Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn cửa hàng thức ăn nhanh của người tiêu dùng tại Thành phố Quảng Ngãi

Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 15 (2020)  
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH LỰA CHỌN CỬA  
HÀNG THỨC ĂN NHANH CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG TẠI THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI  
Trần Thị Minh Nguyệt1, Phan Thị Mỹ Kiều2  
Tóm tắt  
Mục đích của nghiên cứu này là phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn cửa hàng  
thức ăn nhanh của người tiêu dùng tại TP. Quảng Ngãi. Khảo sát của nghiên cứu được thực hiện dựa trên  
1000 mẫu quan sát, tác giả sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA và phân tích hàm hồi  
quy tuyến tính để kiểm định mô hình nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 4 nhân tố ảnh hưởng  
đến việc lựa chọn cửa hàng thức ăn nhanh của người tiêu dùng: Dịch vụ, Cảm nhận, Sản phẩm, Quảng  
cáo và giá. Trong đó nhân tố về Dịch vụ có ảnh hưởng lớn nhất, nhân tố có ảnh hưởng thứ 2 là Sản phẩm,  
tiếp theo là nhân tố quảng cáo và giá, cuối cùng là nhân tố Cảm nhận của người tiêu dùng. Dựa trên kết  
quả nghiên cứu này, các doanh nghiệp thức ăn nhanh đang kinh doanh trên địa bàn TP. Quảng Ngãi có  
thể tập trung vào các nhân tố trên để đáp ứng tốt nhu cầu khách hàng và xây dựng được sức hút cho chuỗi  
cửa hàng thức ăn nhanh của mình.  
Từ khóa: Thức ăn nhanh, sự lựa chọn thức ăn nhanh, hành vi tiêu dùng thức ăn nhanh tại Việt Nam  
A RESEARCH ON FACTORS AFFECTING CONSUMERS’ CHOICE  
OF FAST FOOD RESTAURANTS IN QUANG NGAI CITY  
Abstract  
The purpose of this research is to analyze the factors that affect the consumers’ decision of choosing fast  
food restaurants in Quang Ngai city. The survey in this research was carried out with 1000 observations.  
The author used the exploratory factor analysis (EFA) method and linear regression analysis to test the  
research model. Research results show that there are four factors affecting consumers' choice of fast food  
restaurants: Service, Perception, Product, Advertising and Price. In which, the service factor has the  
biggest influence, the second most influential factor is Product, followed by the advertising and price  
factor, and the last factor is consumer perception. Based on these research results, fast food businesses  
in Quang Ngai city can focus on the above factors to meet customers’ needs and enhance attraction for  
their fast food chain.  
Key words: Fast food, fast food choice, consumer behavior of fast food in Vietnam.  
JEL classification: D11; P23  
hướng này, tác giả quyết định lựa chọn “Nghiên  
cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa  
chọn cửa hàng thức ăn nhanh của người tiêu dùng  
tại TP. Quảng Ngãi” nhằm củng cố thêm dự đoán  
về xu hướng tiêu dùng mới tại Tp. Quảng Ngãi,  
đồng thời làm cơ sở để đưa ra các hướng giải pháp  
phù hợp với tâm lý tiêu dùng tại Tp. Quảng Ngãi,  
hỗ trợ đắc lực cho các nhà kinh doanh thức ăn  
nhanh thâm nhập thị trường mới này, đồng thời  
tạo thêm điểm sáng mới trong bức tranh kinh tế  
toàn cảnh của tỉnh Quảng Ngãi.  
1. Đặt vấn đề  
Cùng với chính sách mở cửa của Việt Nam,  
nhiều thị hiếu và thói quen của phương Tây được  
du nhập vào Việt Nam và tác động đến nền kinh  
tế. Thức ăn nhanh là một trường hợp điển hình thể  
hiện xu hướng Tây hóa và là hình ảnh đặc trưng  
cho lối sống công nghiệp thời hiện đại của giới trẻ  
Việt Nam. Rất nhiều những thương hiệu thức ăn  
nhanh như KFC, Lotteria, Pizza Hut, Burger  
King, Mc Donal, KFC, Jollibee, …đã thâm nhập  
thị trường Việt Nam và tạo được vị thế vững chắc  
với mức tăng trưởng doanh thu ấn tượng qua các  
năm. Nhằm đón đầu trào lưu mới và cạnh tranh  
với các thương hiệu nước ngoài, khá nhiều doanh  
nghiệp Việt Nam cũng bắt đầu lấn sân sang lĩnh  
vực thức ăn nhanh và thu được những thành công  
nhất định như Phở 24, VietMac, Kinh Do Bakery,  
Bánh mì ta,… Ngày càng nhiều hơn khách hàng  
lựa chọn đi đến những thức ăn nhanh để ăn uống  
bởi sự tiện lợi, tiết kiệm, hợp vệ sinh của thức ăn  
nhanh so với nhiều dịch vụ ăn uống khác. Bên  
cạnh đó, hương vị thơm ngon, món ăn đa dạng,  
dịch vụ tốt của cửa hàng thức ăn nhanh cũng thu  
hút nhiều hơn khách hàng. Nắm bắt được xu  
2. Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu  
2.1. Khái niệm về thức ăn nhanh  
