Quan hệ lao động dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0: Nhìn từ biên bản thỏa thuận hợp tác của Grab

Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
QUAN HỆ LAO ĐỘNG DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA  
CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0:  
NHÌN TỪ BIÊN BẢN THỎA THUẬN HỢP TÁC CỦA GRAB  
THE IMPACT OF THE 4.0 INDUSTRIAL REVOLUTION ON  
LABOUR RELATIONS: ANALYSING FROM GRAB’S  
COOPERATION AGREEMENT  
Lê Ngọc Thạnh1  
Tóm tắt – Tác giả bài viết đã trình bày khái niệm quan hệ lao động theo Tổ  
chức Lao động Quốc tế (ILO), theo pháp luật Việt Nam. Trên cơ sở phân tích Biên  
bản thỏa thuận hợp tác của Grab và cách giải quyết tranh chấp vụ việc có liên quan  
đến Grab, tác giả đã đề xuất khái niệm về quan hệ lao động và hướng sửa đổi, bổ  
sung các quy định pháp luật có liên quan trong pháp luật lao động phù hợp với tác  
động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.  
Từ khóa: biên bản thỏa thuận hợp tác của Grab, cách mạng công nghiệp  
4.0, quan hệ lao động.  
1.  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
Sự tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đối với tất cả các lĩnh vực  
đời sống, kinh tế – xã hội là điều không ai có thể phủ nhận. Trong đó, sự ra đời của  
nhiều loại hình sản xuất – kinh doanh, dịch vụ không theo cách thức tổ chức  
truyền thống.  
Tuy còn ý kiến khác nhau nhưng sự xuất hiện của Công ty TNHH Grabtaxi  
(Grab), hoạt động trên lĩnh vực vận tải theo mô hình gọi xe qua ứng dụng công  
nghệ, đã “thổi” làn gió mới vào thị trường Việt Nam. Thời gian qua đã có nhiều dư  
luận đa chiều từ vụ việc trên theo quan điểm của cơ quan quản lí nhà nước, của đơn  
vị kinh doanh cùng ngành nghề với Grab, của tài xế tham gia dịch vụ và của cả  
khách hàng – người đang sử dụng, trả chi phí cho dịch vụ này. Vấn đề đặt ra là, mối  
quan hệ này có phải là quan hệ lao động và các chủ thể khi tham gia có chịu sự điều  
chỉnh của pháp luật lao động hay không? Tác giả bài viết này sẽ nghiên cứu các nội  
dung xung quanh vấn đề trên, thực tế áp dụng cũng như phán quyết của cơ quan tư  
pháp để đưa ra đề xuất cụ thể.  
1 Cơ sở II Trường Đại học Lao động – Xã hội; Email: lengocthanh49@yahoo.com  
329  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
2.  
QUAN HỆ LAO ĐỘNG THEO CÁC CHUYÊN GIA CỦA TỔ CHỨC  
LAO ĐỘNG QUỐC TẾ, THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM  
Theo các chuyên gia của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), quan hệ lao động  
(Industrial relations) là ‘những mối quan hệ cá nhân và tập thể giữa những người  
lao động và người sử dụng lao động tại nơi làm việc, cũng như các mối quan hệ  
giữa đại diện của họ với Nhà nước. Những mối quan hệ như thế xoay quanh các  
khía cạnh luật pháp, kinh tế, xã hội học và tâm lí học và bao gồm cả những vấn đề  
như tuyển mộ, thuê mướn, sắp xếp công việc, đào tạo, kỉ luật, thăng chức, buộc thôi  
việc, kết thúc hợp đồng, làm ngoài giờ, tiền thưởng, phân chia lợi nhuận, giáo dục,  
y tế, vệ sinh, giải trí, chỗ ở, giờ làm việc, nghỉ ngơi, nghỉ phép, các vấn đề phúc lợi  
cho người thất nghiệp, ốm đau, tai nạn, tuổi cao và tàn tật’ [1].  
