Quy định của pháp luật về phôi thai và thai nhi tại Việt Nam

THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ PHÔI THAI VÀ THAI NHI TẠI VIỆT NAM  
Nguyễn Hoàng Nam*  
* Khoa Luật, trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Từ khóa: Phôi thai, thai nhi,  
quyền lợi đối với thai nhi tại  
Việt Nam.  
Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa quy định chính thức về việc xem xét  
phôi thai với tư cách của một con người. Tuy nhiên, nhiều văn bản quy  
phạm pháp luật chuyên ngành có quy định về quyền lợi đối với thai nhi.  
Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích, đánh giá các quy định của  
pháp luật về phôi thai và thai nhi tại Việt Nam và đưa ra một số kiến nghị  
nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan đến phôi thai và  
thai nhi tại Việt Nam.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 25/12/2020  
: 13/01/2021  
: 15/01/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
Currently, Vietnamese laws have no official provisions considering  
an embryo as a human being. However, several specialized legal  
documents have provisions on the rights of the fetus. In the scope of  
this article, the author provides an analysis of and assessment of the  
provisions of the law on embryos and fetuses in Vietnam and gives  
some recommendations to improve the legal provisions related to  
embryos and fetuses in Vietnam.  
Keywords: Embryo, fetus, the  
rights of the fetus.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 25 Dec. 2020  
: 13 Jan. 2021  
: 15 Jan. 2021  
Approved  
1. Thực trạng các quy định của pháp luật  
về phôi thai và thai nhi tại Việt Nam  
khoảng thời gian nhất định để phát triển và  
các tế bào hình thành nên cơ thể thai nhi.  
Pháp luật Việt Nam chưa có quy định nào  
về việc xem xét phôi thai với tư cách của  
một con người. Tuy nhiên, một số văn bản  
luật có đề cập đến quyền lợi đối với thai nhi.  
Ở Việt Nam hiện nay chưa có nhiều  
nghiên cứu tổng quan về phôi thai và  
thai nhi. Các quy định của pháp luật hiện  
hành về phôi thai và thai nhi còn chưa rõ  
ràng, đặc biệt là trong lĩnh vực nghiên  
cứu phôi thai.  
Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS) có  
nhiều quy định bảo vệ quyền lợi của thai  
nhi. Cụ thể, điểm a khoản 2 Điều 593 BLDS  
quy định: “Người chưa thành niên hoặc  
người đã thành thai là con của người chết  
và còn sống sau khi sinh ra được hưởng  
tiền cấp dưỡng cho đến khi đủ mười tám  
tuổi, trừ trường hợp người từ đủ mười lăm  
tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã tham  
gia lao động và có thu nhập đủ nuôi sống  
bản thân”; thời điểm được hưởng tiền cấp  
dưỡng đối với con đã thành thai của người  
Thuật ngữ phôi thai được sử dụng nhiều  
trong lĩnh vực y học. Dưới góc độ pháp lý,  
khoản 5 Điều 2 Nghị định số 10/2015/NĐ-  
CP của Chính phủ định nghĩa: “Phôi là sản  
phẩm của quá trình kết hợp giữa noãn và  
tinh trùng”. Theo quy trình thông thường,  
phôi thai được hình thành vào tuần thứ năm  
và phát triển trong vòng sáu tuần trước khi  
phát triển thành cơ thể thai nhi. Vì vậy, phôi  
thai chưa phải là thai nhi, phôi thai cần một  
38  
Số 09(433) - T5/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
chết được tính từ thời điểm người này sinh  
ra và còn sống theo quy định của khoản  
3 Điều này. Điều 613 BLDS cũng chỉ rõ  
quyền lợi của thai nhi khi quy định người  
thừa kế là cá nhân phải là người còn sống  
vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và  
còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng  
đã thành thai trước khi người để lại di sản  
chết. Như vậy, nếu thai nhi đã thành thai  
trước khi người để lại di sản chết, sinh ra và  
còn sống sau thời điểm mở thừa kế thì thỏa  
mãn điều kiện được nhận thừa kế.  
quy định cụ thể về mang thai hộ vì mục đích  
nhân đạo. Các điều khoản quy định này đều  
có tinh thần bảo vệ quyền lợi, sự phát triển  
của thai nhi trong suốt thời gian mang thai  
hộ, cũng như nghĩa vụ của các bên liên quan  
trong quá trình mang thai hộ đối với việc  
nhận nuôi, giám hộ và cấp dưỡng khi thai  
nhi được sinh ra trong trường hợp mang  
thai hộ vì mục đích nhân đạo.  