Thực phẩm có vị trí quan trọng trong đời  
sống của người tiêu dùng, đồng thời thực hiện  
chức năng xã hội và văn hóa, chiếm phần lớn  
trong chi tiêu của người tiêu dùng (Steenkamp,  
1997). Thức ăn nhanh là một tập hợp các loại thực  
phẩm tiện lợi, và thường được liên tưởng đến  
những sản phẩm cung cấp nhiều năng lượng cho  
hoạt động hằng ngày của con người. Hiện nay,  
định nghĩa về thức ăn nhanh có rất nhiều quan điểm  
khác nhau. Theo Phòng Nông nghiệp Mỹ (1997),  
thức ăn nhanh chỉ những thức ăn làm sẵn được mua  
40  
Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 15 (2020)  
từ các cửa hàng tiện lợi. Theo nghiên cứu của  
Driskell (2006), thức ăn nhanh – fast food khác với  
những loại thực phẩm tiện lợi khác ở chỗ nó là một  
loại hình dịch vụ chứ không phải chỉ là sản phẩm  
đơn thuần. Một bước tiến quan trọng để hình thành  
định nghĩa về thức ăn nhanh chính là sự phân biệt rõ  
ràng giữa thức ăn nhanh và thức ăn tiện lợi. Bởi vì  
thức ăn tiện lợi gồm một tập hợp rất rộng nhiều loại  
thực phẩm từ những thức ăn đông lạnh, đến mì gói,  
món salad được đóng gói. Trong khi đó, thức ăn  
nhanh – fast food chỉ là một phần nhỏ, riêng biệt  
thuộc nhómthức ăn tiện lợi. Ngoài ra, một cách phân  
biệt phổ biến nữa là thức ăn nhanh được bán ở các  
cửa hàng được coi như một loại hình dịch vụ chứ  
không đơn thuần là sản phẩm vật chất như thức ăn  
tiện lợi nói chung. Có thể nhận thấy, định nghĩa thức  
ăn nhanh là những thức ăn được phục vụ ở các nhà  
hàng thức ăn nhanh như McDonald’s, Burger King,  
Dominoes, Pizza Hut… là phổ biến nhất. Và theo  
Jeffery (2006), nhà hàng thức ăn nhanh là những nhà  
hàng chuyên cung cấp các món như bánh kẹp, gà  
rán, bò nướng, bánh pizza… được phục vụ rất  
nhanh. Trong bài này, thức ăn nhanh cũng được hiểu  
theo cách tương tự như các định nghĩa trên, thức ăn  
nhanh – Fast food là một loại thức ăn được bán ở các  
cửa hàng thức ăn nhanh và được phục vụ rất nhanh.  
Như vậy, khái niệm thức ăn nhanh ở đây được coi  
như một loại hình dịch vụ bao gồm sản phẩm vật  
chất và sự phục vụ nhanh chóng của cửa hàng.  
2.2. Những nhân tố tác động đến sự lựa chọn  
tiêu dùng thức ăn nhanh  
Những quyết định tiêu dùng sản phẩm, dịch  
vụ của khách hàng là một hành vi tương đối phức  
tạp và rất khó để xác định được vì quyết định này  
chịu sự tác động của hàng loạt các nhân tố với các  
mức độ khác nhau (Scheibehenne, Miesler &  
Todd, 2007). Trên thực tế, quyết định lựa chọn  
thực phẩm phụ thuộc nhiều vào bối cảnh về thời  
gian, không gian cụ thể, mong muốn của cá nhân  
và một số nhân tố xã hội khác. Atkins & Bowler  
(2001) cho rằng, chính nhịp sống bận rộn ngày  
nay, sức ép, sự căng thẳng từ công việc dẫn đến  
sự gia tăng trong tiêu dùng thức ăn nhanh. Tương  
tự, theo Foodweek (2008), lý do chính khiến  
khách hàng chọn tiêu dùng thức ăn nhanh bởi vì  
tính tiện lợi của nó và sức ép về thời gian. Nghiên  
cứu của Olumakaiye và Ajayi (2008), Hyun Sun  
Seo (2011) chỉ ra rằng, lý do thanh thiếu niên - đối  
tượng khách hàng mục tiêu của thức ăn nhanh ưa  
thích nó bởi vì thức ăn nhanh rất tiện lợi, ít tốn  
thời gian và không tốn kém nhiều. Nghiên cứu của  
Guthrie (2002) xác nhận rằng thức ăn nhanh giàu  
năng lượng và có hàm lượng chất béo cao, tuy  
nhiên lại ít dinh dưỡng hơn so với các bữa ăn được  
chuẩn bị tại nhà (ít sắt, ít canxi và chất xơ hơn).  
Tuy nhiên, dù nhận thức được những nguy cơ của  
thức ăn nhanh như béo phì, bệnh tim mạch… thì  
người tiêu dùng vẫn tiếp tục sử dụng thức ăn  
nhanh bởi vì nó tiện lợi để mua và sử dụng  
(Shah.A, 2010). Gần đây, trong nghiên cứu của  
Bryant & Dundes (2008) khi khảo sát khu vực Bắc  
Mỹ và Tây Ban Nha, người tiêu dùng tiết lộ rằng  
chính hương vị của thức ăn nhanh thôi thúc họ  
mua nó. Ngoài ra, giá cả và thực đơn phong phú  
cũng là một trong những nguyên nhân người tiêu  
dùng chọn mua thức ăn nhanh (Driskell, 2006).  
Quan điểm này cũng được ủng hộ bởi Prescott  
(2002) và Steptoe khi cho rằng khách hàng đến  
với thức ăn nhanh vì nó phổ biến, quen thuộc,  
hương vị thơm ngon và giá cả phải chăng. Bên  
cạnh đó, sạch sẽ, hợp vệ sinh và vị thức ăn ngon  
những lý do quan trọng để khách hàng lựa chọn  
thức ăn nhanh. Shivkumar (2004) cho rằng người  
tiêu dùng dù thu nhập cao hay thấp bị ảnh hưởng  
chủ yếu bởi ý kiến của gia đình, bạn bè ngoài ra  
còn từ sự tư vấn của người bán và quảng cáo.  
