Quan hệ lao động ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Chuyên mục: Khoa học xã hội và hành vi - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUꢀN TRỊ KINH DOANH SỐ 18 (2021)  
QUAN HỆ LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ  
Phạm Thị Nga1, Trần Trọng Nhất2,  
Lê Chí Trung3  
Tóm tắt  
Xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta. Quan  
hệ lao động được thực hiện tốt có vai trò quan trọng trong việc phát huy các lợi thế về nguồn lực lao  
động, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, góp phần tiến tới duy trì sự ổn định chính trị, xã hội. Tuy nhiên, bối  
cảnh xây dựng quan hệ lao động ở Việt Nam hiện nay đã có nhiều thay đổi trước yêu cầu hội nhập quốc  
tế ngày càng sâu rộng. Bài viết tập trung phân tích những bất cập trong quá trình xây dựng và thực hiện  
quan hệ lao động ở Việt Nam theo cơ chế ba bên: Nhà nước; người lao động và người sử dụng lao động.  
Số liệu được sử dụng trong bài viết chủ yếu là các số liệu thứ cấp được lấy từ các Báo cáo của ILO, Tổng  
Liên đoàn Lao động Việt Nam. Một số khuyến nghị được đưa ra nhằm tiếp tục hoàn thiện quan hệ lao  
động ở Việt Nam là: Hoàn thiện khung pháp lý về lao động; tăng cường vai trò của người lao động và  
người sử dụng lao động.  
Từ khóa: Hội nhập quốc tế, quan hệ lao động, lao động Việt Nam.  
INDUSTRIAL RELATIONS IN VIETNAM IN THE CONTEXT  
OF INTERNATIONAL INTEGRATION  
Abstract  
Establishing harmonious, stable and progressive industrial relations in enterprise is a major policy of our  
Party and State. Well-performed industrial relations play an important role in promoting production and  
business, and contributing to maintaining political and social stability. However, the context of building  
industrial relations in Vietnam today has changed a lot due to the requirements of deeper international  
integration. The article focuses on analyzing the inadequacies in the process of building industrial relations  
in Vietnam according to the tripartite mechanism: the State, Employees and Employers. The data used in  
the article are mainly secondary data taken from the reports of the ILO, the Vietnam General Confederation  
of Labor. Some recommendations are made to further improve the industrial relations in Vietnam including  
completing the legal framework on labor; strengthening the roles of employees and employers.  
Keyword: International integration, industrial relations, Vietnamese employees.  
JEL classification: J, J01, J08, J8.  
Một số nghiên cứu về khái niệm Quan hệ lao  
động của một số học giả như: nhà kinh tế học  
người Mỹ J.T Dunlop; Giáo sư Grant và Malette  
(Trường Đại học Tổng hợp Québec – Montreal;  
Giáo sư Loic Cadin (Trường Đại học Thương mại  
Paris – ESCP). Điểm chung trong các quan niệm  
của các tác giả trên là đã thống nhất một số điểm  
chính về quan hệ lao động, đó là: i) Quan hệ lao  
động là quan hệ giữa những người lao động và  
người sử dụng lao động; ii) Quan hệ lao động chịu  
sự điều chỉnh của pháp luật và Nhà nước có thể  
can thiệp trực tiếp vào mối quan hệ này khi cần  
thiết; iii) Quan hệ lao động diễn ra trong một phạm  
vi rộng (ở tất cả các ngành), những chủ yếu ở các  
ngành công nghiệp – nơi sử dụng nhiều lao động,  
quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao  
động đa dạng, phức tạp.  
Một cách nhìn khác được coi là toàn diện và  
được chấp nhận rộng rãi là quan điểm của các  
chuyên gia của ILO “những mối quan hệ cá nhân  
và tập thể giữa những người sử dụng lao động tại  
nơi làm việc, cũng như các mối quan hệ giữa các  
đại diện của họ với Nhà nước. Những mối quan  
hệ như thế xoay quanh các khía cạnh pháp luật,  
1. Đặt vấn đề  
Thời gian qua, quan hệ lao động ở Việt Nam  
đã được cải thiện đáng kể và có nhiều chuyển biến  
tích cực. Tuy nhiên, Việt Nam đang trong quá  
trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng  
xã hội chủ nghĩa (XHCN) trong bối cảnh hội nhập  
quốc tế ngày càng sâu, rộng. Điều này đòi hỏi cần  
pháp luật lao động hiện đại, các thiết chế quan hệ  
lao động cùng các tổ chức đại diện cho người lao  
động (NLĐ) và người sử dụng lao động (NSDLĐ)  
vững mạnh hơn, năng lực thực thi pháp luật tốt  
hơn, tránh được những bất đồng dẫn đến tranh  
chấp xẩy ra trong quan hệ lao động,… để có thể  
hưởng lợi từ thương mại và đầu tư quốc tế. Từ  
thực tế trên cho thấy, việc nghiên cứu về quan hệ  
lao động trong cơ chế ba bên: Nhà nước, người sử  
dụng lao động và người lao động có ý nghĩa cả về  
lý luận và thực tiễn.  
