Xây dựng sàn giao dịch công nghệ theo mô hình doanh nghiệp

VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 67-78  
Original Article  
Establishment of a Technology Exchange Operated  
under Enterprise Model  
Luu Hoang Long  
Management Board of Hoa Lac Hi-Tech Park, Km29 Thang Long Boulevard, Thach That, Hanoi, Vietnam  
Received 15 June 2021  
Revised 30 June 2021; Accepted 06 July 2021  
Abstract: Technology Exchange (TEx) is an operating model to commercialize research results;  
support and advise science and technology (S&T) organizations and businesses in technology  
exchange and transfer, and act as a bridge between the research and development (R&D) activities  
and production/business sector.  
There have been many studies on the operating model of the Technology Exchange, the  
commercialization of research results and the policies for technology market development in Viet  
Nam. However, these studies have not yet shown any specific and feasible operating model for the  
operation of the Technology Exchange.  
This paper analyzes the theoretical and practical basis to propose the establishment of a business-  
driven Technology Exchange model to develop the technology market in Vietnam.  
Keywords: Technology, Technology Exchange, Enterprise.  
________  
Corresponding author.  
Email address: [email protected]  
67  
L. H. Long / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 67-78  
68  
Xây dựng sàn giao dịch công nghệ theo mô hình doanh nghiệp  
Lưu Hoàng Long  
Ban Quản lý Khu Công nghệ cao Hòa Lạc, Km 29 Đại lộ Thăng Long, Thạch Thất, Hà Nội, Việt Nam  
Nhận ngày 15 tháng 6 năm 2021  
Chỉnh sửa ngày 30 tháng 6 năm 2021; Chấp nhận đăng ngày 06 tháng 7 năm 2021  
Tóm tắt: Sàn giao dịch công nghệ (sau đây viết tắt là “SGDCN” hoặc “sàn GDCN” hoặc “sàn”) là  
mô hình hoạt động nhằm thương mại hóa các kết quả nghiên cứu, hỗ trợ, tư vấn cho các tổ chức  
khoa học và công nghệ (KH&CN) và các doanh nghiệp trong quá trình giao dịch, chuyển giao công  
nghệ, là cầu nối giữa khu vực nghiên cứu và triển khai (R&D) với khu vực sản xuất/kinh doanh.  
Đã có nhiều nghiên cứu về mô hình hoạt động của SGDCN, thương mại hóa các kết quả nghiên cứu,  
chính sách phát triển thị trường công nghệ ở Việt Nam, tuy nhiên các nghiên cứu này chưa đưa ra  
được một mô hình hoạt động cụ thể và khả thi cho hoạt động của SGDCN.  
Bài báo này phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm đề xuất việc xây dựng SGDCN theo mô hình  
doanh nghiệp để phát triển thị trường công nghệ ở Việt Nam.  
Từ khóa: Công nghệ, sàn giao dịch công nghệ, doanh nghiệp.  
không thuộc đối tượng nghiên cứu của bài viết  
1. Các khái niệm công cụ  
này.  
1.1. Công nghệ  
Theo Phạm Phi Anh, Trần Văn Hải (2016),  
công nghệ có thể tồn tại ở các hình thức:  
Trong bài viết này, tác giả sử dụng khái niệm  
công nghệ theo quy định của Luật KH&CN  
2013: “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí  
quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo  
công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực  
thành sản phẩm”. Trong đó nhấn mạnh công  
nghệ phải liên quan đến “kỹ thuật”, như giải  
pháp kỹ thuật, quy trình kỹ thuật, bí quyết kỹ  
thuật.  
- Giải pháp kỹ thuật dạng vật thể;  
- Giải pháp kỹ thuật dạng chất thể;  
- Giải pháp kỹ thuật dạng quy trình/phương  
pháp.  
Giải pháp kỹ thuật dạng vật thể, được thể  
hiện bằng một tập hợp thông tin xác định về một  
sản phẩm hữu hình được đặc trưng bởi các dấu  
hiệu (đặc điểm) về kết cấu, sản phẩm đó có chức  
năng (công dụng) như một phương tiện nhằm đáp  
ứng một nhu cầu nhất định của con người [2].  
OECD (2002) đã phân loại các lĩnh vực  
KH&CN [1] theo đó công nghệ trong bài viết  
này được hiểu là kết quả nghiên cứu ứng dụng  
thuộc các nhóm 1, 2, 3, 4 bao gồm tự nhiên, kỹ  
thuật và công nghệ, y/dược, nông nghiệp. Như  
vậy các công nghệ thuộc nhóm 5 (nhóm xã hội),  
như công nghệ quản lý, công nghệ đào tạo,...  
Một điểm cần lưu ý công nghệ là giải pháp  
kỹ thuật dạng vật thể với nghĩa như đã phân tích  
ở trên khác với thiết bị/máy móc. Có thể mua và  
bán thiết bị/máy móc ở chợ, hội chợ,… nhưng để  
________  
Tác giả liên hệ.  
Địa chỉ email: [email protected]om  
L. H. Long / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 67-78  
69  
mua và bán công nghệ là giải pháp kỹ thuật dạng  
vật thể thì cần tiến hành trên SGDCN.  
chẩn đoán, dự báo, kiểm tra, xử lý,...) được thể  
hiện bằng một tập hợp thông tin xác định cách  
thức tiến hành một công đoạn, một công việc cụ  
thể được đặc trưng bởi các dấu hiệu (đặc điểm)  
về trình tự, điều kiện, thành phần tham gia, biện  
pháp, phương tiện thực hiện các thao tác nhằm  
đạt được một mục đích nhất định.  
Như vậy, công nghệ có thể bao gồm phần  
mềm/và hoặc phần cứng (phần vô hình/và hoặc  
phần hữu hình), có thể là giải pháp, quy trình, bí  
quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ,  
phương tiện, trong đó giải pháp, quy trình, bí  
quyết kỹ thuật luôn luôn tồn tại ở dạng vô hình.  
Theo Sharif, N (1988) công nghệ có 4 thành  
phần: kỹ thuật (Technoware), con người  
(Humanware), tổ chức (Orgaware), thông tin  
(Infoware) [3], trong đó phần kỹ thuật có thể là  
phần mềm (ví dụ quy trình/phương pháp) hoặc  
có thể là phần cứng kèm theo phần mềm (ví dụ  
thiết bị/máy móc kèm theo quy trình/phương  
pháp vận hành).  