Trong Bộ Luật Lao động (BLLĐ) năm 1994 [2] (đã được sửa đổi, bổ sung  
qua các năm: 2002, 2006, 2007), từ ‘quan hệ lao động’ xuất hiện 11 lần trong Lời  
nói đầu, Điều 1 (hai lần), Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 26, Điều 44, Điều 156,  
Điều 176 và Điều 180. Tuy nhiên, pháp luật không giải thích trực tiếp quan hệ lao  
động là gì, mà thông qua cách diễn đạt gián tiếp để hiểu nội dung này, cụ thể như  
sau:  
Thứ nhất, bằng cách giải thích đối tượng điều chỉnh của BLLĐ, pháp luật đã  
làm rõ nội hàm của quan hệ lao động; đó là mối quan hệ giữa người lao động làm  
công ăn lương với người sử dụng lao động và các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp  
với quan hệ lao động (Điều 1).  
Thứ hai, thông qua việc xác lập, tiến hành quan hệ lao động giữa người lao  
động và người sử dụng lao động để làm rõ quan hệ lao động. Đó là việc thương  
lượng, thoả thuận theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền  
và lợi ích hợp pháp của nhau, thực hiện đầy đủ những nội dung các bên đã cam kết  
theo sự hướng dẫn của Nhà nước và sự tham gia của Tổng Liên đoàn Lao động Việt  
Nam, công đoàn các cấp (Điều 9, Điều 10, Điều 156).  
Thứ ba, cơ sở pháp lí để ràng buộc quyền và nghĩa vụ các bên trong quan hệ  
lao động chính là hợp đồng lao động. Đó là sự thoả thuận giữa người lao động và  
người sử dụng lao động về việc làm có trả công, điều kiện lao động, quyền và nghĩa  
vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động (Điều 26).  
BLLĐ năm 2012 [3] cơ bản vẫn giữ phạm vi điều chỉnh như BLLĐ 1994, đó  
là quy định tiêu chuẩn lao động; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của người lao động,  
người sử dụng lao động, tổ chức đại diện tập thể lao động, tổ chức đại diện người  
sử dụng lao động trong quan hệ lao động và các quan hệ khác liên quan trực tiếp  
đến quan hệ lao động; quản lí nhà nước về lao động (Điều 1). Đồng thời, BLLĐ  
năm 2012 giải thích rõ hơn về quan hệ lao động; đó là quan hệ xã hội phát sinh  
trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa người lao động và người sử  
dụng lao động (Điều 3).  
330  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
Theo BLLĐ 2019 [4] (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2021): ‘Quan hệ  
lao động là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả  
lương giữa người lao động, người sử dụng lao động, các tổ chức đại diện của các  
bên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quan hệ lao động bao gồm quan hệ lao động  
cá nhân và quan hệ lao động tập thể’.  
Đây là mối quan hệ quan trọng nhất, có liên quan đến: (i) đối tượng điều chỉnh  
của BLLĐ; (ii) chủ thể của quan hệ lao động là người sử dụng lao động và người  
lao động có năng lực pháp luật và năng lực hành vi để xác lập, duy trì và chấm dứt  
quan hệ pháp luật; (iii) khách thể của quan hệ lao động là sức lao động của người  
lao động trong quá trình lao động; (iv) đối tượng của quan hệ lao động là việc làm  
có trả lương do người lao động thực hiện bằng hành vi của mình.  
Như vậy, theo quan điểm của ILO, pháp luật Việt Nam hiện hành, để trở thành  
quan hệ lao động, các yếu tố không thể thiếu được đó là xác định người sử dụng lao  
động, người lao động và mối quan hệ phát sinh giữa họ có liên quan đến trả lương  
cho việc thuê mướn, sử dụng hàng hóa sức lao động thông qua hợp đồng lao động  
được giao kết giữa các bên dưới sự quản lí của cơ quan nhà nước có thẩm quyền  
theo quy định pháp luật.  