2. Tổng quan nghiên cứu, cơ sở sở lý luận và  
phương pháp nghiên cứu  
2.1. Tổng quan nghiên cứu  
Về vấn đề Quan hệ lao động, đã có mộ số công  
trình trong nước và quốc tế khá toàn diện như:  
2
Chuyên mục: Khoa học xã hội và hành vi - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUꢀN TRỊ KINH DOANH SỐ 18 (2021)  
kinh tế, xã hội họ, tâm lý học và bao gồm cả những  
vấn đề như tuyển mộ, thuê mướn, sắp xếp công  
việc, đào tạo, kỷ luật, thăng chức, buộc thôi việc,  
kết thúc hợp đồng, làm ngoài giờ, tiền thưởng,  
phân chia lợi nhuận, giáo dục, y tế, vệ sinh, giải  
trí, chỗ ở, giờ làm việc, nghỉ ngơi, nghỉ phép, các  
vấn đề để phúc lợi cho người thất nghiệp, ốm đau,  
tai nạn, tuổi cao và tàn tật”. Ngoài việc chỉ ra chủ  
thể của quan hệ lao động, các loại quan hệ lao  
động,… các chuyên gia còn chỉ ra những nội dung  
rất cụ thể của quan hệ này.  
và Xã hội (LĐTBXH) và ILO. Trên cơ sở phân  
tích, đánh giá mức độ phù hợp của thiết chế, cơ  
chế quan hệ lao động hiện tại so với những cam  
kết quốc tế của Việt Nam, các Đề án đã đề xuất  
những giải pháp nhằm điều chỉnh thiết chế, cơ chế  
về quan hệ lao động trong thời gian tới để phù hợp  
với các cam kết quốc tế của Việt Nam đồng thời  
phù hợp với bối cảnh quốc gia.  
2.2 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu  
2.2.1. Cơ sở lý thuyết  
* Bản chất của quan hệ lao động  
Có thể thấy, các quan điểm trên đều xem xét  
quan hệ lao động là một hệ thống có nhiều chủ thể  
tương tác trong quá trình lao động sản xuất theo  
hai chơ chế vận hành chủ yếu của quan hệ này, đó  
là cơ chế hai bên (Người sử dụng lao động  
– Người lao động) và cơ chế ba bên (đại diện Nhà  
nước – đại diện người sử dụng lao động – đại diện  
người lao động).  
Về việc xây dựng thiết chế nhằm điều chỉnh  
Quan hệ lao động ở Việt Nam được đề cập trong  
một số Dự án như: Dự án “Xây dựng và điều chỉnh  
thiết chế, cơ chế về quan hệ lao động để phù hợp  
với các cam kết quốc tế của Việt Nam” (Nguyễn  
Duy Phúc, 2016); Dự án “Thúc đẩy xây dựng  
khung khổ quan hệ lao động mới đảm bảo tôn  
trọng Tuyên bố của ILO về các nguyên tắc và  
quyền cơ bản trong lao động” (Dự án NIRF, 2018)  
được thực hiện giữa Bộ Lao động – Thương binh  
.
Quan hệ lao động (QHLĐ) là quan hệ giữa  
người lao động (NLĐ), tập thể NLĐ với người sử  
dụng lao động (NSDLĐ) và tổ chức đại diện  
NSDLĐ được xác lập trên cơ sở pháp luật lao động  
bao gồm các tiêu chuẩn về lao động, cơ chế xác lập  
và vận hành QHLĐ, thiết chế giải quyết tranh chấp  
lao động, vai trò của các bên trong QHLĐ  
Theo quy định tại Khoản 6 Điều 3 Bộ luật  
Lao động năm 2012 thì “Quan hệ lao động là  
quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử  
dụng lao động, trả lương giữa người lao động và  
người sử dụng lao động”.  
Các chủ thể tương tác thông qua cơ chế tham  
vấn, đối thoại, thương lượng tạo thành cơ chế vận  
hành của QHLĐ. Cơ chế vận hành của QHLĐ gồm:  
* Cơ chế hai bên: NLĐ (đại diện của NLĐ) với  
NSDLĐ; đại diện của NLĐ với đại diện NSDLĐ.  
Người sử dụng lao  
động (tổ chức đại  
diện người sử dụng  
lao động)  
Người lao động (tổ  
chức đại diện người  
lao động)  
Ký kết hợp đồng  
lao động  
Người sử dụng  
Người lao động  
lao động  
Kí kết thương lượng tập  
thể và thỏa ước lao động  
tập thể  
Đại diện tập thể  
người sử dụng lao  
động  
Đại diện tập thể  
người lao động  
Biểu đồ 1: Mối quan hệ tương tác hai bên trong quan hệ lao động  
Nguồn: Xử lý của tác giả từ “Báo cáo quan hệ lao động”, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, 2017  
Cơ chế hai bên được hình thành trên cơ sở  
tương tác giữa NLĐ (tổ chức đại diện của NLĐ)  
với NSDLĐ động trong phạm vi doanh nghiệp  
hoặc giữa tổ chức đại diện của NLĐ với tổ chức  
đại diện của NSDLĐ trong phạm vi ngành thông  
qua cơ chế đối thoại, thương lượng, thỏa thuận để  
giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền và lợi  
ích của cả hai bên, xây dựng QHLĐ hài hòa, ổn  
định tiến bộ.  
* Cơ chế ba bên: Nhà nước – đại diện  
NSDLĐ – đại diện của NLĐ.  
3
Chuyên mục: Khoa học xã hội và hành vi - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUꢀN TRỊ KINH DOANH SỐ 18 (2021)  
Nhà nước  
Quan hệ  
lao động  
NSDLĐ (đại diện  
NLĐ (đại diện  
NSDLĐ)  
của NLĐ)  
Biểu đồ 2: Mối quan hệ tương tác ba bên trong quan hệ lao động  
Nguồn: Xử lý của tác giả từ “Báo cáo quan hệ lao động”, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, 2017  
Cơ chế ba bên là cơ chế hợp tác và chia sẻ  
trách nhiệm giữa Nhà nước, NSDLĐ và NLĐ  
(thông qua các cơ quan, tổ chức đại diện chính  
thức của mỗi bên) để cùng nhau giải quyết những  
vấn đề phát sinh trong lĩnh vực lao động. Trong  
cơ chế này, tổ chức đại diện NSDLĐ là “cầu nối”  
giữa NLĐ và NSDLĐ trong các quan hệ cụ thể và  
trong cơ chế hai bên, cơ chế ba bên nhằm hướng  
tới việc tăng cường đối thoại xã hội và cùng quyết  
định các vấn đề của lao động.  
ngơi, ATVSLĐ và các điều kiện khác nhằm bảo  
đảm quyền và lợi ích của các bên.  
