu tố nước ngoài”, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học, (28).  
[25] USA (2016), 6 DE Code § 1-301 (2016).  
[27] Yu, A. (2009), “Kant’s Argument for Free Will”, Prometheus Journal truy xuất tại  
[28] Wacks, R. (2011). Triết học pháp luật (Dịch: Phạm Kiều Tùng), NXB Tri Thức, TP. Hồ Chí Minh.  
933  
pdf 12 trang Thùy Anh 14860 Free
Bạn đang xem tài liệu "Quyền tự do kinh doanh trong giải quyết tranh chấp kinh doanh bởi tòa án", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfquyen_tu_do_kinh_doanh_trong_giai_quyet_tranh_chap_kinh_doan.pdf