Bộ luật Lao động (BLLĐ) năm 20191  
cũng có nhiều quy định bảo vệ lao động  
nữ mang thai. Điểm d khoản 2 Điều 35  
về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng  
lao động của người lao động quy định,  
lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo  
quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật này  
là một trong những trường hợp có quyền  
đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động  
không cần báo trước; khoản 3 Điều 37  
quy định về những trường hợp người  
sử dụng lao động không được thực hiện  
quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng  
lao động, trong đó có trường hợp lao động  
nữ mang thai, người lao động đang nghỉ  
thai sản hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi.  
Ngoài ra, các điều từ Điều 137 đến Điều  
141 BLLĐ năm 2019 về chế độ thai sản  
và những hạn chế bắt buộc khi xử lý kỷ  
luật, giới hạn quyền lợi của người sử dụng  
lao động, bảo vệ quyền lợi của người phụ  
nữ mang thai, gián tiếp bảo vệ quyền lợi  
của thai nhi.  
Tương tự, đối với trường hợp di tặng  
quy định tại Điều 646 BLDS: “Người được  
di tặng là cá nhân phải còn sống vào thời  
điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống  
sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành  
thai trước khi người để lại di sản chết”.  
Ngoài ra, tại khoản 1 Điều 660 BLDS  
quy định: “Khi phân chia di sản, nếu có  
người thừa kế cùng hàng đã thành thai  
nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một  
phần di sản bằng phần mà người thừa kế  
khác được hưởng để nếu người thừa kế đó  
còn sống khi sinh ra được hưởng”. Như  
vậy, trong trường hợp phân chia di sản, dù  
chưa sinh ra nhưng thai nhi vẫn được dành  
phần di sản và thụ hưởng khi được sinh ra.  
Khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia  
đình (HN&GĐ) năm 2014 quy định về việc  
chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong  
trường hợp vợ đang có thai. Điều đó cho  
thấy, pháp luật quy định quyền của thai nhi  
được bảo vệ trong thời gian người mẹ mang  
thai. Bên cạnh đó, con sinh ra do người vợ  
có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung  
của vợ chồng (khoản 1 Điều 88). Điều này  
đảm bảo quyền có cha mẹ của thai nhi khi  
được sinh ra. Ngoài ra, các điều từ Điều 94  
đến Điều 100 Luật HN&GĐ năm 2014 còn  
Bộ luật Hình sự năm (BLHS) năm 2015  
đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm  
2017 (BLHS năm 2015) có nhiều quy định  
bảo vệ thai nhi. Ví dụ như theo quy định  
tại điểm b khoản 1 Điều 67 BLHS năm  
2015, phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con  
dưới 36 tháng tuổi được hoãn thi hành án  
cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi; khoản 4  
1 Bộ luật Lao động năm 2019 có hiệu lực từ ngày 01/01/2021.  
Số 09(433) - T5/2021  
39  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
Điều 36 BLHS năm 2015 quy định, không  
áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng  
đồng đối với phụ nữ có thai hoặc đang  
nuôi con dưới 06 tháng tuổi; khoản 2 Điều  
40 BLHS năm 2015 quy định phụ nữ có  
thai không thi hành án tử hình mà sẽ được  
chuyển thành tù chung thân theo khoản 4  
Điều này. Bên cạnh đó, người phạm tội  
là phụ nữ có thai còn nằm trong các tình  
tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy  
định tại điểm n khoản 1 Điều 51 BLHS  
năm 2015. Ngoài ra, BLHS năm 2015 có  
nhiều quy định khác tại các điều khoản  
mang nội dung bảo vệ trực tiếp quyền lợi  
của những thai nhi khi chưa sinh ra trước  
những hành vi xâm hại, đồng thời gia tăng  
khung hình phạt và xác định tình tiết tăng  
nặng đối với trường hợp xâm phạm đến  
phụ nữ mang thai hoặc phạm tội khi biết  
là có thai. Nếu mang thai hộ vì mục đích  
nhân đạo được xem là hợp pháp trong  
Luật HN&GĐ năm 2014 thì tổ chức mang  
thai hộ vì mục đích thương mại sẽ bị xem  
là phạm tội tại khoản 1 Điều 187 BLHS  
năm 2015. Hơn nữa, trường hợp phá thai  
trái pháp luật sẽ bị phạt theo quy định tại  
Điều 316 BLHS năm 2015; trường hợp  
truy cứu trách nhiệm hình sự người không  
có tội đối với phụ nữ mà biết là có thai thì  
sẽ bị phạt theo điểm c khoản 2 Điều 368  
Bộ Luật này.  