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu  
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng một  
số phương pháp nghiên cứu sau:  
(i) Phương pháp nghiên cứu tiếp cận hệ  
thống: theo đó, quan hệ lao động được xem xét  
dưới các góc độ cơ chế ba bên gồm: NLĐ (đại diện  
NLĐ) – Nhà nước – NSDLĐ (đại diện NSDLĐ).  
Trong cơ chế này, việc xây dựng mối quan hệ lao  
động phải phù hợp với các cam kết quốc tế của  
Việt Nam và phù hợp với Tuyên bố của ILO về  
các nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động.  
(ii) Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu:  
nghiên cứu sử dụng các dữ liệu thu thập thông qua  
Báo cáo từ các nguồn: Bộ Lao động - Thương binh  
và Xã hội, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam…  
(iii) Phương pháp phân tích dữ liệu: nghiên  
cứu tiến hành đánh giá, phân tích về thực trạng  
xây dựng quan hệ lao động ở Việt Nam theo các  
nội dung: quan hệ về việc làm, tiền lương, thời giờ  
làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, điều kiện lao động,  
bảo hiểm xã hội, kỷ luật lao động và trách nhiệm  
vật chất, quyền và nghĩa vụ của các bên...  
* Phân loại quan hệ lao động  
Quan hệ lao động được phân loại theo các  
tiêu chí sau:  
(i) Theo chủ thể  
- QHLĐ cá nhân giữa các cá nhân NLĐ với  
NSDLĐ và QHLĐ tập thể giữa đại diện tập thể  
NLĐ và NSDLĐ (quan hệ hai bên).  
- Quan hệ giữa đại diện NLĐ với đại diện  
NSDLĐ và Nhà nước (quan hệ ba bên).  
(ii) Theo nội dung: có quan hệ về việc làm,  
tiền lương, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi,  
điều kiện lao động, bảo hiểm xã hội, kỷ luật lao  
động và trách nhiệm vật chất, quyền và nghĩa vụ  
của các bên...  
(iii) Theo phạm vi: có QHLĐ cấp quốc gia  
(hoặc địa phương), cấp ngành (cấp doanh nghiệp):  
- Trong phạm vi quốc gia (hoặc địa phương)  
là quan hệ giữa Nhà nước (cơ quan quản lý nhà  
nước), tổ chức đại diện của NLĐ, tổ chức đại diện  
NSDLĐ ở Trung ương (địa phương) trong việc  
hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách, pháp  
luật lao động, hỗ trợ thúc đẩy hai bên tại DN xây  
dựng mối QHLĐ hài hoà, ổn định và tiến bộ.  
- Ở cấp ngành (doanh nghiệp) là quan hệ giữa  
NLĐ (tổ chức đại diện NLĐ - công đoàn ngành và  
công đoàn cơ sở) và NSDLĐ (tổ chức đại diện  
NSDLĐ của ngành tại doanh nghiệp) trong việc  
thực hiện các qui định của pháp luật lao động và  
các cam kết của DN về hợp đồng lao động, tiền  
lương, BHXH, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ  
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận  
3.1. Quản lý Nhà nước về quan hệ lao động  
Tuy không can thiệp trực tiếp vào các hoạt  
động kinh tế nhưng Nhà nước tạo hành lang pháp  
lý để điều chỉnh mối quan hệ giữa NLĐ và người  
SDLĐ. Nhà nước giữ vai trò đặc biệt quan trọng  
với chức năng kép: vừa định ra pháp luật lao động,  
hướng dẫn thực hiện pháp luật lao động, vừa là  
một chủ thể trong quan hệ 3 bên, đại diện cho lợi  
ích quốc gia và toàn thể cộng đồng nhằm đảm bảo  
mối quan hệ hài hòa giữa các bên trong QHLĐ.  
Tuy nhiên, quản lý Nhà nước về quan hệ lao  
động ở Việt Nam thời gian qua còn một số vấn đề  
cần quan tâm đổi mới như sau:  
Thứ nhất, công tác quản lý nhà nước còn có  
những hạn chế về ban hành và đặc biệt là trong  
4
Chuyên mục: Khoa học xã hội và hành vi - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUꢀN TRỊ KINH DOANH SỐ 18 (2021)  
giám sát việc thực thi chính sách, pháp luật về lao  
động. Hệ thống chính sách, pháp luật của nước ta  
còn thiếu đồng bộ làm nảy sinh mâu thuẫn giữa  
yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội nhanh với thực  
trạng đổi mới cơ chế, chính sách; mâu thuẫn giữa  
tăng trưởng kinh tế với thực trạng đời sống của  
người lao động còn nhiều khó khăn. Ngoài ra,  
quản lý nhà nước về QHLĐ chưa tập trung vào  
một đầu mối và các thiết chế hỗ trợ hiện tại chưa  
phát huy được hiệu quả (hòa giải, trọng tài, xét  
xử), cùng với cơ chế tham vấn chưa đủ mạnh và  
chưa ngang tầm với sự phát triển (cơ chế 3 bên)  
dẫn đến công tác thanh tra, kiểm tra các vấn đề có  
liên quan đến QHLĐ còn nhiều hạn chế, khó khăn.  
Cụ thể, Bộ luật Lao động, các quy định của pháp  
luật lao động nói chung, về giải quyết tranh chấp  
lao động và đình công nói riêng mặc dù đã được  
sửa đổi, bổ sung và ngày càng hoàn thiện song vẫn  
bộc lộ nhiều hạn chế, thiếu thực tiễn. Nhiều quy  
định về chủ thể yêu cầu giải quyết tranh chấp lao  
động, đình công; thời hiệu yêu cầu giải quyết;  
trình tự, thủ tục đình công, cơ chế xử lý vi phạm…  
tỏ ra khó thực thi.  