3. VỀ QUAN HỆ TIẾP NHẬN VÀ ĐƯA ĐÓN KHÁCH HÀNG CỦA DỊCH  
VỤ GRAB QUA CÁC GÓC NHÌN  
3.1. Nghiên cứu tình huống của dịch vụ GrabBike qua Biên bản thỏa thuận  
hợp tác  
Tác giả nghiên cứu tình huống trên cơ sở tài liệu do chủ phương tiện cung  
cấp, xác định mối quan hệ giữa Grab và chủ phương tiện (xe máy hay xe ô tô) được  
điều chỉnh thông qua Biên bản thỏa thuận hợp tác (về việc tiếp nhận và đưa đón  
khách hàng của dịch vụ GrabBike) (Biên bản thỏa thuận), kí kết vào ngày 31/7/2017  
giữa bà Hoàng Thị Bích Hà, Phó Giám đốc Công ty TNHH GrabTaxi, địa chỉ 268  
Tô Hiến Thành, Phường 15, Quận 10, TP. Hồ Chí Minh (theo Giấy Ủy quyền số  
05/2015-GUQ) và chủ phương tiện2.  
Qua nghiên cứu nội dung trên, tác giả có mấy vấn đề như sau:  
Thứ nhất, về quyền và nghĩa vụ của Grab:  
(i) Grab (bên A) là đơn vị có quyền sử dụng hợp pháp phần mềm đặt và điều  
phối xe tiếp nhận và đón khách bằng xe máy (hoặc ô tô) thông qua ứng dụng trên  
điện thoại thông minh và kí kết hợp tác với bên cung cấp dịch vụ và tiếp nhận đón  
khách (bên B).  
(ii) Khi bên B thực hiện đúng theo cam kết thì bên A đảm bảo các khoản phí  
phát triển Grab cho bên B theo chính sách hiện hành của Công ty. Chính sách có  
2 Tác giả có Biên bản gốc về những thông tin đưa ra trong bài báo.  
331  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
thể thay đổi theo tình hình thực tế và bên A sẽ thông báo bằng văn bản (bao gồm cả  
fax/email/tin nhắn SMS) đến bên B về sự thay đổi trước khi áp dụng 7 ngày.  
(iii) Phương thức thanh toán các khoản phí Grab sau khi đã trừ thuế thu nhập  
cá nhân và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) cho bên B: chuyển khoản vào tài  
khoản của bên B theo quy định/ thông báo tại chính sách hiện hành của Công ty.  
(iv) Hỗ trợ và điều phối cho bên B trong quá trình hoạt động nhận khách, đón  
khách.  
(v) Trang bị đồng phục cho bên B theo tiêu chuẩn của bên A để bên B sử dụng  
trong quá trình đón/nhận khách.  
(vi) Cung cấp kênh thông tin liên lạc để hỗ trợ bên B đón/nhận khách.  
Thứ hai, về quyền và nghĩa vụ của bên cung cấp dịch vụ và tiếp nhận đón  
khách:  
(i) Tiến hành thủ tục đăng kí tham gia vào hệ thống GrabBike và nộp các giấy  
tờ cần thiết theo quy định của hệ thống GrabBike. Trong thời gian hoạt động, bên  
B sẽ bật ứng dụng và bấm nhận toàn bộ cuốc xe hiển thị trên màn hình ứng dụng  
để tiếp nhận khách hàng nếu thắng cuốc.  
(ii) Đồng ý khấu trừ 20% trên giá trị mỗi cuốc xe hoàn thành. Số % khấu trừ  
cụ thể sẽ tùy thuộc vào từng thời điểm theo chính sách của bên A được công bố  
trước khi áp dụng 7 ngày.  
(iii) Tuân thủ theo sự điều động của bên A đến những khu vực có khách đặt  
xe để đón khách kịp thời.  
(iv) Phải thông báo trực tiếp cho bên A tại văn phòng của bên A trước 1 ngày  
trong trường hợp bên B có việc bận phải tạm ngưng hoạt động.  