tước đoạt tính mạng trái luật”. Nếu xem xét  
các quyền lợi đối với thai nhi trong những  
quy định của bộ luật và luật chuyên ngành  
thì có thể thấy, pháp luật Việt Nam dựa trên  
tinh thần bảo vệ quyền của thai nhi thông  
qua người mẹ hoặc người mang thai hộ vì  
mục đích nhân đạo.  
Thứ hai, án lệ của Tòa án Nhân quyền  
châu Âu có nhắc đến phôi thai người không  
thể được coi là “vật”, đồng thời cũng không  
phải là “người”2. Mặc dù, phôi thai và thai  
nhi chưa phải là con người hoàn chỉnh  
nhưng hạn chế này không có nghĩa là phôi  
thai không được bảo vệ, phải có sự xem xét  
đề xuất biện pháp bảo vệ khách quan; cần  
mở rộng giá trị và sự tôn trọng vốn có của  
phẩm giá con người3.  
Thứ ba, hiện nay ở Việt Nam chưa có quy  
định nào cho phép tạo phôi trong nghiên  
cứu, điều trị. Pháp luật ở các quốc gia châu  
Âu cởi mở hơn về việc chuyển giao và sử  
dụng phôi đông lạnh giữa các nước ký kết  
Công ước châu Âu về nhân quyền. Theo  
đó, phôi được nhìn nhận như một loại hàng  
hóa. Việc sử dụng phôi thai trong nghiên  
cứu khoa học được giới hạn trong 5 mục  
đích sau:  
(1) Thúc đẩy những tiến bộ trong điều trị  
khả năng sinh sản;  
(2) Tăng cường hiểu biết về nguyên nhân  
của bệnh bẩm sinh;  
2. Một số góc nhìn pháp luật khác nhau  
đối với phôi thai và thai nhi  
(3) Tăng cường hiểu biết về nguyên nhân  
sảy thai;  
Trước hết, cần phải khẳng định rằng,  
phôi thai và thai nhi là thực thể sống và có  
khả năng phát triển (sẽ phát triển) thành con  
người. Theo Điều 19 Hiến pháp năm 2013:  
“Mọi người có quyền sống. Tính mạng con  
người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị  
(4) Phát triển các kỹ thuật tránh thai hiệu  
quả hơn; và  
(5) Phát triển các phương pháp nhằm  
phát hiện sự hiện diện của các bất thường  
2 Alla Tymofeyeva (2016). The Human Embryo in the Case-Law of the European Court of Human Rights.  
3 Vera Lúcia Raposo, Catarina Prata & Isabel Ortigão De Oliveira (2009). Human Rights in Today’s Ethics:  
Human Rights of the Unborn (Embryos and Foetus)?  
40  
Số 09(433) - T5/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
3. Một số kiến nghị  
về gen hoặc nhiễm sắc thể trong phôi  
trước khi cấy4.  
Một là, phân biệt cụ thể thuật ngữ, khái  
niệm trong các quy định của pháp luật để nội  
dung quy định được rõ ràng, mạch lạc. Trong  
các bộ luật và luật chuyên ngành liên quan có  
quy định về phôi thai và thai nhi cần phân biệt  
rõ giữa hai khái niệm phôi thai và thai nhi.  
Phôi thai hình thành trước thai nhi và chưa  
phát triển thành cơ thể thai nhi. Ngược lại, thai  
nhi là phôi thai đã phát triển các tế bào để hình  
thành cơ thể con người. Ngoài ra, cũng cần  
nghiên cứu quy định khái niệm tiền phôi thai  
trong văn bản pháp luật liên quan để phân biệt  
rõ ràng hơn với phôi thai và thai nhi.  