Thứ hai, thực trạng thực hiện pháp luật lao  
động cho thấy, các vi phạm về QHLĐ hiện nay  
tương đối phổ biến, trong đó chủ yếu là các vi  
phạm về việc ký kết, chấm dứt hợp đồng lao động,  
thời giờ làm việc, tiền lương, bảo hiểm xã hội…  
Tuy nhiên, mức xử phạt với hành vi này của doanh  
nghiệp lại quá nhẹ, chưa đủ sức răn đe đối với  
doanh nghiệp. Theo quy định tại Điều 46 Luật Xử  
lý vi phạm hành chính năm 2012, Điều 37 của  
Nghị định số 95/2013/NĐ-CP (Quy định xử phạt  
vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo  
hiểm xã hội), mức xử phạt tiền tối đa trong nhiều  
trường hợp còn thấp không gây bất lợi lớn về kinh  
tế cho người vi phạm, nên thiếu tác dụng ngăn  
ngừa vi phạm.  
số tiền 48 tỉ đồng so với tháng 8/2019); 12.849  
đơn vị nợ từ 6-12 tháng với 745 tỉ đồng (giảm 13  
đơn vị và số tiền nợ tăng 41 tỉ đồng) và 14.982  
đơn vị nợ trên 12 tháng với số tiền 2.931 tỉ đồng  
(giảm 1.299 đơn vị và số tiền giảm 39 tỉ đồng).  
3.2. Về phía người lao động (đại diện người lao động)  
Thứ nhất, về phía người lao động  
Để đảm bảo QHLĐ hài hòa, NLĐ trước hết  
phải nâng cao nhận thức và nhận thức đầy đủ, toàn  
diện về quyền và nghĩa vụ của mình. Điều này  
được quy định rõ trong Bộ luật Lao động, Luật  
Công đoàn và nội quy, quy chế của doanh nghiệp.  
Tuy nhiên, phần lớn NLĐ trong các doanh  
nghiệp hiện nay xuất thân từ nông thôn chưa được  
đào tạo cơ bản, sự hiểu biết về chính sách, pháp  
luật, ý thức tổ chức kỷ luật lao động, tác phong  
công nghiệp còn hạn chế. Bên cạnh đó, nhiều  
doanh nghiệp vì lợi nhuận sản xuất là chính nên  
không quan tâm đến việc tuyên truyền chính sách  
pháp luật cho NLĐ, cố tình lách luật nên gây thiệt  
thòi cho người lao động,… dẫn đến việc không  
thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ trong tham  
gia QHLĐ và xẩy ra tranh chấp lao động, đình  
công không đúng trình tự do pháp luật quy định.  
Thứ hai, về phía đại diện NLĐ – Tổ chức  
công đoàn  
Ở Việt Nam, tổ chức Công đoàn (Công đoàn  
lao động Việt Nam) luôn nỗ lực trong việc thực  
hiện chức năng đại diện, bảo vệ NLĐ và các chức  
năng khác của mình. Tuy nhiên, tổ chức công  
đoàn chưa thể hiện được vai trò bảo vệ quyền, lợi  
ích hợp pháp, chính đáng của người lao động nhất  
là ở các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có  
vốn đầu tư nước ngoài. Hiện nay, còn có tới 85%  
doanh nghiệp dân doanh và 65% doanh nghiệp có  
vốn đầu tư nước ngoài chưa có công đoàn cơ sở.  
Vì vậy, khi xẩy ra tranh chấp về QHLĐ đã thiếu  
người đứng ra làm đại diện cho người lao động.  
Đình công là biện pháp tự bảo vệ cuối cùng của  
người lao động khi lợi ích hợp pháp bị vi phạm.  
Tuy nhiên, ngoài việc thiếu sự có mặt của Công  
đoàn trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thì  
thực tế, tổ chức công đoàn hiện còn bị ảnh hưởng  
của xu hướng hành chính hóa, nhiều tổ chức công  
đoàn cơ sở còn chưa biết thường xuyên giám sát  
để bảo vệ quyền lợi của người lao động, chỉ khi  
xẩy ra tranh chấp mới tham gia.  
Theo quy định của Luật BHXH năm 2014, từ  
ngày 1/1/2018, người lao động có hợp đồng lao  
động từ 1-3 tháng trở lên phải tham gia BHXH bắt  
buộc. Điều này nhằm đảm bảo quyền lợi chính  
đáng của người lao động và công tác phát triển đối  
tượng tham gia bảo hiểm xã hội. Tuy nhiên, số  
lượng doanh nghiệp trốn đóng bảo hiểm xã hội  
ngày một gia tăng. Nhằm trốn đóng BHXH, các  
doanh nghiệp đang áp dụng hình thức lách luật với  
hình thức là thuê khoán, khoán việc với người lao  
động, áp dụng hình thức này sẽ giúp các doanh  
nghiệp giảm chi phí về đóng BHXH.  