(v) Trong thời gian thực hiện và khi chấm dứt thỏa thuận, bên B cam kết giữ  
bí mật và không tiết lộ bất kì các thông tin, tài liệu nào cho bên thứ ba nếu không  
được bên A chấp nhận.  
(vi) Đồng ý cho bên A giữ lại khoản tiền nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân và  
các nghĩa vụ tài chính khác phải nộp (nếu có) theo quy định pháp luật hiện hành để  
nộp thay cho bên B vào kho bạc.  
Bên cạnh đó, một số điều khoản chế tài do bên A áp đặt vào bên B như: quyền  
đơn phương chấm dứt hợp tác của bên A trong một số trường hợp khi bên B vi  
phạm; quyền tạm khóa tài khoản của bên B trong trường hợp phí duy trì của bên B  
còn 0 đồng; cắt các khoản phí phát triển Grab.  
3.2. Quan điểm của Grab  
Trong phiên xét xử sơ thẩm tranh chấp đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp  
đồng giữa Vinasun và Grab Việt Nam, người đại diện cho Công ty Grab Việt Nam  
332  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
khẳng định rằng Grab đang hoạt động với tư cách là nhà cung cấp ứng dụng kết nối,  
dịch vụ sàn giao dịch thương mại điện tử trên nền tảng thiết bị điện thoại di động.  
Điều này có nghĩa, Grab/Uber chỉ phải tuân thủ các quy định về hoạt động kinh  
doanh thương mại và thương mại điện tử.  
3.3. Hoạt động của Grab dưới góc nhìn khoa học pháp lí  
Trong bài báo khoa học đã được công bố gần đây, tác giả này đã nêu tranh  
chấp giữa Hiệp hội taxi ở Barcelona (Tây Ban Nha) với Uber system Spain, phân  
tích phán quyết của Tòa Công lí châu Âu, liên hệ với dịch vụ Uber tại Việt Nam và  
kết luận: ‘không thể xem Uber là bên cung ứng dịch vụ công nghệ thuần túy (như  
Uber luôn tuyên bố), cũng không thể xem Uber là doanh nghiệp kinh doanh dịch  
vụ vận tải. Để điều chỉnh quan hệ này, cần có khuôn khổ pháp lí mới’ [5].  
Tất nhiên, tác giả trên đã không dựa vào sự kiện pháp lí làm phát sinh quan  
hệ pháp luật giữa Uber và chủ phương tiện tham gia.  
Theo tác giả, có mấy vấn đề đặt ra từ thực tiễn hoạt động của Grab qua Biên  
bản thỏa thuận hợp tác (về việc tiếp nhận và đưa đón khách hàng của dịch vụ  
GrabBike) như sau:  
Thứ nhất, nếu chúng ta chấp nhận mối quan hệ giữa Grab và chủ phương tiện  
là quan hệ hợp tác thì các bên phải tuân thủ các quy định pháp luật theo Bộ luật Dân  
sự năm 2015. Điều đó có nghĩa là, ý chí của các bên phải được thể hiện bằng hợp  
đồng hợp tác theo Điều 504 của Bộ luật Dân sự.  
Tuy nhiên, nội dung của Biên bản thỏa thuận lại không liên quan gì đến việc  
cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện công việc nhất định, cùng hưởng lợi  
và cùng chịu trách nhiệm – bản chất của hợp đồng hợp tác. Hay nói cách khác, tên  
gọi và nội dung công việc không phản ảnh đúng bản chất của mối quan hệ mà các  
bên hướng đến.  
Thứ hai, nếu không phải là quan hệ hợp tác thì đó là quan hệ gì? Theo tác giả,  
đó chính là mối quan hệ thuê lao động và phương tiện của người lao động để thực  
hiện dịch vụ vận tải của Grab theo giá do Grab ấn định và người lao động được  
hưởng một khoản tiền nhất định sau khi nộp “phí phát triển Grab” cũng như thuế  
thu nhập cá nhân phát sinh và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có). Hay nói cách  
khác, đó là quan hệ lao động.  