Duany (1991), Park (2004) cho rằng khách hàng  
tiêu dùng thức ăn nhanh không chỉ bởi lợi ích thực  
tế của nó mà còn vì một số khía cạnh đặc trưng  
thú vị khác của thức ăn nhanh như: thiết kế không  
gian, hương vị, không khí tại nhà hàng thức ăn  
nhanh mà khách hàng đã ghé đến. Những trải  
nghiệm như thế có thể là yếu tố quyết định trong  
việc lựa chọn thức ăn nhanh và địa điểm ăn uống  
của khách hàng. Ngoài ra, theo Milliman (1986),  
bầu không khí của nhà hàng có ảnh hưởng lớn đến  
quyết định lựa chọn địa điểm ăn uống của khách  
hàng hơn là sản phẩm, dịch vụ mà nhà hàng đó  
cung cấp. Bầu không khí chính là ánh sáng, âm  
lương, chất lượng của âm thanh, mùi hương, sự  
tươi mới, hòa nhã, thân thiện… Cửa hàng thức ăn  
nhanh có thể là nơi để thư giãn, phát triển các mối  
quan hệ gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, đem đến  
cho khách hàng một cảm giác riêng tư ngay cả  
trong không gian chung (Carmona, 2003).  
Theo nghiên cứu của Driskell (2006), một  
phần ba phụ nữ được khảo sát cho rằng họ thích  
ăn tại những cửa hàng thức ăn nhanh vì họ mong  
muốn được giao lưu, gặp gỡ và vì một số nguyên  
nhân mang tính xã hội khác. Ngoài ra, lí do người  
tiêu dùng chọn mua thức ăn nhanh cũng vì họ thấy  
thích kiểu của các nhà hàng phục vụ thức ăn nhanh  
hơn những nhà hàng, quán ăn khác (Cheang,  
2000). Chẳng hạn, nhà hàng thức ăn nhanh thường  
ở những địa điểm thuận tiện đi lại, phục vụ từ sáng  
sớm đến khuya và có giá cả phải chăng. Hiện nay,  
khách hàng có xu hướng quay lại với sự tự nhiên,  
41  
Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 15 (2020)  
giá trị khi tiêu dùng thức ăn, thời trang. Do đó, các  
công ty thức ăn nhanh đang hướng tới việc cung  
cấp những bữa ăn giàu dinh dưỡng, lành mạnh phù  
hợp với văn hóa địa phương. Nagaraja (2004) cho  
rằng, chất lượng sản phẩm thức ăn nhanh và khả  
năng tiếp cận nó là yếu tố quyết định ảnh hưởng  
đến hành vi mua của các gia đình. Theo Mooiji  
(2003), các công ty kinh doanh thức ăn nhanh cần  
cung những sản phẩm phù hợp giá trị tiêu dùng  
địa phương và hành vi mua hàng ở một số thị  
trường cụ thể. Khảo sát của công ty nghiên cứu thị  
trường FTA thực hiện vào tháng 06/2012 tại các  
thành phố lớn như HCM, Hà Nội, Đà Nẵng trên  
số mẫu là 300 người tiêu dùng, gồm phụ huynh có  
con nhỏ, học sinh, sinh viên từ 13-22 tuổi, người  
đi làm từ 23-30 tuổi cũng chỉ ra những nhân tố tác  
động đến sự lựa chọn cửa hàng thức ăn nhanh:  
hương vị của món ăn, sự thuận tiện về địa điểm đi  
lại, cửa hàng phục vụ nhanh, thực đơn phong phú,  
giá cả hợp lý, Yếu tố về con người, cụ thể là thái  
độ phục vụ nhiệt tình của nhân viên cũng khiến  
khách hàng nhớ đến cửa hàng đó và sẽ ghé lại.  
2.3. Mô hình nghiên cứu lý thuyết  
Dựa trên các nghiên cứu về hành vi tiêu dùng  
thức ăn nhanh có thể xác định các nhân tố tác động  
đến quyết định lựa chọn tiêu dùng thức ăn nhanh,  
từ đó đề xuất các giả thuyết nghiên cứu:  
+ H1:Các yếutố vềsản phẩmnhưhươngvị, hợp  
vệ sinh, sản phẩm quen thuộc, có thương hiệu, thực  
đơnphongphú, giàudinhdưỡngcàngtốtthì khả năng  
quyết định tiêu dùng thức ăn nhanh càng cao.  
+ H2: Các yếu tố về không gian như bầu không  
khí, thiết kế, âm nhạc càng thu hút thì khả năng  
quyết định tiêu dùng thức ăn nhanh càng cao.  
+ H3: Các yếu tố về cảm nhận như mang lại  
cảm giác thân quen, riêng tư cho khách hàng để  
thư giãn, phát triển các mối quan hệ gia đình, bạn  
bè, đồng nghiệp càng tích cực thì khả năng quyết  
định tiêu dùng thức ăn nhanh càng cao.  
+ H4: Khả năng tiếp cận càng hiệu quả thì khả  
năng quyết định tiêu dùng thức ăn nhanh càng cao.  
+ H5: Các yếu tố về quảng cáo như chương  
trình khuyến mãi & mục quảng cáo trên phương  
tiện truyền thông càng nhiều thì khả năng quyết  
định tiêu dùng thức ăn nhanh càng cao.  