Tính từ 2014 đến năm 2019, cả nước đã xảy  
ra 1.496 cuộc ngừng việc tập thể, đình công tự  
phát, tập trung nhiều ở các doanh nghiệp FDI  
(chiếm khoảng hơn 70%). Riêng năm 2018, có  
214 cuộc trên địa bàn 36 tỉnh, thành phố, giảm 115  
cuộc (34,95%) so với năm 2017. Thời điểm xảy ra  
nhiều nhất là các cuộc ngừng việc tập thể và đình  
Theo báo cáo của các cơ quan quản lý Nhà  
nước, đến hết tháng 9/2019, cả nước còn 32.205  
đơn vị nợ BHXH, BHYT, BH thất nghiệp từ 3-6  
tháng với số tiền 987 tỉ đồng (tăng 118 đơn vị với  
5
Chuyên mục: Khoa học xã hội và hành vi - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUꢀN TRỊ KINH DOANH SỐ 18 (2021)  
công là trước và sau tết Nguyên đán (chiếm trên  
31%). Đặc biệt, tất cả các cuộc ngừng việc tập thể,  
đình công đều tự phát, không theo đúng trình tự  
quy định của pháp luật, không do CĐCS tổ chức  
và lãnh đạo.  
lại thời gian để được hưởng chế độ chính sách gặp  
rất nhiều khó khăn. Tình trạng này tác động xấu  
đến quyền lợi chính đáng của NLĐ, nhất là khi họ  
gặp rủi ro trong thai sản, ốm đau, tai nạn...  
Năm 2016, qua thanh tra, kiểm tra tại hơn  
13.000 đơn vị sử dụng lao động đã phát hiện  
gần 39.400 trường hợp người lao động chưa được  
đóng bảo hiểm hoặc được đóng thiếu thời gian với  
số tiền trên 23,6 tỷ đồng; 6.800 lượt người hưởng  
sai quy định gần 7,9 tỷ đồng… Số nợ BHXH tính  
hết tháng 2/2017 là 14.800 tỷ đồng gồm cả số nợ  
trong năm 2016. Điều đáng lưu ý là trong số nợ  
đọng BHXH, có khá nhiều nợ khó đòi nằm trong  
các DN đã phá sản, giải thể, thậm chí chủ DN đã  
bỏ trốn, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của hơn 200  
nghìn lao động.  
Đến hết quý I/2017, tổng số tiền nợ bảo hiểm  
xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp là  
14.019 tỷ đồng bằng 4,95% so với kế hoạch giao  
thu, tăng 7,1% so với cùng kỳ năm 2016. Đến hết  
tháng 3/2019, tổng thu BHXH, BHYT toàn ngành  
đạt 22,1% kế hoạch Chính phủ giao. Tuy nhiên,  
tình hình nợ BHXH lại có chiều hướng gia tăng so  
với thời điểm cuối năm 2018. Đến hết tháng 3, số  
nợ BHXH phải tính lãi là 6.436 tỷ chiếm 2% số  
phải thu, tăng 1.087 tỷ so với 31/12/2018. Đặc  
biệt, đến hết tháng 10-2020, tổng số tiền nợ  
BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp (BHTN)  
gần 20.000 tỉ đồng (bằng 4,93% số phải thu và  
tăng 0,8% so với cùng kỳ năm 2019).  
Nguyên nhân của tình trạng trên là chất lượng  
và hiệu quả hoạt động công đoàn ở nhiều nơi, nhất  
là ở cấp cơ sở còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng  
được yêu cầu; chưa thuyết phục, thu hút được  
đoàn viên, NLĐ gắn bó, tin cậy vào tổ chức Công  
đoàn. Nhiều cán bộ công đoàn (CBCĐ) có trình  
độ, năng lực yếu, khả năng thương lượng, đối  
thoại để ký kết TƯLĐTT, chưa bảo vệ được quyền  
lợi cho NLĐ. Sự hỗ trợ hoạt động của công đoàn  
cấp trên cơ sở đối với CĐCS còn hạn chế. Cơ chế  
bảo vệ CBCĐ còn thiếu và yếu cả trong quy định  
của pháp luật lẫn thực thi trong thực tiễn. Trong  
khi đó, hầu hết CBCĐ cơ sở là kiêm nhiệm, chưa  
được qua đào tạo, vẫn phải đảm bảo thời gian làm  
việc như những người lao động khác nên không  
có điều kiện nghiên cứu, tuyên truyền tới các đoàn  
viên công đoàn. Ở một số doanh nghiệp, cán bộ  
công đoàn đồng thời là cán bộ doanh nghiệp (phó  
giám đốc hoặc lãnh đạo các phòng ban) nên còn  
hiện tượng cán bộ công đoàn xa rời người lao  
động, lại bị chi phối bởi thù lao mà chủ doanh  
nghiệp chi trả,… thiếu bình đẳng với NLĐ trong  
QHLĐ, không đứng ra tổ chức và lãnh đạo khi xẩy  
ra tranh chấp. Do đó, hoạt động công đoàn chỉ  
mang tính hình thức.  
Có thể thấy việc chấp hành, tuân thủ quy định  
pháp luật về bảo hiểm xã hội trong các doanh  
nghiệp hiện nay vẫn còn nhiều tồn tại. Ngoài ý  
thức chấp hành pháp luật của chủ doanh nghiệp  
chưa cao, thì công tác phối hợp giữa các cơ quan  
chức năng, giải quyết cũng như chế tài xử lý cho  
tình trạng nợ đọng BHXH chưa thật sự chặt chẽ  
và nghiêm khắc.  
3.3. Về phía người sử dụng lao động (đại diện  
người sử dụng lao động)  
Việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người  
SDLĐ phải được thực hiện trong khuôn khổ của  
pháp luật, đồng thời người SDLĐ phải chịu trách  
nhiệm trước pháp luật về hành vi quản lý của  
mình.Tuy nhiên, hiện nay nhiều DN chưa thực  
hiện đúng quy định của pháp luật lao động và các  
cam kết đã thoả thuận với NLĐ như: không nâng  
lương hàng năm cho NLĐ hoặc nâng với mức quá  
thấp, thời gian làm thêm giờ của NLĐ quá nhiều  
và việc trả lương làm thêm giờ cho NLĐ không  
đầy đủ, chấm dứt hợp đồng lao động tùy tiện  
không có căn cứ pháp luật; DN áp dụng các biện  
pháp quản lý “hà khắc”. Nhiều DN ký kết thoả  
ước lao động tập thể chỉ mang tính đối phó.  