2.4. Hoạt động của Grab dưới góc nhìn của các cơ quan tiến hành tố tụng  
Việt Nam  
Cũng liên quan đến vụ kiện giữa Vinasun và Grab, các cơ quan tiến hành tố  
tụng tại TP. Hồ Chí Minh đã đưa ra những quan điểm như sau:  
Thứ nhất, khi nêu quan điểm tại phiên tòa ngày 28/12/2018, đại diện Viện  
Kiểm sát nhân dân TP. Hồ Chí Minh khẳng định có đủ cơ sở xác định Grab là chủ  
doanh nghiệp thực thụ trong việc kinh doanh vận tải hành khách bằng taxi, cụ thể:  
333  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
(i) Theo Quyết định 24/QĐ-BGTVT ngày 07/01/2016 của Bộ Giao thông Vận  
tải Ban hành kế hoạch thí điểm triển khai ứng dụng khoa học công nghệ hỗ trợ quản  
lí và kết nối hoạt động vận tải hành khách theo hợp đồng, Grab là đơn vị cung ứng  
phần mềm cho đơn vị kinh doanh vận tải nhưng trong thực tế hoạt động và qua quá  
trình xét hỏi, tranh luận tại tòa, Grab không đơn thuần là đơn vị kết nối, bán phần  
mềm do Grab lợi dụng Quyết định 24/QĐ-BGTVT của Bộ Giao thông Vận tải để  
điều hành trọn vẹn một quy trình kinh doanh vận tải taxi, tương tự Vinasun.  
(ii) Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh lần đầu (đã thay đổi lần thứ 6 ngày  
23/5/2018) và cổng thông tin đăng kí doanh nghiệp quốc gia, cũng như trong điều  
lệ của Grab đều thể hiện ngành nghề đăng kí kinh doanh của doanh nghiệp này là  
‘vận tải hành khách đường bộ trong nội thành, ngoại thành (trừ xe buýt)’.  
(iii) Trên cơ sở đó, Grab đã lợi dụng việc thí điểm, trực tiếp kinh doanh, trực  
tiếp điều hành xe, chỉ định tài xế đón khách, quyết định giá cước và điều chỉnh tăng  
giảm giá cước, thu tiền trực tiếp từ khách hàng thông qua thẻ tín dụng, tổ chức thực  
hiện các chương trình khuyến mại, trực tiếp nhận hồ sơ đăng kí tham gia chương  
trình Grab của tài xế, ban hành các quy định thưởng phạt tài xế, kết nối với ngân  
hàng để giúp tài xế vay 90% giá trị xe và mua bảo hiểm tai nạn tự nguyện cho hành  
khách và tài xế.  
Như vậy, từ cơ sở pháp lí và thực tế hoạt động kinh doanh trên thị trường vận  
tải của Grab, Viện Kiểm sát đã kết luận, có đủ cơ sở để xác định Grab là doanh  
nghiệp kinh doanh vận tải taxi [6].  
Thứ hai, quan điểm của Hội đồng xét xử (HĐXX) vụ tranh chấp trên vào ngày  
28/12/2018 thể hiện ở các nội dung sau:  
(i) HĐXX cho rằng nếu Grab là đơn vị cung ứng dịch vụ kết nối thì không có  
lí do gì Grab đứng ra mua bảo hiểm cho lái xe. HĐXX có chất vấn Grab về mức  
chiết khấu về quãng đường khác nhau trong khi cùng một điều kiện nhưng Grab  
không trả lời được. Điều này cho thấy, Grab chủ động điều chỉnh mức chiết khấu.  
Giao dịch của Grab không phải là hợp đồng điện tử như Grab nói, bởi vì không có  
điều khoản cơ bản, quyền nghĩa vụ của hai bên, chữ kí của các chủ thể, không có  
phương thức giải quyết tranh chấp.  
(ii) Từ nội dung trên cho thấy, việc Grab cho rằng Công ty này chỉ hoạt động  
cung ứng phần mềm là không có cơ sở chấp nhận. Hoạt động Grab đã và đang thực  
hiện là hoạt động kinh doanh vận tải taxi [7].  