Thông tin công nghệ dạng dạng chất thể (vật  
liệu, chất liệu, hoạt chất, dược phẩm,...) được thể  
hiện bằng một tập hợp thông tin xác định một sản  
phẩm nhân tạo được đặc trưng bởi các dấu hiệu  
(đặc điểm) về sự hiện diện, tỉ lệ và trạng thái của  
các phần tử, có chức năng (công dụng) như một  
phương tiện nhằm đáp ứng một nhu cầu nhất  
định của con người [2].  
1.3.2. Sàn giao dịch công nghệ Offline  
Được tổ chức tại nơi có mặt để trực tiếp  
trưng bày thiết bị, công nghệ dạng vật thể.  
1.2. Chợ công nghệ và thiết bị (Techmart)  
Techmart có thể tổ chức theo hình thức  
offline và online. Trong đó, Techmart Online là  
chợ công nghệ và thiết bị được tổ chức dựa trên  
sự hỗ trợ của các phương tiện công nghệ thông  
tin và truyền thông hiện đại cho phép mở rộng  
giới hạn về không gian và thời gian giao dịch,  
nhằm hỗ trợ cho các đơn vị có công nghệ, thiết  
bị chào bán cũng như các đơn vị có nhu cầu tìm  
mua công nghệ, thiết bị, gặp gỡ, tiếp xúc, trao  
đổi trực tuyến và thực hiện giao dịch mua bán  
công nghệ thuận lợi, không hạn chế về không  
gian và thời gian [4].  
Công nghệ dưới dạng hữu hình có thể  
chuyển giao, ví dụ máy móc, thiết bị, hệ thống  
thiết bị. Tùy theo hình thức tồn tại và đặc điểm  
kỹ thuật của từng loại hàng hóa công nghệ để lựa  
chọn cách thức đưa lên SGDCN. Có thể trình bày  
dưới dạng thông tin mô tả chi tiết, hình ảnh, mô  
hình, sản phẩm mẫu trưng bày, giới thiệu tại  
SGDCN thực hoặc SGDCN ảo.  
Công nghệ dưới dạng vô hình kèm theo thiết  
bị có thể chuyển giao, đặc biệt là các sáng chế,  
giải pháp hữu ích về quy trình, phần mềm, công  
thức, bí quyết kỹ thuật, thông tin công nghệ và  
các tài liệu công nghệ có giá trị thương mại như  
bản mô tả quy trình chế tác, bản vẽ thiết kế kỹ  
thuật, công thức pha chế,… Công nghệ ở dạng  
dịch vụ kỹ thuật, bao gồm dịch vụ đo kiểm, lắp  
đặt, tư vấn, quản trị, vận hành, cải tiến công nghệ  
theo yêu cầu,…  
Như vậy, đối tượng giao dịch của Techmart  
bao gồm công nghệ và thiết bị.  
1.3. Sàn giao dịch công nghệ (Technology  
Exchange)  
1.3.1. Sàn giao dịch công nghệ Online  
Như vậy, đối tượng giao dịch của SGDCN  
chỉ bao gồm công nghệ (có thể tồn tại ở dạng vô  
hình hoặc dạng hữu hình và vô hình).  
Được tổ chức theo hình thức giao dịch  
thương mại điện tử với nguyên liệu là thông tin  
công nghệ.  
Thông tin công nghệ dạng phương pháp là  
trình tự tiến hành các công đoạn hoặc một loạt  
công đoạn diễn ra đồng thời hoặc diễn ra theo  
trình tự thời gian, trong các điều kiện kỹ thuật  
xác định có sử dụng các phương tiện vật chất.  
Quy trình (quy trình công nghệ; phương pháp  
1.4. Doanh nghiệp  
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế hoạt  
động sản xuất/kinh doanh trên thị trường theo  
quy định của pháp luật.  
L. H. Long / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 67-78  
70  
Pháp luật Việt Nam định nghĩa doanh nghiệp  
Hạ tầng cơ sở về công nghệ thông tin (mạng  
Internet, máy tính, phần mềm quản trị, phần  
mềm chuyên dụng,…). Cơ sở dữ liệu thông tin  
liên quan đến hàng hóa công nghệ và các chủ thể  
tham gia vào giao dịch mua bán công nghệ (bên  
cung, bên cầu).  
tại Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020, trong đó  
mục đích tồn tại của doanh nghiệp là kinh doanh,  
định nghĩa này không đề cập đến lợi nhuận như  
một mục tiêu tồn tại của doanh nghiệp.  
Có nhiều tiêu chí để phân loại doanh nghiệp,  
trong đó có một số tiêu chí chính:  
2.2. Các chủ thể tham gia quá trình giao dịch  
công nghệ  
- Phân loại theo quy mô của doanh nghiệp:  
Doanh nghiệp siêu nhỏ; Doanh nghiệp nhỏ;  
Doanh nghiệp vừa; Doanh nghiệp lớn;  
Các chủ thể này có thể bao gồm bốn loại  
chính sau:  
- Phân loại theo hình thức sở hữu: Doanh  
nghiệp tư nhân; Công ty trách nhiệm hữu hạn;  
Công ty cổ phần; Công ty hợp danh;  
- Các tổ chức và cá nhân cung cấp hàng hóa  
công nghệ;  
- Phân loại doanh nghiệp theo lĩnh vực kinh  
doanh: kinh doanh hàng hóa, kinh doanh dịch vụ,  
doanh nghiệp có thể thực hiện một, một số hoặc  
tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản  
xuất đến tiêu thụ hàng hóa hoặc cung ứng dịch  
vụ trên thị trường.  
- Các tổ chức và cá nhân có nhu cầu tìm mua  
hàng hóa công nghệ;  
- Các tổ chức và cá nhân hỗ trợ, trung gian, tư  
vấn công nghệ;  
- Các tổ chức quản trị sàn giao dịch.  
Về phân loại các nhóm hàng hóa và dịch vụ,  
Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới WIPO (2020),  
đã phân loại bao gồm 34 nhóm hàng hóa và 11  
nhóm dịch vụ. Các dịch vụ khoa học và công  
nghệ thuộc nhóm 42 trong bảng phân loại quốc  
tế các hàng hóa và dịch vụ (International  
Classification of Goods and Services), dịch vụ  
chuyển giao công nghệ thuộc các dịch vụ  
KH&CN [5].  