Tình trạng nợ BHXH kéo dài của các DN  
đang ở mức độ báo động, không những hệ lụy trực  
tiếp đến người lao động (NLĐ) mà còn gây  
rất nhiều phiền toái cho cơ quan BHXH, các cơ  
quan quản lý lao động, kể cả gây bức xúc trong dư  
luận do chế tài xử lý nợ đọng BHXH chưa đủ  
mạnh để giải quyết dứt điểm các DN nợ BHXH  
khiến NLĐ khi chuyển nơi làm việc hoặc cần chốt  
4. Một số giải pháp nhằm xây dựng quan hệ lao  
động ở Việt Nam  
4.1. Tăng cường cơ chế phối hợp giữa các chủ  
thể trong mối quan hệ lao động ở Việt Nam  
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh  
tế quốc tế nhất là khi Việt Nam gia nhập CPTPP,  
cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các chủ thể nhằm  
thực hiện tốt quan hệ lao động ở Việt Nam. Trước  
hết, các cơ quan chức năng của Nhà nước như Bộ  
Lao động – Thương binh và Xã hội, Tổng Liên  
đoàn Lao động Việt Nam và Phòng Thương mại  
và Công nghiệp Việt Nam căn cứ vào chức năng,  
nhiệm vụ được giao để thực hiện xây dựng cơ chế,  
chính sách về QHLĐ phù hợp với điều kiện phát  
triển của kinh tế - xã hội, đảm bảo sự nghĩa vụ,  
quyền lợi và trách nhiệm của các chủ thể tham gia  
6
Chuyên mục: Khoa học xã hội và hành vi - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUꢀN TRỊ KINH DOANH SỐ 18 (2021)  
trong mối QHLĐ của Việt Nam, đồng thời phải  
nghiên cứu để từng bước phê chuẩn các công ước  
của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) vào hệ thống  
chính sách pháp luật của Việt Nam theo chuẩn  
quốc tế. Cần tăng cường sự giám sát, kiểm tra của  
các cơ quan quản lý Nhà nước đối với các bên  
tham gia trong QHLĐ. Có chế tài xử lý nghiêm  
đối với chủ thể có vi phạm khi xẩy ra tranh chấp  
trong QHLĐ. Đối với NSDLĐ và NLĐ cần phải  
có trách nhiệm trong việc tìm hiểu và nghiên cứu  
các quy định của pháp luật để thực hiện nghiêm  
các quy định của chính sách pháp luật, trên cơ sở  
đó xây dựng mối quan hệ hài hòa, đảm bảo lợi ích  
giữa các bên giữa NSDLĐ và NLĐ trong doanh  
nghiệp. Nếu xây dựng tốt các mối quan hệ này,  
người lao động sẽ tin tưởng vào doanh nghiệp,  
phấn khởi, toàn tâm toàn ý ra sức xây dựng doanh  
nghiệp ổn định và phát triển bền vững.  
4.2. Hoàn thiện khung pháp lý về quan hệ lao động  
Để ngăn ngừa, hạn chế tranh chấp lao động,  
góp phần thúc đẩy QHLĐ lành mạnh, cần thực  
hiện đồng bộ, linh hoạt, những giải pháp sau:  
Thứ nhất, tăng cường hơn nữa vai trò quản lý  
nhà nước về QHLĐ và kiện toàn hệ thống cơ quan  
quản lý nhà nước về QHLĐ từ Trung ương đến cơ  
sở. Tiếp tục xây dựng và kiện toàn bộ máy tổ chức  
cơ quan quản lý nhà nước để thực hiện chức năng  
nhận đăng ký và quản lý hoạt động của các tổ chức  
của NLĐ, tổ chức của NSDLĐ. Bên cạnh đó, cần  
hoàn thiện thể chế, pháp luật lao động và QHLĐ  
phù hợp với lộ trình và kế hoạch phê chuẩn các  
công ước của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) của  
Việt Nam.  
Thứ hai, thúc đẩy và duy trì việc đối thoại  
thường xuyên nhằm tăng cường sự hợp tác giữa  
NLĐ với NSDLĐ, xây dựng môi trường lao động  
thân thiện, lành mạnh. Đồng thời, tăng cường sự  
hỗ trợ của Nhà nước trong việc thực hiện thương  
lượng và ký kết thỏa ước lao động tập thể.  
Thứ ba, nâng cao vai trò trách nhiệm của tổ  
chức đại diện NLĐ, đặc biệt ở cấp CĐCS, nhằm  
phát huy những thuận lợi để CĐCS thực hiện sứ  
mệnh trong việc đại diện và bảo vệ quyền và lợi  
ích của NLĐ. Đồng thời hoàn thiện hệ thống tổ  
chức, chức năng nhiệm vụ của tổ chức đại diện  
NSDLĐ trong QHLĐ đảm bảo khả năng bảo vệ  
quyền và lợi ích hợp pháp cho NSDLĐ.  
hoàn thiện cơ chế tham vấn ba bên về QHLĐ. Cần  
tiếp tục nâng cao năng lực hoạt động của các tổ  
chức tổ chức công tác trọng tài, hoà giải thông qua  
việc đào tạo và huấn luyện cán bộ làm công tác hoà  
giải, trọng tài. Bên cạnh đó, đẩy mạnh việc nghiên  
cứu, tham khảo có chọn lọc các điều ước, công ước  
quốc tế, thông lệ quốc tế và kinh nghiệm của các  
nước trên thế giới về QHLĐ để hình thành mô hình  
QHLĐ phù hợp với điều kiện nước ta, đáp ứng yêu  
cầu hội nhập kinh tế quốc tế.  
4.3. Giải pháp đối với NSDLĐ (đại diện NSDLĐ)  
* Đối với người sử dụng lao động  
Tiếp tục tăng cường phối hợp với tổ chức công  
đoàn các cấp đẩy mạnh tuyên truyền chính sách,  
pháp luật về Luật Lao động đến NSDLĐ và NLĐ.  