4.  
QUAN ĐIỂM CỦA TÒA CÔNG LÍ CHÂU ÂU ĐỐI VỚI VỤ VIỆC  
TƯƠNG TỰ  
Năm 2014, một nhóm doanh nghiệp taxi có tên Elite Taxi ở Barcelona (Tây  
Ban Nha) đã khởi kiện và yêu cầu tòa án thành phố đưa ra các lệnh trừng phạt đối  
với hoạt động của Uber. Hiệp hội cho rằng Uber đã cạnh tranh không lành mạnh  
khi cho phép những người chưa có giấy phép lái xe được chở hành khách thông qua  
334  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
ứng dụng UberPop. Vụ việc sau đó được chuyển tới ECJ – Tòa án cao nhất của  
Liên minh châu Âu để giải quyết.  
Ngày 20/12/2017, Tòa án Công lí châu Âu (ECJ) của Liên minh châu Âu ra  
phán quyết hãng cung cấp dịch vụ gọi xe Uber là doanh nghiệp vận tải hành khách,  
chứ không phải là công ti công nghệ và phải tuân thủ các quy định trong ngành vận  
tải như các hãng taxi truyền thống [8].  
Nếu đã công nhận Uber là doanh nghiệp vận tải hành khách thì mối quan hệ  
giữa doanh nghiệp với tài xế làm việc cho doanh nghiệp phải là quan hệ lao động.  
Và như vậy, Grab – doanh nghiệp đang hoạt động tương tự như trường hợp Uber  
nói trên ở Việt Nam cần được nhìn nhận lại bản chất của mối quan hệ giữa các bên  
như tác giả đã trình bày nội dung ở mục 2.3. của bài viết này.  
5.  
KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN KHÁI NIỆM VỀ QUAN HỆ LAO ĐỘNG  
VÀ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG  
Trên cơ sở phân tích bản chất của hoạt động Grab như đã nêu trên với các góc  
nhìn khác nhau: khoa học pháp lí, các cơ quan tiến hành tố tụng trong nước cũng  
như của ECJ, vấn đề đặt ra là cần thiết phải sửa đổi, bổ sung pháp luật lao động  
hiện hành và các quy định có liên quan sao cho phù hợp với thực tế của ‘quan hệ  
lao động mới trong thời kì công nghiệp 4.0’. Theo tác giả, trước hết cần sửa đổi một  
số nội dung sau:  
Thứ nhất, cần xem lại cách giải thích về quan hệ lao động như trong BLLĐ  
năm 2019: ‘Quan hệ lao động là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử  
dụng lao động, trả lương giữa người lao động, người sử dụng lao động, các tổ chức  
đại diện của các bên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quan hệ lao động bao gồm  
quan hệ lao động cá nhân và quan hệ lao động tập thể’. Tác giả đề nghị sửa đổi, bổ  
sung nội dung này như sau:  
Quan hệ lao động là những quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn,  
sử dụng lao động, trả lương hoặc hợp tác dịch vụ có phân phối thu nhập khi thực  
hiện dịch vụ giữa người lao động và người sử dụng lao động hoặc các bên trong  
quan hệ hợp tác dịch vụ trên cơ sở ý chí của các bên.  
Cách giải thích này không những sẽ phù hợp với bản chất của dịch vụ  
GrabTaxi, GabBike mà còn đối với quan hệ gia công phần mềm, cho thuê nhân  
công (robot) cũng là đối tượng điều chỉnh bởi pháp luật lao động.  
Và như vậy, mối quan hệ giữa Grab và tài xế không chỉ dừng ở quan hệ tiếp  
nhận và đưa đón khách hàng thông qua dịch vụ Grab, mà còn là quan hệ giữa người  
sử dụng lao động và người lao động. Do vậy, các bên phải thực hiện các quyền và  
nghĩa vụ pháp lí theo quy định pháp luật lao động.  