2.3. Cơ chế quản lý và điều hành sàn giao dịch  
công nghệ  
Văn bản pháp luật, điều lệ tổ chức hoạt động,  
quy chế điều hành, thể lệ, quy định về trình tự,  
thủ tục và trách nhiệm các bên tham gia giao dịch  
công nghệ tại SGDCN như Bộ luật dân sự, Luật  
KH&CN, Luật chuyển giao công nghệ, Luật Sở  
hữu trí tuệ và các văn bản hướng dẫn liên quan,  
Điều lệ SGDCN, quy chế thực hiện giao dịch tại  
SGDCN.  
Như vậy, theo quy định quốc tế giao dịch  
công nghệ/chuyển giao công nghệ là một trong  
những loại hình kinh doanh dịch vụ và phù hợp  
với hoạt động của doanh nghiệp.  
SGDCN trong bài viết này được tổ chức theo  
mô hình doanh nghiệp không phải là đơn vị sự  
nghiệp, với các tiêu chí sau đây:  
Doanh nghiệp được đề cập trong bài viết này  
là doanh nghiệp cung ứng dịch vụ chuyển giao  
công nghệ trên thị trường  
- Nhân lực làm việc tại SGDCN không hưởng  
quy chế theo quy định của Luật Viên chức, mà  
được điều chỉnh bởi Bộ luật Lao động;  
- SGDCN không sử dụng kinh phí từ ngân  
sách nhà nước.  
2. Các yếu tố để tồn tại Sàn giao dịch công  
nghệ  
3. Cơ sở lý luận để xây dựng sàn giao dịch  
công nghệ theo mô hình doanh nghiệp  
2.1. Cơ sở hạ tầng phục vụ giao dịch công nghệ  
Cơ sở hạ tầng bao gồm: văn phòng, địa điểm  
giao dịch, các bộ phận hỗ trợ, địa điểm và  
phương tiện trưng bày, giới thiệu hàng hóa công  
nghệ,…  
3.1. Thị trường công nghệ theo tiềm năng  
L. H. Long / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 67-78  
71  
Nguyên nghĩa potential market được hiểu là  
“tiềm năng của thị trường”, Karen Mundy,  
S. Gary Bullen (2009) đã chỉ ra rằng để ước tính  
tiềm năng của thị trường thì cần phải:  
giữ màu vỏ quả vải, quy trình vận chuyển quả vải  
tươi, quy trình vận chuyển tôm giống…;  
- Cầu tiềm ẩn (latent demand): là loại cầu hiện  
khách hàng cũng chưa biết và chưa được nhận ra  
trước đó, cũng chưa được đáp ứng bởi nhà cung  
cấp, sẽ chuyển thành cầu hiện hữu nếu sản phẩm  
được tung ra thị trường với các phối thức  
marketing thích hợp. Ví dụ, khi các doanh  
nghiệp vẫn đang sử dụng công nghệ in trực tiếp  
mà các khuôn in phải tiếp xúc với bề mặt in, thì  
Jay Gondek, Charles Dupuy, Alexey Kabalnov,  
Matthew Shepherd đã sáng chế ra mực in phun  
để phục vụ công nghệ in phun (Ink set for inkjet  
printing) [8].  
- Xác định phân khúc thị trường/thị trường  
mục tiêu, (define the market segment/target  
market).  
- Xác định ranh giới địa lý của thị trường  
(define the geographic boundaries of the  
market);  
- Xác định yếu tố cạnh tranh (define the  
competition);  
- Xác định độ lớn của thị trường (define the  
market size);  
- Cầu phôi thai (incipient demand): là loại cầu  
chưa được xác định, sẽ xuất hiện nếu xu hướng  
kinh tế – xã hội vẫn tiếp diễn như hiện tại. Ví dụ,  
khi các doanh nghiệp vẫn đang sử dụng công  
nghệ in trực tiếp và mới bắt đầu sử dụng công  
nghệ in phun thì David Russell, Andres  
Hernandez, Joshua Kinsley, Andrew Berlin đã  
sáng chế ra thiết bị và phương pháp in 3D  
(Apparatus and methods for 3D printing) [9].  
- Ước tính thị phần (estimate market share);  
- Xác định mức tiêu thụ trung bình trên một  
đơn vị thời gian (determine the average annual  
consumption);  
- Ước tính giá bán trung bình (Estimate an  
average selling price) [6].  
Trong bài viết này, thuật ngữ “thị trường công  
nghệ theo tiềm năng” được hiểu là thị trường  
công nghệ dựa trên các yếu tố sau đây:  
Trong bài viết này, thuật ngữ “thị trường công  
nghệ theo nhu cầu” được hiểu là thị trường công  
nghệ dựa trên các yếu tố sau đây:  
- Nhà nghiên cứu đưa ra thị trường công nghệ  
theo năng lực nghiên cứu của mình;  
- Nhà nghiên cứu đưa ra thị trường công nghệ  
theo yêu cầu của doanh nghiệp và theo dự báo  
của thị trường công nghệ;  
- Giá chuyển giao công nghệ được đặt ra theo  
nguyên tắc “chi phí trong quá khứ”, tức là phải  
bù đắp được chi phí nghiên cứu tạo ra công nghệ  
và có thể tái đầu tư cho nghiên cứu trong tương  
lai;  
- Giá chuyển giao công nghệ được đặt ra theo  
cách tiếp cận “thị trường và thu nhập”;  
- Công nghệ mà thị trường cần, phải đáp ứng  
được nhu cầu của doanh nghiệp cần công nghệ.  
- Công nghệ mà thị trường có, có thể không  
đáp ứng được nhu cầu của bên cần công nghệ.  
3.2. Thị trường công nghệ theo nhu cầu  
4. Khái quát về hoạt động của sàn giao dịch  
công nghệ  
Theo Lưu Đan Thọ, Lượng Văn Quốc (2016),  
thị trường theo nhu cầu (Market demand) được  
hiểu là thị trường cung cấp sản phẩm theo nhu  
cầu của người dùng, tuy nhiên trong thực tế nhu  
cầu của người dùng không hề đơn giản, mà nó  
được chia thành [7]:  
Theo thống kê của Bộ KH&CN:  
- Đến cuối tháng 12/2019, trên địa bàn cả  
nước có 13 SGDCN đang hoạt động và một số  
sàn giao dịch đang trong giai đoạn xây dựng, vận  
hành thử nghiệm;  
- Cầu hiện hữu (existing demand): là loại cầu  
hiện tại khách hàng đang có và đang được thỏa  
mãn trên thị trường. Ví dụ, hiện tại thị trường  
đang cần phương pháp bảo quản quả vải tươi và  
- Trong giai đoạn 2015 - 2018, số lượng hợp  
đồng tư vấn, chuyển giao công nghệ qua  
SGDCN đạt trung bình 3.000 hợp đồng/năm.  