+ H6: Giá cả hợp lý thì khả năng quyết định  
tiêu dùng thức ăn nhanh càng cao.  
H1 (+)  
Sản phẩm  
H2 (+)  
H3 (+)  
Không gian  
Quyết định lựa chọn địa điểm tiêu  
dùng thức ăn nhanh  
Cảm nhận  
H4 (+)  
H5 (+)  
Khả năng tiếp cận  
H6 (+)  
Quảng cáo  
Giá  
Hình 2: Mô hình nghiên cứu lý thuyết những nhân tố  
ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng thức ăn nhanh  
biến quan sát (Hair et al., 2009). Với số lượng biến  
quan sát là 20 thì số lượng mẫu tối thiểu là 100  
mẫu. Dựa trên khả năng có thể tiếp cận mẫu và  
khảo sát, tổng lượng khách hàng tiêu dùng thức ăn  
nhanh hiện có tại Tp. Quảng Ngãi, số lượng mẫu  
được chọn để tiến hành phỏng vấn gồm 1000 mẫu,  
nhằm mục đích vừa nghiên cứu về hành vi chọn  
3. Phương pháp nghiên cứu  
3.1. Phương pháp thu thập dữ liệu  
Dữ liệu được thu thập bằng cách phỏng vấn  
cá nhân thông qua bảng câu hỏi đóng đã được lập  
sẵn. Nghiên cứu áp dụng phân tích nhân tố khám  
phá EFA và hồi quy đa biến nên số lượng mẫu tối  
thiểu theo công thức n = 5xm với m là số lượng  
42  
Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 15 (2020)  
lựa cửa hành thức ăn nhanh, vừa có cái nhìn tổng  
quát hơn về thị trường thức ăn nhanh tại Tp.  
Quảng Ngãi. Trong nghiên cứu này, phương pháp  
chọn mẫu thuận tiện (một hình thức chọn mẫu phi  
xác suất) được áp dụng. Mặc dù, tính tổng quát  
hóa thấp hơn so với chọn mẫu xác suất, nhưng  
chọn mẫu thuận tiện có thể tiết kiệm thời gian, chi  
phí. Mẫu tập trung chủ yếu là các bạn trẻ tập trung  
vào SV và nhân viên VP, độ tuổi từ 30 trở xuống.  
Nhiều nghiên cứu cũng đã chứng minh đối tượng  
người tiêu dùng mục tiêu của thức ăn nhanh là  
thanh thiếu niên (Olumakaiye và Ajayi, 2008;  
Hyun Sun Seo, 2011). Câu hỏi định lượng với  
thang đo Likert 5 mức độ nhằm tìm hiểu thái độ,  
đánh giá mức ảnh hưởng của các nhân tố trong  
quyết định chọn cửa hàng thức ăn nhanh của  
người tiêu dùng tại Tp. Quảng Ngãi.  
đối tượng là nhân viên kỹ thuật, người kinh doanh  
hoặc cán bộ quản lý, 8,1% còn lại gồm có giáo  
viên, người nội trợ hoặc làm nghề tự do…;vì  
người tiêu dùng được khảo sát chủ yếu là học sinh  
- sinh viên nên mức thu nhập dưới 1.5 triệu đồng/  
tháng cũng chiếm đa số trong thống kê về thu nhập  
của đối tượng nghiên cứu (chiếm 60,3%), mức thu  
nhập từ 1.5 – 5 triệu đồng chiếm khoảng 23,3%,  
mức thu nhập từ 5 – 10 triệu chiếm khoảng 13%,  
còn lại là 3,4% có mức thu nhập từ 10 triệu trở lên.  
4.2. Phân tích kết quả nghiên cứu  
Nghiên cứu đưa ra 19 biến để phân tích  
những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn cửa  
hàng thức ăn nhanh của người tiêu dùng tại Tp.  
Quảng Ngãi. Thang đo Likert với thang điểm từ 1  
đến 5 (1: Hoàn toàn không đồng ý, 5: Hoàn toàn  
đồng ý) được sử dụng nhằm đo lường mức độ ảnh  
hưởng của các yếu tố lên quyết định.  
3.2. Phương pháp phân tích dữ liệu  
Sử dụng phần mềm SPSS hỗ trợ khi phân tích  
số liệu với các phương pháp sau: Sử dụng phương  
pháp thống kê mô tả nhằm thống kê những thông  
tin cá nhân của người tiêu dùng thức ăn nhanh; Sử  
dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá  
EFA và phân tích hàm hồi quy tuyến tính để đánh  
giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố lên quyết  
định chọn lựa cửa hàng thức ăn nhanh khi tiêu  
dùng thức ăn nhanh của khách hàng.  
Phân tích nhân tố khám phá được sử dụng để  
rút gọn nhiều biến số có tương quan lẫn nhau  
thành những đại lượng được thể hiện dưới dạng  
đường thẳng gọi là những nhân tố. Những nhân tố  
này sẽ đại diện cho các biến quan sát. Kết quả  
phân tích nhân tố đối với các yếu tố ảnh hưởng  
đến quyết định lựa chọn cửa hàng thức ăn nhanh  
của người tiêu dùng Tp. Quảng Ngãi cho thấy trị  
số KMO = 0,849 thỏa mãn điều kiện lớn hơn 0,5  
nên có thể khẳng định dữ liệu là thích hợp để phân  
tích nhân tố. Ngoài ra, kiểm định Barlett’s Test  
với giả thuyết (H0) là “các biến không có tương  
quan với nhau” có mức ý nghĩa thống kê sig. <  
0,05 đã bác bỏ giả thuyết trên đồng nghĩa với việc  
các biến có tương quan với nhau và việc áp dụng  
phân tích nhân tố là thích hợp.  