Xây dựng các chiến lược phát triển DN trên nền  
tảng xây dựng khả năng lao động, đời sống tinh  
thần, vật chất của NLĐ. Nguyên tắc trả lương  
tương xứng là để có được đội ngũ quản lý và công  
nhân lành nghề. Chia sẻ lợi nhuận để tăng thu nhập  
cho NLĐ vừa là trách nhiệm, vừa là đạo lý. Điều  
đó sẽ tạo nên sự gắn kết bền chặt giữa DN và NLĐ.  
Đối với vấn đề xử lý nợ BHYT, BHXH: Giao  
chỉ tiêu phấn đấu giảm nợ ngay từ đầu năm đối  
với BHXH từng tỉnh, thành phố; Yêu cầu cán bộ  
chuyên quản thu bám sát đơn vị để đôn đốc doanh  
nghiệp đóng kịp thời số phát sinh; Công khai danh  
tính đơn vị nợ BHXH, BHYT trên phương tiện  
thông tin đại chúng; Triển khai các cuộc kiểm tra  
chuyên đề, thanh tra đột xuất đổi với các đơn vị  
nợ đọng; Phối hợp với tổ chức công đoàn lập hồ  
sơ khởi kiện đối với những doanh nghiệp nợ kéo  
dài, ảnh hưởng đến quyền lợi người lao động…  
* Tăng cường vai trò của tổ chức đại diện  
người sử dụng lao động  
Để tăng cường vai trò của tổ chức đại diện  
người sử dụng lao động cần tiến hành một số biện  
pháp chủ yếu sau đây.  
Một là: tổ chức đại diện NSDLĐ cần tự đổi  
mới về phương thức tổ chức, hoạt động của mình,  
cần có sự chủ động trong các hoạt động nhằm từng  
bước nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động. Tăng  
cường các biện pháp phát triển thành viên, xây  
dựng quy chế hoạt động, tham gia mạnh vào các  
hoạt động trong nước, khu vực và quốc tế để nâng  
cao vị thế và tăng cường sự hợp tác cũng như hiệu  
quả hoạt động.  
Thứ tư, Tiếp tục hoàn thiện các thiết chế về  
giải quyết tranh chấp lao động, tiến tới thành lập  
các cơ quan chuyên trách ở các địa phương; xác  
định rõ, vai trò của cơ quan quản lý nhà nước trong  
việc hỗ trợ thúc đẩy QHLĐ bảo đảm phù hợp với  
tiêu chuẩn lao động của ILO và cam kết quốc tế  
trong các FTA thế hệ mới. Xây dựng, củng cố và  
Hai là, xây dựng thể chế pháp lý về tổ chức  
hoạt động của tổ chức đại diện NSDLĐ nhằm  
nâng cao vị trí, vai trò cũng như hiệu quả hoạt  
động của tổ chức này. Bên cạnh đó, cần xây dựng  
quy chế chung về mối quan hệ ba bên giữa NLĐ  
(đại diện NLĐ) – Nhà nước – NSDLĐ (đại diện  
7
Chuyên mục: Khoa học xã hội và hành vi - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUꢀN TRỊ KINH DOANH SỐ 18 (2021)  
NSDLĐ) nhằm khẳng định tư cách, vị trí, vai trò  
của các bên trong tổng thể các vấn đề lao động.  
Ba là, cần sửa đổi, bổ sung pháp luật về  
BHXH theo hướng tăng mức xử phạt hành chính  
nợ BHXH, có cơ chế giám sát hoạt động của DN  
trong việc nộp tiền BHXH, ngăn chặn sự chậm trễ  
trong việc đóng tiền BHXH. Thành lập Hội đồng  
xử lý công nợ BHXH có thẩm quyền trong thu tiền  
BHXH khi chủ DN bỏ trốn.  
dựa vững chắc hỗ trợ cho công đoàn cơ sở trong  
quan hệ lao động; ưu tiên đầu tư cho công tác tham  
gia xây dựng và giám sát việc thực hiện chính  
sách, pháp luật đối với người lao động, công tác  
đối thoại và thương lượng tập thể.  
Thứ ba, nâng cao chất lượng của đội ngũ cán  
bộ Công đoàn bằng cách bồi dưỡng kiến thức, kĩ  
năng, nghiệp vụ cho cán bộ Công đoàn chuyên  
trách và cán bộ Công đoàn kiêm nhiệm; tập trung  
cho cơ sở, đầu tư nguồn lực cho công đoàn doanh  
nghiệp khu vực ngoài nhà nước, doanh nghiệp có  
đông công nhân để làm tốt chức năng quan hệ lao  
động; đổi mới mạnh mẽ hoạt động công đoàn cấp  
trên trực tiếp cơ sở để các tổ chức này thực sự làm  
chỗ dựa vững chắc hỗ trợ cho công đoàn cơ sở  
trong quan hệ lao động; ưu tiên đầu tư cho công  
tác tham gia xây dựng và giám sát việc thực hiện  
chính sách, pháp luật đối với người lao động, công  
tác đối thoại và thương lượng tập thể.  
4.4. Giải pháp đối với NLĐ (đại diện NLĐ)  
* Đối với người lao động  
Trước tiên, NLĐ cần tự nâng cao nhận thức,  
ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có  
kiến thức để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính  
đáng cho bản thân trong quá trình tham gia lao  
động, xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, ổn  
định và tiến bộ trong doanh nghiệp.  