L. H. Long / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 67-78  
72  
Bộ KH&CN đã tổ chức 10 kỳ hoạt động trình  
kinh nghiệm làm việc với doanh nghiệp để đáp  
ứng yêu cầu thực tiễn của sàn giao dịch  
công nghệ.  
diễn để kết nối giữa bên cung công nghệ là các  
tổ chức R&D như viện nghiên cứu/trường đại  
học hoặc cá nhân/nhóm nghiên cứu có kết quả  
nghiên cứu ứng dụng và bên cầu công nghệ là  
các doanh nghiệp có nhu cầu về công nghệ.  
Ví dụ:  
- SGDCN do cơ quan hành chính nhà nước  
quản lý, như:  
Thông qua SGDCN:  
+ Techmart Online do Cục Thông tin  
KH&CN quốc gia quản lý  
- Đã tiếp nhận 760 loại nhu cầu công nghệ  
(xin lưu ý: không phải là 760 công nghệ) của các  
doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực công nghệ khác  
nhau;  
+ Cơ sở dữ liệu cung - cầu công nghệ do Cục  
Ứng dụng và phát triển công nghệ, Bộ KH&CN  
quản lý.  
- Đã tìm kiếm và cung cấp 3.100 thông tin  
về nguồn cung công nghệ thuộc các tổ chức  
R&D (chuyển giao từ nơi nghiên cứu đến  
doanh nghiệp) hoặc từ các doanh nghiệp  
(chuyển giao từ doanh nghiệp đến doanh  
nghiệp) trong và ngoài nước phù hợp nhu cầu  
của doanh nghiệp;  
+ SGDCN và Thiết bị Hải Phòng (HATEX)  
trực thuộc Sở KH&CN Hải Phòng;  
- SGDCN do đơn vị sự nghiệp công lập quản  
lý, như SGDCN TP. Hồ Chí Minh (Techport.vn)  
do Trung tâm Thông tin và Thống kê Khoa học  
và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh xây dựng và vận  
hành từ năm 2002.  
- Đã thực hiện mô hình trình diễn 2.898 quy  
trình/phương pháp công nghệ (phần mềm của  
công nghệ), thiết bị, sản phẩm (phần cứng của  
công nghệ). Thông qua các tổ chức trung gian đã  
hỗ trợ kết nối giao dịch thành công 129 hợp đồng  
chuyển giao công nghệ hoặc hợp tác công nghệ  
giữa các tổ chức R&D và các doanh nghiệp.  
6. Những khó khăn trong tổ chức và hoạt  
động của sàn giao dịch công nghệ  
6.1. Nguồn cung công nghệ và huy động vốn  
6.1.1. Nguồn cung công nghệ:  
Qua số liệu thống kê ở trên cho thấy hiệu quả  
hoạt động nói chung của SGDCN là chưa cao.  
Như đã biết, công nghệ là hàng hóa đặc thù  
nên việc thẩm định, giám định, đánh giá, định giá  
công nghệ khó khăn dẫn đến việc đàm phán giao  
dịch công nghệ kéo dài thời gian hoặc không có  
kết quả.  
5. Khái quát về tổ chức của sàn giao dịch  
công nghệ  
- Về nguồn cung công nghệ: còn hạn chế do  
năng lực nghiên cứu triển khai trong doanh  
nghiệp, tổ chức hoạt động khoa học công nghệ  
còn yếu; nguồn cung công nghệ tại các Viện  
trường gặp rất nhiều vướng mắc khi chuyển  
giao do bị ràng buộc bởi các chính sách về  
tài chính.  
Về mô hình tổ chức: các SGDCN chủ yếu  
được tổ chức theo mô hình đơn vị sự nghiệp,  
hoặc trực thuộc một đơn vị sự nghiệp, đơn vị sự  
nghiệp này lại thuộc quyền quản lý của cơ quan  
hành chính nhà nước, một số SGDCN do cơ quan  
hành chính nhà nước trực tiếp quản lý…  
Khác với các đơn vị nghiên cứu, ứng dụng  
công nghệ, cơ cấu tổ chức của một đơn vị sự  
nghiệp KH&CN chưa thực sự phù hợp với  
chức năng của sàn giao dịch công nghệ. Đa số  
các SGDCN thuộc các Sở KH&CN đều gặp  
khó khăn trong thiết kế tổ chức, bộ máy, thuê  
cán bộ điều hành, tuyển dụng nhân sự đủ năng  
lực chuyên môn về thị trường công nghệ, có  
- Phân loại công nghệ: hiện nay không có  
hệ thống phân loại công nghệ theo danh mục  
khoa học (giống như hệ thống mã HS – HS  
code trong phân loại hàng hóa xuất nhập khẩu),  
dẫn đến khi người mua hoặc nhà đầu tư trên  
sàn GDCN không biết tìm hàng hóa theo quy  
tắc nhất định, dẫn đến quản lý sàn GDCN  
không khoa học.  
L. H. Long / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 67-78  
73  
6.1.2. Huy động vốn:  
thành mạng lưới, hệ thống mà chủ yếu chỉ đang  
tập trung vào công tác tư vấn đơn lẻ.  
Một trong những nguyên dẫn đến các hạn chế  
của nguồn cung công nghệ là nguồn vốn ban đầu  
đầu tư để hình thành các công nghệ. Các sàn  
GDCN hiện nay cũng không có mô hình để huy  
động vốn cho các nhà nghiên cứu/ tổ chức R&D.  
6.4. Quản lý, kiểm soát các đối tượng và các hoạt  
động trên sàn giao dịch công nghệ  
Giống như sàn giao dịch chứng khoán, trên  
sàn GDCN cũng cần phải kiểm soát những vấn  
đề sau:  
6.2. Liên kết thông tin công nghệ  
Sản phẩm công nghệ và thiết bị trong nước  
còn nhiều hạn chế về số lượng, chất lượng nên  
không đáp ứng kịp thời nhu cầu đa dạng của  
khách hàng. Việc chuyển giao các kết quả R&D  
cho các doanh nghiệp còn nhiều khó khăn trong  
việc định giá, xác định phương thức chuyển giao.  