Trong phân tích EFA sử dụng phương pháp  
Principal component analysis với phép quay  
varimax và điểm dừng khi trích các yếu tố có  
Eigenvalue là 1, và cho phép rút ra trọng số của  
các biến quan sát (factor loading) để tiến hành so  
sánh loại bỏ hay giữ lại trong nghiên cứu. Bảng  
rút trích các nhóm nhân tố được thể hiển sau đây:  
4. Kết quả nghiên cứu  
4.1. Đặc điểm mẫu nghiên cứu  
Tổng số mẫu quan sát là 1000, trong đó đặc  
điểm mẫu phân tích như sau: tỷ lệ 67,3% là nữ  
giới, 32,7% là nam giới; đối tượng khảo sát đang  
ở tình trạng độc thân chiếm 79,6%, còn lại 20,4%  
đối tượng đã kết hôn; từ mục tiêu xác định đối  
tượng nghiên cứu là giới trẻ nên kết cấu độ tuổi  
của 1000 người tiêu dùng được khảo sát chủ yếu  
từ 22 tuổi trở xuống chiếm 71%, chỉ khoảng  
10,7% đối tượng được khảo sát trên 30 tuổi; đối  
tượng nghiên cứu hiện là học sinh, sinh viên, phù  
hợp với cơ cấu về độ tuổi của đối tượng nghiên  
cứu với 71% từ 22 tuổi trở xuống, 9,4% người  
được khảo sát hiện là nhân viên văn phòng, 15%  
43  
Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 15 (2020)  
Bảng 1: Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha và EFA các yếu tố tác động  
Nhóm nhân tố  
Biến  
Tên biến  
1
0,785  
0,769  
0,757  
0,749  
0,551  
2
3
4
5
KG1  
NS1  
TC2  
KG2  
NS2  
CN1  
CN2  
CN3  
SP2  
SP3  
SP5  
SP1  
SP4  
Thiết kế, trang trí đẹp, lịch sự  
Nhân viên nhiệt tình, vui vẻ  
Có dịch vụ giao hàng  
Không gian thân thuộc, có phục vụ âm nhạc  
Nhân viên phục vụ nhanh, chuyên nghiệp  
Nơi được người quen giới thiệu, đánh giá tốt  
Nơi có thể sum họp gia đinh, gặp bạn bè…  
Nơi mang lại sự thoải mái, thư giãn  
Hương vị thơm ngon, hợp khẩu vị  
Sản phẩm có thương hiệu, nguồn gốc rõ  
Đảm bảo dinh dưỡng, ít dầu mỡ  
Thức ăn hợp vệ sinh  
0,880  
0,846  
0,784  
0,927  
0,758  
0,736  
0,716  
0,489  
Thực đơn phong phú  
TC1  
TC3  
KG3  
QC2  
QC1  
QC3  
Địa điểm cửa hàng thuận tiện đi lại  
Mở cửa từ sáng đến tối  
Có không gian cho trẻ em vui chơi  
Thông tin về cửa hàng có trên báo, TV, tờ rơi  
Nhiều chương trình khuyến mãi hấp dẫn  
Giá cả hợp lý  
0,980  
0,977  
0,930  
0,942  
0,940  
0,556  
1,174  
6,177  
0,969  
Eigenvalue  
Phương sai trích được (%)  
Cronbach’s Alpha  
8,064  
42,443  
0,869  
3,141  
16,530  
0,879  
1,743  
9,176  
0,908  
1,358  
7,148  
0,871  
Nguồn: Kết quả xử lý số liệu trên phần mềm SPSS  
Kết quả kiểm định độ tin cậy bằng hệ số  
Cronbach’s Alpha cho thấy các nhóm nhân tố đều  
đạt độ tin cậy với tiêu chuẩn Cronbach’s Alpha >  
0.6 (Slate, 1995). Các biến có hệ số tải nhân số  
factor loading < 0,4 sẽ bị loại (Hair, 2009).  
Các tập hợp biến quan sát mới được rút trích  
sẽ được đặt tên lại như sau:  
thể là hương vị thơm ngon, hợp khẩu vị của  
khách hàng (SP2), thức ăn hợp vệ sinh có quy  
trình chế biến an toàn, đảm bảo (SP1), sản phẩm  
có thương hiệu trên thị trường, nguồn gốc xuất  
xứ rõ ràng (SP3), thực đơn phong phú (SP4),  
thức ăn đảm bảo dinh dưỡng, năng lượng cần  
thiết, ít dầu mỡ (SP5).  
Nhân tố thứ nhất: DỊCH VỤ (DV), có giá trị  
Eigenvalue = 8,064 > 1 bao gồm 5 biến có tương  
quan chặt chẽ với nhau liên quan đến chất lượng  
dịch vụ mà các cửa hàng thức ăn nhanh mang đến  
cho khách hàng, cụ thể là thiết kế quán lịch sự,  
trang nhã, trang trí nội thất bên trong quán đẹp  
(KG1), không gian quán thân thiện, ấm áp, phục  
vụ nhạc hay (KG2), có dịch vụ giao hàng đến tận  
nơi (TC2), nhân viên nhiệt tinh, vui vẻ với khách  
hàng (NS1), nhân viên phục vụ nhanh & chuyên  
nghiệp (NS2).  