Thứ tư, thực tế phát triển công nghệ  
cho thấy, bằng cách đột biến kỹ thuật vào  
phôi thai, sau đó được sử dụng để sinh  
ra trẻ sơ sinh, đây là bước vào một kỷ  
nguyên mà khoa học có thể viết lại nguồn  
gen của các thế hệ tương lai bằng cách  
thay đổi dòng mầm của con người5. Tháng  
3/2015, các nhà nghiên cứu Trung Quốc  
trở thành những người đầu tiên chỉnh sửa  
gen trong phôi thai người. Vấn đề này  
được nhiều quốc gia trên thế giới quan  
tâm, nhiều quan điểm đưa ra cho rằng  
nhân bản vô tính đối với phôi thai người là  
đe dọa đạo đức và phẩm giá con người6.  
Gần đây, các nhà khoa học Anh cũng đã  
sử dụng tế bào gốc phôi của con người để  
tạo ra một mô hình tương tự như phôi thai  
nhằm nghiên cứu một số giai đoạn phát  
triển sớm nhất của con người. Việc giải  
mã được các giai đoạn phát triển này có  
thể tìm ra nguyên nhân gây dị tật thai nhi  
và bệnh tật ở người, đồng thời giúp triển  
khai các xét nghiệm nhằm phát hiện dị tật  
thai nhi ở phụ nữ mang thai7.  
Hai là, phát triển tế bào gốc là chính  
sách thiết yếu trong điều trị bệnh. Với sự  
kích thích phù hợp, tế bào gốc phôi có thể  
trở thành tế bào máu, tế bào da và tất cả  
các loại tế bào khác mà cơ thể cần. Vì vậy,  
cần sớm ban hành Luật Máu và tế bào gốc;  
trong đó quy định cởi mở hơn trong việc  
tạo phôi nhằm mục đích lấy tế bào gốc để  
nghiên cứu hoặc điều trị bệnh cần được  
nhìn nhận dưới góc độ nhân đạo thông qua  
việc cứu chữa người bệnh, chủ động tạo ra  
nguồn tế bào gốc dự trữ cho y học.  
Thứ năm, đối với lao động nữ đang mang  
thai, nếu có nhu cầu thì được phép chuyển  
sang công việc nhẹ nhàng hơn ngay từ thời  
điểm phát hiện có thai. Như vậy, mới đảm  
bảo sức khỏe cho lao động nữ và thai nhi.  
Quy định như vậy không chỉ thể hiện tính  
nhân văn của pháp luật lao động đối với lao  
động nữ mà còn đảm bảo sức khỏe cho thế  
hệ tương lai của đất nước8.  
Ba là, tiếp cận các quy định của pháp  
luật liên quan đến phôi thai và thai nhi dưới  
góc nhìn nghiên cứu khoa học để phục vụ  
phát triển y tế, nghiên cứu gen, bệnh học  
và tìm hiểu các nguyên nhân liên quan đến  
sinh sản, vấn đề sảy thai ở phụ nữ,… nhằm  
góp phần nâng cao ngành y học nước nhà  
nói riêng và đóng góp chung cho nền y học  
trên thế giới nói chung  
4 Gulam Bahadur (2001). The Human Rights Act (1998) and its impact on reproductive issues.  
5 David Cyranoski (2019). The CRISPR-baby scandal: what’s next for human gene-editing.  
6
The New Atlantis (2015). The Threat of Human Cloning Ethics, Recent Developments, and the Case for  
Action.  
7 Nghiên cứu về giai đoạn phát triển chưa từng khám phá của bào thai.  
8 Lưu Trần Phương Thảo & Nguyễn Thanh Hiền (2019), Pháp luật về bảo vệ quyền lợi cho lao động nữ mang thai.  
Số 09(433) - T5/2021  
41  
pdf 4 trang Thùy Anh 10740 Free
Bạn đang xem tài liệu "Quy định của pháp luật về phôi thai và thai nhi tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfquy_dinh_cua_phap_luat_ve_phoi_thai_va_thai_nhi_tai_viet_nam.pdf