Thực tế, sàn giao dịch thông tin công nghệ mới  
chỉ dừng ở việc thực hiện chức năng kết nối  
thông tin khoa học và công nghệ giữa các bên  
cung và cầu công nghệ, thiết bị và chủ yếu thực  
hiện trên môi trường mạng internet.  
- Quản lý hàng hóa (là công nghệ) khi giao  
dịch trên sàn GDCN: chất lượng, giá, tình  
trạng,…;  
- Quản lý tổ chức cung cấp công nghệ trên  
sàn;  
- Quản lý tổ chức mua công nghệ trên sàn;  
- Quản lý các nhà đầu tư trên sàn;  
- Quản lý các tổ chức trung gian được phép  
hoạt động trên sàn;  
- Các vấn đề quản lý khác.  
Nội dung kết nối cung - cầu công nghệ tại  
SGDCN chưa thực sự hiệu quả vì chưa quản lý  
được số lượng cũng như giá trị các hợp đồng  
triển khai thành công. Mặt khác, nguồn cung  
công nghệ của thị trường còn hạn chế, chưa có  
công nghệ đủ sức thu hút doanh nghiệp đổi mới.  
Tuy nhiên, hiện nay chưa có bất kỳ quy định  
nào để quản lý, giám sát các vấn đề này (hoàn  
toàn tự phát).  
6.5. Định giá và đấu giá công nghệ  
6.5.1. Định giá  
6.3. Nhân lực phục vụ sàn giao dịch công nghệ  
Muốn đưa công nghệ (hàng hóa) lên sàn  
GDCN để niêm yết, giá trị hàng hóa (giá trị công  
nghệ) được định giá ban đầu là điều kiện tiên  
quyết. Nếu không có định giá (giống định giá  
doanh nghiệp khi niêm yết lần đầu trên sàn  
chứng khoán) thì sẽ không có tiếng nói chung  
giữa người bán (sở hữu công nghệ) và người mua  
hoặc nhà đầu tư công nghệ.  
Như trên đã phân tích SGDCN do cơ quan  
hành chính nhà nước trực tiếp quản lý hoặc trực  
thuộc đơn vị sự nghiệp công lập, nên nhân lực là  
công chức, viên chức nhà nước, do đó chưa quen  
với cơ chế cạnh tranh để thích ứng với môi  
trường kinh doanh, thiếu cán bộ chuyên sâu  
trong lĩnh vực môi giới chuyển giao công nghệ,  
marketing, phát triển thị trường,… Trong khi đó  
hỗ trợ doanh nghiệp về tư vấn chuyên gia lựa  
chọn công nghệ, tư vấn về pháp lý, sở hữu trí  
tuệ,… là một trong những công việc quan trọng  
để các sàn thu hút được sự quan tâm, tham gia  
của doanh nghiệp.  
Hiện nay, vấn đề định giá công nghệ còn rất  
nhiều vướng mắc, đây là vấn đề cần phải giải  
quyết khi đưa mô hình sàn GDCN vào hoạt động  
ở quy mô doanh nghiệp.  
6.5.2. Đấu giá  
Hàng hóa trên sàn GDCN phải theo nguyên  
tắc thị trường (thuận mua vừa bán, nếu có nhiều  
người mua thì phải tổ chức đấu giá), tuy nhiên  
chưa có cơ chế đấu giá để đưa công nghệ thành  
hàng hóa trên thị trường công nghệ. Vấn đề này  
cũng cần cơ chế của nhà nước ban hành.  
Cơ chế quản lý điều hành và vận hành của đa  
số các SGDCN còn chưa thống nhất và chuẩn  
hóa, sự phối hợp, chia sẻ và hỗ trợ lẫn nhau còn  
hạn chế. Hoạt động tư vấn và chuyển giao công  
nghệ của các sàn vẫn còn sơ khai, chưa hình  
L. H. Long / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 67-78  
74  
6.6. Hấp thụ công nghệ  
̣ ̣  
Luật KH&CN năm 2013, Luât Doanh nghiêp  
2020.  
Trình độ hấp thụ công nghệ của bên mua hiện  
nay không đồng đều, khá thấp. Hầu hết bên mua  
sẽ không mua công nghệ thuần tuý (nếu không  
có kèm theo máy móc thiết bị trọn bộ, có dịch vụ  
đồng bộ kèm theo).  
Ban đầu, SGDCN được tổ chức theo mô hình  
Công ty TNHH 1TV do nhà nước sở hữu, sau đó  
khi hoạt động đến quy mô đủ để vận hành sàn thì  
sẽ chuyển thành công ty cổ phần. Doanh nghiệp  
này bao gồm các phân hệ sau:  
Giải quyết vấn đề này cần tổ chức một hệ  
thống các viện/ doanh nghiệp khoa học công  
nghệ để thực hiện các khâu từ công nghệ tới sản  
xuất. Mô hình này được Taiwan thực hiện thông  
qua các tổ chức làm cầu nối giữa các tổ chức R&D  
và doanh nghiệp sản xuất (Viện ITRI của Taiwan).  
a) Phân hệ quản lý doanh nghiệp (Sàn giao  
dịch công nghệ): đại hội cổ đông (giai đoạn mô  
hình công ty cổ phần), hội đồng thành viên (ban  
đầu) hoặc Hội đồng quản trị (sau này); Kiểm soát  
viên (hoặc ban kiểm soát nếu là công ty cổ phần).  
b) Phân hệ điều hành doanh nghiệp:  
- Ban điều hành (Tổng giám đốc và các Phó  
Tổng giám đốc);  
7. Tổ chức sàn giao dịch công nghệ theo mô  
hình doanh nghiệp  
- Bộ phận quản lý và thẩm định niêm yết công  
nghệ (quản lý người mua, người bán, niêm yết  
công nghệ, các tổ chức trung gian, thẩm định  
niêm yết,…);  
7.1. Nguyên tắc tổ chức sàn giao dịch công nghệ  
theo mô hình doanh nghiệp  
Kèm theo là các dịch vụ (của sàn cung cấp,  
hoặc do bên thứ 3 cung cấp), bao gồm nhóm tư  
vấn viết mô tả công nghệ để niêm yết trên sàn,  
nhóm tư vấn định giá công nghệ phục vụ giá  
niêm yết, …;  
SGDCN hoạt động trên các nguyên tắc sau:  
- Lấy “nhu cầu của doanh nghiệp” để định  
hướng hoạt động;  
- Xây dựng mối quan hệ vì lợi ích của mỗi  
bên tham gia SGDCN;  
- Bộ phận đấu giá công nghệ;  
- Lấy “nguyên tắc thị trường” trong các giao  
dịch trên sàn GDCN, trong đó giá cả được thống  
nhất giữa người mua và người bán (định giá công  
nghệ là giá tham khảo, người bán có thể sử dụng  
giá tối thiểu khác giá đã được định giá), nếu có  
nhiều người mua thì sẽ thực hiện các nguyên tắc  
đấu giá công nghệ;  
- Bộ phận giám sát giao dịch công nghệ;  
- Bộ phận quản lý chuyển giao công nghệ;  
- Bộ phận Thông tin thị trường;  
- Bộ phận cung cấp hạ tầng: hạ tầng nhà,  
xưởng, kho; hạ tầng công nghệ thông tin; hạ tầng  
thanh toán; Trung tâm dữ liệu (có thể sử dụng  
dịch vụ của bên thứ 3); …;  
- Tuân thủ các quy định của pháp luật (bao  
gồm cả pháp luật ban hành chuyên dụng cho sàn  
GDCN, giống các quy định về sàn giao dịch  
chứng khoán) làm nguyên tắc hoạt động trên sàn  
GDCN.  