Nhân tố thứ hai: CẢM NHẬN (CN), có giá  
trị Eigenvalue = 3,141 > 1 bao gồm 3 biến có mối  
tương quan với nhau thể hiện cảm nhận của khách  
hàng khi đến các cửa hàng thức ăn nhanh là cửa  
hàng là nơi được người quen giới thiệu, đánh giá  
tốt (CN1), là nơi khách hàng cảm thấy có thể sum  
họp gia đình, gặp gỡ bạn bè, đồng nghiệp (CN2),  
là nơi khách hàng cảm thấy mang lại sự thoải mái,  
thư giãn cho họ (CN3).  
Nhân tố thứ tư: KHẢ NĂNG TIẾP CẬN  
(TC), có giá trị Eigenvalue = 1,358 > 1 bao gồm  
3 biến có mối tương quan với nhau đại diện cho  
khả năng tiếp cận của khách hàng đối với sản  
phẩm, dịch vụ thức ăn nhanh của cửa hàng, cụ thể  
là địa điểm cửa hàng thuận tiện đi lại (TC1), cửa  
hàng mở cửa từ sáng đến tối (TC2), có không gian  
cho trẻ em vui chơi, thích hợp cho khách hàng là  
phụ huynh có con nhỏ (KG3).  
Nhân tố thứ năm: QUẢNG CÁO VÀ GIÁ  
(QC), có giá trị Eigenvalue = 1,174 > 1 bao gồm  
3 biến có mối tương quan với nhau liên quan đến  
các vấn đề về giá cả món ăn, chương trình  
khuyến mãi, giảm giá và quảng cáo của cửa hàng  
trên các phương tiên thông tin đại chúng, cụ thể  
là cửa hàng có nhiều chương trình khuyến mãi  
hấp dẫn (QC1), thông tin về cửa hàng (thực đơn,  
giá, chương trình khuyến mãi) được đăng trên  
báo, TV, tờ rơi, áp phích tại địa phương và  
website của cửa hàng (QC2), giá cả món ăn hợp  
lý, vừa túi tiền (QC3).  
Nhân tố thứ ba: SẢN PHẨM (SP), có giá  
trị Eigenvalue = 1,743 > 1 bao gồm 5 biến có mối  
tương quan với nhau liên quan đến các vấn đề về  
sản phẩm thức của ăn nhanh tại các cửa hàng, cụ  
Để đánh giá mối liên hệ và chiều hướng tác  
động của 5 nhân tố này, tức là 5 biến độc lập đến  
quyết định lựa chọn cửa hàng thức ăn nhanh của  
44  
Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 15 (2020)  
người tiêu dùng Tp. Quảng Ngãi là biến phụ  
thuộc, nghiên cứu này đã sử dụng mô hình hồi quy  
tuyến tính bội có dạng:  
Y = a0 + a1.DV + a2.CN + a3.SP + a4.TC +  
a5.QC  
a0: Hệ số chặn  
Y: Biến phụ thuộc thể hiện quyết định lựa  
chọn cửa hàng thức ăn nhanh  
DV, CN, SP, TC, QC: Các biến độc lập về  
dịch vụ, cảm nhận, sản phẩm, khả năng tiếp cận,  
quảng cáo.  
Kết quả phân tích Anova đối với mô hình hồi  
quy đa biến cho thấy giá trị kiểm định F = 260.090  
ở mức ý nghĩa sig = 0,000 < 1% chứng tỏ rằng mô  
hình hồi quy xây dựng là phù hợp với toàn bộ dữ  
liệu thu thập được. Bên cạnh đó, giá trị R2 của mô  
hình tổng thể bằng 56,7% cho thấy các biến độc  
lập trong mô hình giải thích được khoảng 56,7%  
ảnh hưởng của các nhân tố đối với quyết định lựa  
chọn cửa hàng thức ăn nhanh của người tiêu dùng  
tại Tp. Quảng Ngãi. Như vậy, 1 - R2 = 0,433 được  
giải thích bởi các nhân tố không được đưa vào  
trong mô hình và đây cũng được xem là một trong  
những hạn chế của nghiên cứu. Theo bảng phân  
tích hồi quy, hệ số phóng đại phương sai VIF khá  
nhỏ, có giá trị lớn nhất là 2,4 < 10 cho thấy không  
có hiện tượng đa cộng tuyến xảy ra giữa các biến.  
Bảng 2: Kết quả phân tích hồi quy  
Hệ số hồi quy  
Mức ý nghĩa  
VIF  
Beta chưa chuẩn hóa  
Beta đã chuẩn hóa  
Hằng số  
CN  
-0,439  
0,119  
0,360  
0,445  
0,267  
-0,028  
0,003  
0,002  
0,000  
0,000  
0,000  
0,168  
0,088  
0,266  
0,339  
0,238  
-0,030  
1,935  
2,400  
2,070  
1,431  
1,087  
SP  
DV  
QC  
TC  
Giá trị kiểm định sự phù hợp của mô hình F = 260.090  
R2 = 56,7%  
Mức ý nghĩa 5%  
Nguồn: Kết quả xử lý số liệu trên phần mềm SPSS  
giá cả, Cảm nhận cũng tác động tích cực lên hành  
vi tiêu dùng thức ăn nhanh của khách hàng. Giả  
thuyết bị bác bỏ là Khả năng tiếp cận có sig > 0,05  
không ảnh hưởng đến quyết định chọn tiêu dùng  
thức ăn nhanh của khách hàng.  