Tuy nhiên, kinh nghiệm lập pháp cho thấy rằng, không phải cứ chúng ta cho  
rằng, có lợi cho người lao động là được sự đồng thuận của xã hội, như nội dung  
335  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, người lao động không được nhận bảo  
hiểm xã hội một lần sau một năm nghỉ việc nếu không tiếp tục đóng bảo hiểm xã  
hội và có yêu cầu nhận bảo hiểm xã hội một lần mà chưa đủ 20 năm đóng bảo hiểm  
xã hội. Quy định này, sau đó đã gây bức xúc trong đông đảo người lao động vì  
quyền lợi của họ bị hạn chế. Sau đó, Quốc hội thông qua Nghị quyết về việc sửa  
quy định tại Điều 60 của Luật này, theo hướng cho người lao động được nhận bảo  
hiểm xã hội một lần [9].  
Thứ hai, một khi đã thay đổi cách giải thích về quan hệ lao động như đã đề  
xuất nêu trên, hàng loạt khái niệm, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể cũng cần phải  
được sửa đổi, bổ sung sao cho tương thích như người lao động, người sử dụng lao  
động, căn cứ để tính toán nghĩa vụ của các bên theo quy định pháp luật.  
Thứ ba, dù có thế nào, hoạt động Grab như “làn gió mới công nghệ thổi vào  
hoạt động vận tải”, tạo việc làm cho nhiều người lao động và khách hàng có điều  
kiện tiếp cận dịch vụ vận tải với giá cả phù hợp, minh bạch và tiện lợi trong việc  
đặt dịch vụ bằng cách sử dụng phần mềm của Grab. Grab đã “buộc” cả người tham  
gia phương tiện hoạt động cho Grab và cả khách hàng phải sử dụng công nghệ.  
Vấn đề đặt ra là, các nhà xây dựng pháp luật cần thiết phải lượng hóa, đánh  
giá tác động của việc sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật như đã đề xuất đối với  
các bên trong quan hệ lao động, việc quản lí của nhà nước cũng như các tổ chức  
hữu quan, của cả xã hội để có lộ trình thực hiện sao cho phù hợp với yêu cầu đặt ra.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Nguyễn Xuân Thu. Tổng quan về quan hệ lao động. Kỉ yếu Ngày Nhân sự Việt  
QUAN-VE-QUAN-HE-LAO-DONG-11198/ [Ngày truy cập: 25/11/2020].  
[2] Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam. Bộ luật Lao động; 1994.  
[3] Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam. Bộ luật Lao động; 2012.  
[4] Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam. Bộ luật Lao động; 2019.  
[5] Dư Ngọc Bích. Phán quyết của Tòa Công lí Châu Âu về dịch vụ Uber: Liên hệ  
với Việt Nam. Tạp chí Nhà nước và Pháp luật. 2018;4.  
[6] Anh Hào. Toàn cảnh vụ kiện Vinasun và Grab: Nguyên nhân, diễn biến, ngày  
phán quyết. 2018. Truy cập từ http://soha.vn/toan-canh-vu-kien-vinasun-va-  
[Ngày truy cập: 13/11/2020].  
[7] Hoài Thanh. Tòa yêu cầu Grab bồi thường 4,8 tỷ cho Vinasun. 2018. Truy cập  
từ  
post904089.html [Ngày truy cập: 26/11/2020].  
336  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
[8] Mark Scott. Uber is a transportation company, Europe’s highest court rules.  
2018. Truy cập từ https://www.politico.eu/article/uber-ecj-ruling/ [Ngày truy  
cập: 25/12/2019].  
[9] Báo Người lao động điện tử. Cần sửa Luật Bảo hiểm xã hội. 2017. Truy cập từ  
20171104202251107.htm [Ngày truy cập: 12/11/2020].  
337  
pdf 9 trang Thùy Anh 14220 Free
Bạn đang xem tài liệu "Quan hệ lao động dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0: Nhìn từ biên bản thỏa thuận hợp tác của Grab", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfquan_he_lao_dong_duoi_tac_dong_cua_cuoc_cach_mang_cong_nghie.pdf