- Bộ phận pháp chế;  
- Bộ phận dịch vụ công nghệ: cung cấp các  
dịch từ sàn GDCN hoặc do bên thứ 3 cung cấp  
(tư vấn, chuyển giao, định giá, tìm kiếm công  
nghệ, tìm kiếm nhu cầu thị trường, môi giới đầu  
tư,…)  
7.2. Mô hình tổ chức của sàn giao dịch công  
nghệ  
- Bộ phận quản trị: tài chính – kế toán; nhân  
sự - đào tạo; hành chính; đầu tư xây dựng; …  
SGDCN theo mô hình doanh nghiệp được  
thành lập, hoạt động, thực hiện việc kinh doanh,  
dịch vụ từ kết quả KH&CN.  
Khi chuyển thành doanh nghiệp cổ phần, cổ  
đông của SGDCN là cá nhân hoặc tổ chức sở hữu  
ít nhất một cổ phần của sàn giao dịch công nghệ.  
Như đã phân tích việc kinh doanh, dịch vụ từ kết  
Việc quản lý SGDCN theo mô hình doanh  
nghiệp được tổ chức theo quy định tại điều 58  
L. H. Long / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 67-78  
75  
quả KH&CN có rủi ro cao, bởi vậy cổ đông của  
SGDCN khác với cổ đông của những doanh  
nghiệp khác, họ có thể là:  
Hội đồng quản trị của SGDCN bầu giám đốc.  
Giám đốc điều hành hoạt động của sàn giao dịch  
công nghệ.  
- Nhà đầu tư thiên thần;  
- Nhà đầu tư mạo hiểm;  
- Các nhà đầu tư khác.  
8. Hoạt động của sàn giao dịch công nghệ theo  
mô hình doanh nghiệp  
8.1. Hoạt động thông tin, marketing  
Số lượng cổ đông của SGDCN có ít nhất là  
03 và không hạn chế số lượng tối đa. Cổ đông  
SGDCN chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ  
và nghĩa vụ tài sản khác của SGDCN trong phạm  
vi số vốn đã góp vào sàn giao dịch công nghệ.  
Cổ đông của SGDCN có quyền chuyển nhượng  
cổ phần của mình cho cá nhân/tổ chức khác.  
8.1.1. Thu thập “nhu cầu của doanh nghiệp”  
Như đã phân tích, SGDCN phải được xây  
dựng trên định hướng nhu cầu về công nghệ của  
doanh nghiệp, do đó hoạt động khởi đầu của  
SGDCN phải là thu thập thông tin về nhu cầu  
công nghệ của doanh nghiệp.  
Việc góp vốn của cổ đông có thể là góp tài  
sản được thể hiện bằng quyền SHTT để tạo thành  
vốn điều lệ của sàn giao dịch công nghệ, như  
bằng độc quyền sáng chế, bằng độc quyền kiểu  
dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp  
bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu… các đối  
tượng của quyền SHTT này phải còn hiệu lực  
bảo hộ. Việc góp vốn này phải được SGDCN  
dưới mô hình công ty cổ phần chấp thuận (được  
quy định tại điều lệ công ty). Việc góp vốn bằng  
quyền SHTT bao gồm góp vốn để thành lập  
SGDCN hoặc góp thêm vốn điều lệ của SGDCN  
sau khi đã thành lập.  
Đối tượng phục vụ chính của SGDCN là các  
doanh nghiệp nhỏ và vừa, những doanh nghiệp  
mới thành lập có nhu cầu mua công nghệ hoặc  
các doanh nghiệp có nhu cầu đổi mới công nghệ  
trong quá trình sản xuất kinh doanh đáp ứng yêu  
cầu thay đổi của thị trường.  
Để thu thập được thông tin từ doanh nghiệp,  
cần có cơ chế trao đổi thông tin với các cơ quan  
quản lý nhà nước về dữ liệu thông tin doanh  
nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa,  
doanh nghiệp mới thành lập, phân loại doanh  
nghiệp để nắm được thông tin về lĩnh vực công  
nghệ mà doanh nghiệp có nhu cầu.  
Đại hội đồng cổ đông bầu hoặc miễn nhiệm  
thành viên Hội đồng quản trị của sàn giao dịch  
công nghệ. Nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị là 5  
năm, trong những trường hợp cần thiết nhiệm kỳ  
này có thể ít hơn 5 năm nếu có trên 50% số cổ  
đông yêu cầu tổ chức đại hội.  
Khi đã có thông tin của doanh nghiệp về nhu  
cầu về công nghệ, SGDCN tiến hành tổ chức các  
buổi giới thiệu, quảng bá về sàn giao dịch công  
nghệ, các tổ chức R&D,… thông qua các phương  
tiện thông tin truyền thông như báo, đài, truyền  
hình, các buổi hội thảo/hội nghị khoa học,…  
Thiết kế điều lệ công ty cổ phần phải đảm  
bảo: Hội đồng quản trị của SGDCN có toàn  
quyền quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa  
vụ của sàn giao dịch công nghệ, các quyền và  
nghĩa vụ này không thuộc thẩm quyền giải quyết  
của Đại hội đồng cổ đông sàn giao dịch công  
nghệ. Hội đồng quản trị của SGDCN có 5 thành  
viên. Thành viên Hội đồng quản trị của SGDCN  
là những cá nhân có năng lực hành vi theo quy  
định của pháp luật, đồng thời có năng lực quản  
lý KH&CN như năng lực khai thác công nghệ,  
thông tin công nghệ, là cầu nối giữa bên cung  
công nghệ và bên cầu công nghệ.  