Theo kết quả mô hình hồi quy, biến TC (Khả  
năng tiếp cận) có mức ý nghĩa sig = 0,168 > 0,05  
nên bị loại bỏ, từ đó bác bỏ giả thuyết Khả năng  
tiếp cận có ảnh hưởng đến quyết định chọn cửa  
hàng thức ăn nhanh của người tiêu dùng Tp.  
Quảng Ngãi. Các biến còn lại CN, SP, DV, QC  
nhận giá trị sig lần lượt là 0,002; 0,000; 0,000;  
0,000 đều nhỏ hơn 0,05. Do đó, có thể khẳng định  
các biến số này có ý nghĩa trong mô hình và mô  
hình thực tế được thiết lập như sau:  
5. Kết luận  
Qua khảo sát và phân tích hơn 1000 mẫu tại  
thị trường Tp. Quảng Ngãi, tác giả nhận thấy trong  
các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn  
cửa hàng thức ăn nhanh của người tiêu dùng tại  
TP. Quảng Ngãi thì nhân tố về Dịch vụ và Sản  
phẩm có ảnh hưởng lớn nhất, tiếp là nhóm nhân tố  
Quảng cáo, giá cả, nhân tố ảnh hưởng yếu nhất là  
Cảm nhận của người tiêu dùng. Đồng thời, tác giả  
xác định bốn xu hướng tiêu dùng chính trong tiêu  
dùng thức ăn nhanh tại thị trường Tp. Quảng Ngãi:  
tìm kiếm những cửa hàng có không gian thỏa mái  
thân thiện nơi có thể sum họp gia đình, hẹn hò với  
đồng nghiệp và bạn bè, quan tâm nhiều hơn đến  
vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, chú trọng đến  
vấn đề dinh dưỡng của thức ăn tăng chất xơ và  
giảm dầu mỡ, lựa chọn những thức ăn mang tính  
tiện lợi cao.  
Y = -0,439 + 0,445DVi + 0,36SPi +  
0,267QCi + 0,119CNi  
Trong đó, nhân tố về Dịch vụ liên quan đến  
chất lượng phục vụ, không gian quán và giao hàng  
tận nơi có ảnh hưởng lớn nhất đến quyết định của  
người tiêu dùng khi lựa chọn cửa hàng thức ăn  
nhanh với hệ số hồi quy của biến DV là 0,445.  
Nhân tố Sản phẩm với hệ số hồi quy là 0,36 cũng  
cho thấy ảnh hưởng quan trọng và tích cực của  
những vấn đề liên quan đến sản phẩm đối với  
quyết định tiêu dùng thức ăn nhanh của khách  
hàng Tp. Quảng Ngãi. Cụ thể là thức ăn hợp vệ  
sinh, có thương hiệu, nguồn gốc rõ ràng, hương vị  
phải thơm ngon, hợp khẩu vị, thực đơn các món  
ăn phong phú đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách  
hàng và thức ăn đảm bảo dinh dưỡng, năng lượng  
cần thiết, ít dầu mỡ. Các nhân tố về Quảng cáo và  
Dựa trên kết quả nghiên tác giả đưa ra một số  
giải pháp cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ  
thức ăn nhanh có thể đáp ứng tốt nhu cầu khách  
45  
Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 15 (2020)  
hàng và xây dựng được sức hút cho chuỗi cửa  
hàng thức ăn nhanh của mình, cụ thể như sau:  
Thứ nhất, phát triển thị trường & hoàn thiện,  
mở rộng kênh phân phối. Tuy lĩnh vực kinh doanh  
thức ăn nhanh trên thị trường Quảng Ngãi vẫn còn  
mới mẻ, nhưng theo xu hướng phát triển của  
ngành thì việc các doanh nghiệp đặt chân vào thị  
trường Quảng Ngãi là điều tất yếu. Với mức độ  
cạnh tranh gay gắt trên thị trường thức ăn nhanh,  
các doanh nghiệp muốn khẳng định vị thế của  
mình thì phải xây dựng, phát triển và hoàn thiện  
một hệ thống kênh phân phối vững mạnh.  
Thứ hai, các doanh nghiệp cần coi chất lượng  
dịch vụ là một yếu tố quan trọng nhất để doanh  
nghiệp có được thành công, vì vậy việc nâng cao  
chất lượng dịch vụ là vấn đề các doanh nghiệp thức  
ăn nhanh cần quan tâm hàng đầu. Các doanh  
nghiệp nâng cao chất lượng dịch vụ thông qua việc  
nâng cao chất lượng của đội ngũ phục vụ, bối trí  
không gian cửa hàng thoáng mát, sạch sẽ, dịch vụ  
giao hàng tận nơi để đáp ứng nhu cầu khách hàng.  
Thứ ba, các doanh nghiệp thức ăn nhanh cần  
nâng cao chất lượng sản phẩm để thu hút khách đến  
cửa hàng thức ăn nhanh hiệu quả nhất bằng cách làm  
phong phú thực đơn, đồ ăn ngon; đảm bảo thức ăn  
an toàn, hợp vệ sinh; khẩu phần tăng cường chất xơ,  
giảm chất béo nhằm gỡ bỏ tâm lý e ngại của người  
tiêu dùng khi sử dụng thức ăn nhanh.  
Thứ tư, xây dựng chính sách giá hợp lý và  
nhiều mức giá tương ứng với các khẩu phần ăn  
khác nhau để cho khách hàng lựa chọn, đồng thời  
phù hợp với chi tiêu của khách hàng. Cụ thể tại thị  
trường này, doanh nghiệp nên tập trung vào hai  
mức giá chủ đạo là: từ 30-50 nghìn đồng và từ 50-  
100 nghìn đồng.  