* Đối với tổ chức đại diện người lao động  
Thứ nhất, tổ chức công đoàn phải không ngừng  
tự đổi mới, thay đổi nội dung và phương thức hoạt  
động, chuyển biến tư duy và nhận thức cho phù hợp  
với vai trò lịch sử của tổ chức công đoàn trong giai  
đoạn mới - đặc biệt trong bối cảnh các Hiệp định  
thương mại tự do đã và sẽ có hiệu lực trong thời gian  
tới. Đồng thời, chủ động hội nhập quốc tế, nâng cao  
vị thế và khẳng định vai trò của Công đoàn Việt  
Nam, phát huy hiệu quả các hoạt động hợp tác quốc  
tế hỗ trợ cho hoạt động công đoàn.  
5. Kết luận  
Hài hòa, ổn định và tiến bộ là ba thành tố  
không thể thiếu, là mục tiêu mà chúng ta hướng  
tới trong xây dựng quan hệ lao động hiện nay. Kết  
quả nghiên cứu cho thấy, Bên cạnh những kết quả  
đạt được thì những vấn đề còn tồn tại như: tình  
hình vi phạm pháp luật lao động trong các doanh  
nghiệp vẫn còn diễn ra phức tạp, nhất là vi phạm  
những quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ  
ngơi, giao kết hợp đồng lao động và ký kết thoả  
ước lao động tập thể, … Đặc biệt tình trạng doanh  
nghiệp trốn tránh, chiếm dụng, nợ đọng bảo hiểm  
xã hội còn nhiều, ảnh hưởng đến quyền lợi của  
người lao động. Thực tế này đòi hỏi phải áp dụng  
đồng bộ các giài pháp nhằm nhằm từng bước nâng  
cao hiệu quả quản lý nhà nước, hiệu quả hoạt động  
của tổ chức công đoàn, tổ chức đại diện người sử  
dụng lao động trong quan hệ lao động; thúc đẩy  
các hoạt động đối thoại, thương lượng tập thể, giải  
quyết tốt tranh chấp lao động và đình công; bảo  
đảm thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh, giữ  
vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.  
Thứ hai, nâng cao hiệu quả hoạt động của các  
tổ chức công đoàn  
Đổi mới phương thức, Xây dựng và tổ chức  
triển khai thực hiện tốt các chương trình, kế hoạch  
tuyên truyền, tập hợp, vận động đoàn viên, người  
lao động, thu hút người lao động và tổ chức của  
người lao động tại doanh nghiệp tham gia vào hệ  
thống Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; Tiếp  
tục chỉ đạo đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương  
thức hoạt động của công đoàn cơ sở trong doanh  
nghiệp để tổ chức này thực sự là tổ chức của người  
lao động, do người lao động và vì người lao động;  
đổi mới mạnh mẽ hoạt động công đoàn cấp trên  
trực tiếp cơ sở để các tổ chức này thực sự làm chỗ  
8
Chuyên mục: Khoa học xã hội và hành vi - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUꢀN TRỊ KINH DOANH SỐ 18 (2021)  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. Minh Anh. (2019). Tăng cường giải pháp giảm nợ đọng Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, đảm bảo  
quyền lợi cho người lao động. Tapchibaohiemxahoi.gov.vn.  
[2]. Cục Quan hệ lao động - Tiền lương, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. (2021). Báo cáo quan hệ  
lao động, 2020.  
[3]. Đoàn Thị Phương Diệp và các công sự. (2018). Giáo trình Luật lao động. Nhà xuất bản Đại học quốc  
gia TP. Hồ Chí Minh.  
[4]. Đoàn Thị Phương Diệp. (2019). Mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động giai  
đoạn hiện nay. Tạp chí Tài chính, kỳ 2 tháng 10 năm 2019.  
[5]. Phạm Thị Hồng Đào. (2016). Đặc trưng của quan hệ lao động ở Việt Nam và vấn đề áp dụng pháp  
luật trong lĩnh vực lao động.  
[6]. Phạm Minh Huân. (2015). Quan hệ lao động ở Việt Nam – Những vấn đề đặt ra và định hướng hoàn  
thiện. Tạp chí Nghiên cứu, trao đổi.  
[7]. Đặng Lợi. (2020). Xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ: Nâng cao hiệu quả hoạt động  
của tổ chức công đoàn. Cổng Thông tin điện tử Công đoàn Việt Nam.  
[8]. Lưu Bình Nhưỡng. (2007). Tổ chức đại diện của người sử dụng lao động. Tạp chí Nghiên cứu Lập  
pháp số 97.  
[9]. Nguyễn Duy Phúc. (2016). Xây dựng và điều chỉnh thiết chế, cơ chế về quan hệ lao động để phù hợp  
với các cam kết quốc tế của Việt Nam. Bô Lao động – Thương binh và Xã hội.  
[10]. Trần Tuấn Sơn. (2020). Bàn về vai trò của tổ chức công đoàn trong việc bảo vệ quyền của người lao  
động trong bối cảnh Việt Nam gia nhập hiệp định CPTPP. Tạp chí Công Thương.  
[11]. Nguyễn Xuân Thu. (2013). Vai trò của tổ chức đại diện người lao động trong cơ chế ba bên. Cổng  
Thông tin điện tử Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.  
Thông tin tác giả:  
Ngày nhận bài: 17/8/2021  
Ngày nhận bản sửa: 15/9/2021  
Ngày duyệt đăng: 30/9/2021  
1. Phạm Thị Nga  
- Đơn vị công tác: Trường Đại học Kinh tế & QTKD  
- Địa chỉ email: [email protected]u.vn  
2. Trần Trọng Nhất  
- Đơn vị công tác: Trường Chính trị tỉnh Thái Nguyên  
3. Lê Chí Trung  
- Đơn vị công tác: Trường Chính trị tỉnh Thái Nguyên  
9
pdf 8 trang Thùy Anh 16220 Free
Bạn đang xem tài liệu "Quan hệ lao động ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfquan_he_lao_dong_o_viet_nam_trong_boi_canh_hoi_nhap_quoc_te.pdf