Tiếp theo, sau khi nhận được thông tin nhu  
cầu công nghệ, SGDCN tiến hành xử lý, phân  
loại thông tin nhu cầu; chọn ra những nhu cầu có  
tính chất trọng tâm, trọng điểm hoặc các doanh  
nghiệp tiêu biểu để tổ chức buổi tham quan trực  
tiếp. Sau khi khảo sát trực tiếp tại các doanh  
nghiệp có nhu cầu về công nghệ, nếu có khả năng  
kết nối với bên cung thì lập dự án để tiến hành  
kết nối.  
Đối với những nhu cầu công nghệ của doanh  
nghiệp, nếu chưa có khả năng tìm nguồn cung  
L. H. Long / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 67-78  
76  
công nghệ thì được lưu vào kho cơ sở dữ liệu của  
sàn giao dịch công nghệ.  
đảm bảo tính độc lập của các nguồn thông tin  
giữa sàn giao dịch công nghệ.  
8.1.2. Thiết lập quan hệ với các tổ chức cung  
công nghệ  
8.2. Hoạt động định giá, thẩm định, niêm yết  
công nghệ  
Các nhà nghiên cứu có thể là cá nhân tự  
nghiên cứu hoặc thuộc trường đại học, viện  
nghiên cứu, tổ chức KH&CN… thuộc “Bên  
8.2.1. Hoạt động thẩm định, định giá  
Công nghệ khi đưa lên sàn phải được đánh  
giá, xếp loại, phân loại,… về giá trị (giá tham  
khảo), cấp độ, phân loại,… theo các tiêu chí  
được quy định bởi pháp luật và sàn GDCN.  
cung”. Viêc  
nghiêp  
ban may moc, thiê  
̣
CGCN tư viên, trương hay doanh  
̣
̀
̀
̣
KH&CN cung thương diên  
̃
ra dươi dan  
̣
g
̃
̀
́
́
t bi  
̣
chư it khi dươi dan  
̣
g ban  
́
́
́
́
́
́
́
quyê  
̀
n sơ hưu, quyê  
̀
n sư dun  
̣
g đô  
Ly do nă  
́ ́  
i vơi kêt qua  
̉
́
̉
̉
̃
8.2.2. Hoạt động niêm yết  
nghiên cưu, tai san tri tuê.  
̣
̀
m ơ chô  
̃
khi  
̉
̉
́
̀
́
́
̉
cac nha khoa hoc  
̣
tư  
̣
ban san phâm cua minh, ho  
̣
Đơn vị cung cấp công nghệ sẽ đăng ký niêm  
yết trên sàn như một nhà cung cấp công nghệ  
(bên bán) kèm theo các thông tin đã được kiểm  
chứng theo quy định.  
̉
̉
́
̀
́
̀
gâ  
dưn  
Ngoai cac viên  
̀
n như không co cac ky năng đam phan, xây  
́
́
̃
̀
́
̣
̣ ̀ ̣  
g hơp đông CGCN, tai san tri tuê.  
̉
̀
́
̣
̣
, trương, doanh nghiêp đa  
̀
̃
̀
́
̣ ̣  
trương thanh, nhom doanh nghiêp khơi nghiêp  
̉
Công nghệ sau khi trải qua quy trình thẩm  
định, định giá sẽ được thực hiện niêm yết trên  
sàn như là hàng hóa chính thức, được phép giao  
dịch trên sàn.  
̉
̀
́
(startup) cung co kha năng tham gia tich cưc  
̣
vao  
u tư  
̉
̃
́
̀
́
thi  
̣
trương KH&CN thông qua viêc  
̣
nhân  
̣
đâ  
̀
̀
̉
̀ ̣  
u tư, tô chưc đâu tư cho cac dư an  
́ ́ ́  
tư cac nha đâ  
̀
̀
́
̀
công nghê  
̣
cua minh hoăc  
̣
thông qua cac thương  
. Các doanh nghiệp khởi  
̉
́
̀
8.3. Hoạt động giao dịch, đầu tư, đấu giá và  
chuyển giao công nghệ  
vu mua ban và sap nhâp  
̣
̣
́
́
nghiệp có nhiều ý tưởng công nghệ sáng tạo và  
rất thiết thực, có thể nói họ là nhân tố rất tốt trong  
mối liên kết ba nhà chính bởi họ nhận thức được  
lợi ích từ mối liên kết này.  
Các nhà đầu tư, người mua thực hiện mua  
công nghệ trên sàn GDCN theo hình thức khớp  
lệnh, hình thức đấu giá hay hình thức khác được  
quy định theo pháp luật.  
Sau khi xác định rõ các đối tượng nguồn cung  
cần liên kết, SGDCN tiến hành các bước để  
thiết lập mối quan hệ với các tổ chức cung công  
nghệ [10].  
Hoạt động chuyển giao công nghệ sau giao  
dịch (đấu giá, khớp lệnh,…) được quản lý bởi  
sàn GDCN để đảm bảo tuân thủ các quy định của  
pháp luật và lợi ích của các bên tham gia.  
8.1.3. Trao đổi thông tin giữa các sàn giao  
dịch công nghệ  
8.4. Các hoạt động khác  
Các SGDCN cần có sự trao đổi thông tin với  
nhau, sàn cấp quốc gia có thể truy xuất thông tin  
từ các sàn giao dịch quốc tế, sàn cấp cơ sở có thể  
truy xuất thông tin từ sàn quốc gia và có thể cung  
cấp dữ liệu cho sàn cấp quốc gia.  
Các hoạt động khác của sàn GDCN để đảm  
bảo hoạt động lành mạnh, hiệu quả (thanh tra,  
kiểm tra, marketing, hoạt động khác).  