Cuối cùng, tăng cường hoạt động quảng cáo  
và khuyến mãi hấp dẫn nhằm thu hút khách hàng  
hiệu quả hơn.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. AJZEN, I. (1991). The theory of planned behaviour. Organizational behavior and human decision  
making, 50, 179-211.  
[2]. AJZEN, I., 19-9-2007. Icek Ajzen:  
TpB Diagram, [online]. Available from:  
[3]. Asamoah, E. S., Chovancová M. (2005). The theory of Consumer Bahaviour in Fast Food Marketing:  
strategies for competitive advantage. Tomas Bata Univesity, 2-3.  
[4]. Asia Food & Wine, Franchise Mind. (2013). Cuộc chiến thức ăn nhanh tại Tp. HCM, [online].  
[5]. Atkins, P.J. & Bowler, I.R. (2001) Food in Society: Economy, Culture, Geography, Arnold.  
[6]. Ayala, G.X. (2006). An exerimental evaluatin of a group-versus computer-bases intervention to  
improve food portion size estimation skills. Health Education Research, 21(1), 133-145  
[7]. Bussell, G. (2005). Nutritional profiling vs guideline daily amounts as a means of helping consumers  
make appropriate food choices. Nutrition & Food science, 35(5), 337-343.  
[8]. Bryant, R., Dundes, L. (2008) Fast food perceptions: A pilot study of college students in Spain and  
the United States. Appetite, 51(2): 327-330  
[9]. DNSG News. (2012). Thị trường thức ăn nhanh: Sức ép từ Burger King, [online]. Available from:  
burger-king-/  
[10]. Driskell, J.A., Meckna, B.R. & Scales, N.E. (2006). Differences exist in the eating habits of  
university men and women at fast-food restaurants. Nutr. Res., 26, 524–530.  
[11]. DĐDN News. (2012). Thị trường thức ăn nhanh: Nội chiến thương hiệu ngoại, [online]. Available  
[12]. Kotler, P. (2007). Marketing căn bản. NXB Lao động – Xã hội.  
[13]. Martin, C. K., Anton, S. D., York-Crowe, E., Heilbronn, L. K., Vanskiver, C., Redman, L. M., et el.  
(2007). Empirical evaluation of the abili ty to learn a calorie countin system and estimate portion size and  
food intake. British Journal of Nutrition, 98(2), 439-444.  
[14]. Milliman, R. (1986). The influence of background music on behaviour of restaurant patrons.  
Journal of Consumer Research, 13, 286-289.  
[15]. Olumakaiye M. F, Ajayi O.A (2008). Food Consumption Patterns of Nigerian Adolescents & effect  
on body weight.  
[16]. Park, C. (2004). Effi cient or enjoyable? Consumer values of eating-out and fast restaurant  
consumption in Korea. Int. J. Hospitality Management, 23, 87–94.  
[17]. Pratabaraj, J. (2008). Analysis of Consumer Behavior in Branded Fast Food joints. SRM University.  
[18]. Riley, W. T., Beasley, J., Sowell, A., & Behar, A. (2007). Effects of a web-based food portion  
46  
Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 15 (2020)  
training program on food portion estimation. Journal of Nutrition Education and Behavior, 39(2), 70-76.  
[19]. Ronald, E. M. (1986). The Influence of Background Music on the Behavior of Restaurant Patrons.  
Journal of Consumer Research, 13(2), 286-289.  
[20]. Shah, A. (2010). Marital therapy for psychiatric disorders. Indian Journal of Social Psychiatry,  
26, 24-33.  
[21]. Scheibehenne, B., Miesler, L. and Todd, P.M. (2007). Fast and Frugal Food Choices: Uncovering  
Individual Decision Heuristics. Appetite, 49, 578-589.  
[22]. Schiffman, L. G. et al. (2007). Consumer Behavior (9th ed). New Jersey: Prentice  
[23]. Sim, KH. Kim SA. (1993). Utilization state of fast-foods among Korean youth in big cities. Korean  
J Nutr, 804–811.  
[24]. Sonya, A. G., Janell M., Shirley H. H., Shiriki K. K. and Nicolas S. (2007). Fast-Food Marketing  
and Children's Fast-Food Consumption: Exploring Parents' Influences in an Ethnically Diverse Sample.  
Journal of Public Policy & Marketing, 26(2), 221-235.  
[25].Tuyen Nguyen. (2012). Thị trường thức ăn nhanh: Doanh nghiệp Việt yếu thế, [online]. Available  
[26].Young, L. R., & Nestle, M. (1998). Variation in perceptions of a ‘medium’ food portion: Imlications  
for dietary guidance. Journal of the American Dietetic Association, 98(4), 458-459.  
Thông tin tác giả:  
Ngày nhận bài: 03/11/2020  
Ngày nhận bản sửa: 17/12/2020  
Ngày duyệt đăng: 30/12/2020  
1. Trần Thị Minh Nguyệt  
- Đơn vị công tác: Trường Đại học Tài Chính Kế toán  
- Địa chỉ email: [email protected]  
2. Phan Thị Mỹ Kiều  
- Đơn vị công tác: Trường Đại học Tài Chính Kế toán  
- Địa chỉ email: [email protected]  
47  
pdf 8 trang Thùy Anh 13260 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn cửa hàng thức ăn nhanh của người tiêu dùng tại Thành phố Quảng Ngãi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_cac_nhan_to_anh_huong_den_quyet_dinh_lua_chon_cua.pdf