Mô hình hệ thống SGDCN đặt ra yêu cầu  
nguồn thông tin phân tán, thông tin cung cấp cho  
hệ thống có thể đến từ nhiều nguồn, được quản  
lý ở nhiều vị trí địa lý khác nhau, có thể sử dụng  
công nghệ khác nhau và cũng có thể tồn tại ở  
nhiều định dạng (format) khác nhau. Do đó cần  
một cơ chế kỹ thuật cho phép tích hợp các nguồn  
thông tin phân tán thành một khối nhưng vẫn  
9. Xây dựng hệ sinh thái thị trường công  
nghệ để hỗ trợ hoạt động của sàn giao dịch  
công nghệ  
Hệ sinh thái thị trường công nghệ được thiết  
kế bao gồm các phân hệ sau:  
L. H. Long / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 67-78  
77  
a) Sàn giao dịch công nghệ Việt Nam (gọi tắt là  
VTX – Vietnam Technology Exchange): là doanh  
nghiệp, cung cấp các hoạt động chính như sau:  
xây dựng mệnh giá và phát hành giá công nghệ  
theo dạng “cổ phần sở hữu”;  
g) Hệ thống thanh toán trên sàn GDCN;  
h) Phân hệ khác.  
- Hoạt động niêm yết công nghệ trên sàn;  
- Hoạt động đầu cơ công nghệ: mua, sở hữu 1  
phần hoặc toàn bộ công nghệ được niêm yết trên  
sàn công nghệ, giao dịch kiểu mua bán “cổ phiếu  
công nghệ”, được giám sát, đảm bảo bởi sàn và  
pháp luật;  
10. Kết luận  
Bài báo đã phân tích cơ sở lý luận về SGDCN  
theo mô hình doanh nghiệp, khảo sát, phân tích  
thực trạng tổ chức và hoạt động của SGDCN và  
đề xuất giải pháp chính sách xây dựng SGDCN  
theo mô hình doanh nghiệp để phát triển thị  
trường công nghệ.  
- Hoạt động mua, bán, chuyển giao công  
nghệ; công nghệ”, được giám sát, đảm bảo bởi  
sàn và pháp luật;  
- Hoạt động mua, bán, chuyển giao công  
nghệ;  
Bài báo đã đề xuất mô hình tổ chức SGDCN  
theo mô hình doanh nghiệp nhằm phát triển thị  
trường công nghệ, đề xuất các giải pháp cụ thể  
để xây dựng SGDCN tại Việt Nam theo mô hình  
doanh nghiệp, hoạt động chuyên biệt cho các  
giao dịch công nghệ và các dịch vụ liên quan,  
nhằm phát triển thị trường công nghệ ở Việt  
Nam. Khắc phục các nhược điểm về tổ chức và  
hoạt động của các SGDCN trước đó, từng bước  
xây dựng và đẩy mạnh quy mô và chất lượng của  
thị trường công nghệ ở Việt Nam.  
- Hoạt động đầu tư mạo hiểm về công nghệ:  
công nghệ chưa hình thành, nhưng có ý tưởng và  
một số hoạt động R&D sơ bộ, cần gọi vốn đầu tư  
trên sàn để thực hiện R&D tạo ra công nghệ;  
- Hoạt động điều chỉnh công nghệ: dịch vụ  
điều chỉnh công nghệ cho phù hợp giữa nhu cầu  
của bên mua (TBO) và công nghệ được niêm yết  
từ tổ chức cung cấp công nghệ (TOS);  
- Các hoạt động khác: dịch vụ lưu ký công  
nghệ, dịch vụ đấu giá công nghệ, dịch vụ chào  
bán cạnh tranh công nghệ, dịch vụ phân tích công  
nghệ, dịch vụ định giá công nghệ, …  
b) Chính phủ: cung cấp các văn bản pháp lý  
quy định hoạt động trên sàn VTX (chi phối tất cả  
các hoạt động trên sàn VTX);  
c) Tổ chức cung cấp công nghệ: Technology  
Owners or Suppliers (TOS);  
d) Tổ chức mua công nghệ: Technology  
Buyer Organiztation (TBO);  
e) Tổ chức tài chính – Financial Organization  
(FO), bao gồm: Quỹ đầu tư (mạo hiểm, quỹ đầu  
tư tài chính thông thường, …), Ngân hàng, công  
ty tài chính, cá nhân, doanh nghiệp …  
Tài liệu tham khảo  
[1] OECD, Field of Science and Technology  
Classification of the Frascati Manual, 2002, pp.6-  
[2] P. P. Anh, T. V. Hai, The Lecture on Patents and  
Utility Models, University of Social Sciences and  
Humanities, Hanoi National University, 2016, pp.  
22-27 (In Vietnamese).  
[3] M. N. Sharif, Basis for Techno-Economic Policy  
Analysis, Science and Public Policy, Vol.15, No.  
4,  
1998,  
pp.  
217-229,  
[4] National Agency for Science and Technology  
Đây là 1 nhóm nhà đầu tư đặc thù, đầu tư để  
sở hữu 1 phần hoặc toàn bộ công nghệ nhưng  
không phải để bán mà là đầu cơ công nghệ, sau  
đó bán theo sự lên xuống của thị trường giao dịch  
“cổ phiếu công nghệ”.  
Information – Techmart Viet Nam, Introduction of  
Techmart  
(accessed on: August 15th, 2020) (In Vietnamese).  
[5] WIPO, Nice Classification - 11 Edition, Version  
2020,  
Online,  
f) Tổ chức tư vấn niêm yết công nghệ: chuẩn  
hóa hàng hóa được đưa lên sàn VTX, định giá,  
n/fr/pdf-  
download.pdf?lang=en&tab=class_headings&date  
L. H. Long / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 67-78  
78  
InForce=20200101, 2020 (accessed on: August  
15th, 2020)  
[8] USPTO, Ink Set for Inkjet Printing, Patent  
US20060012655A1, 2015.  
[6] K. Mundy, S. Gary Bullen, Estimating Market  
Potential: Is There a Market, Department of  
Agricultural and Applied Economics, University of  
Georgia, 2009.  
[7] L. D. Tho, L. V. Quoc, Relationship Marketing and  
Customer Relationship Management – Theory and  
practical Situation of Vietnamese Companies, The  
Finance Publishing House, Hanoi, 2016 (In  
Vietnamese).  
[9] USPTO, Apparatus and Methods for 3D Printing,  
Patent US7291002B2, 2007.  
[10] B. V. Quyen, Research Cooperation with the  
Shanghai Technology Exchange to Build up a  
Technology Exchange in Ho Chi Minh City,  
Protocol Project, Project Code Number: 8-01J,  
2014 (In Vietnamese).  
pdf 12 trang Thùy Anh 16420 Free
Bạn đang xem tài liệu "Xây dựng sàn giao dịch công nghệ theo mô hình doanh nghiệp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfxay_dung_san_giao_dich_cong_nghe_theo_mo_hinh_doanh_nghiep.pdf