Nghiên cứu hành vi phạm tội và vi phạm pháp luật trong thanh, thiếu niên ở tỉnh Quảng Ngãi

KỶ YẾU NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2016 - 2020  
NGHIÊN CỨU HÀNH VI PHẠM TỘI VÀ VI PHẠM  
PHÁP LUẬT TRONG THANH, THIẾU NIÊN  
Ở TỈNH QUẢNG NGÃI  
Chủ nhiệm đề tài: Đại tá, TS. Trương Binh  
Chủ trì đề tài: Công An tỉnh  
Năm nghiệm thu: 2018  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Ở Quảng Ngãi trung bình hàng năm phát hiện, xử lý trên 950 vụ, 1.400 thanh, thiếu  
niên phạm tội, vi phạm pháp luật (VPPL); riêng hành vi về hình sự chiếm 76,74%% số vụ,  
77,91% số đối tượng; xuất hiện nhiều băng, nhóm có tổ chức chặt chẽ do thanh, thiếu niên  
cầm đầu, thực hiện cùng lúc nhiều hành vi phạm tội, VPPL. Các cơ quan chức năng đã triển  
khai nhiều biện pháp nhưng chưa mang lại hiệu quả cao, một số biện pháp có tác dụng ngược  
trở lại, chưa tạo thành thế trận ngăn ngừa từ sớm, từ xa, sự gắn kết giữa các chủ thể phối hợp  
để quản lý, giáo dục thanh, thiếu niên chưa chặt chẽ. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật  
về phòng ngừa thanh, thiếu niên phạm tội, VPPL còn bất cập; một số quy phạm đã lạc hậu,  
hạn chế, chồng chéo, thiếu sự nhất quán, không còn phù hợp. Vì lẽ đó, việc nghiên cứu Đề  
tài khoa học: “Nghiên cứu hành vi phạm tội và VPPL trong thanh, thiếu niên ở tỉnh Quảng  
Ngãi” là hết sức cấp thiết trong giai đoạn hiện nay; đồng thời có ý nghĩa lý luận, thực tiễn,  
mang tính nhân văn và thời sự sâu sắc nhằm chủ động phòng ngừa, phát hiện, điều tra, xử  
lý, kiềm chế sự gia tăng và giảm dần tỷ lệ thanh, thiếu niên phạm tội, VPPL, góp phần phục  
vụ tốt hơn các yêu cầu chính trị, kinh tế, xã hội của tỉnh trong giai đoạn mới  
II. MỤC TIÊU  
Tổng quan tình hình nghiên cứu và lý luận về hành vi phạm tội, VPPL trong thanh,  
thiếu niên; thực trạng tình hình và hoạt động phòng ngừa, ngăn chặn thanh, thiếu niên phạm  
tội, VPPL ở tỉnh Quảng Ngãi. Dự báo và đề xuất các giải pháp phòng ngừa hiệu quả hành vi  
phạm tội, VPPL trong thanh, thiếu niên.  
III. KẾT QUẢ THỰC HIỆN  
1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và lý luận về hành vi phạm tội, vi phạm pháp  
luật trong thanh, thiếu niên  
Đề tài đã tập trung nghiên cứu làm rõ lý luận chung về hành vi phạm tội, VPPL trong  
thanh, thiếu niên, qua nghiên cứu có thể khẳng định:  
Thanh, thiếu niên là lớp người trẻ tuổi, chuyển tiếp từ giai đoạn trẻ con sang người  
trưởng thành, mỗi lứa tuổi khác nhau có những đặc điểm tâm, sinh lý khác nhau nhưng đặc  
điểm tâm, sinh lý cơ bản nhất của lứa tuổi thanh, thiếu niên là dễ bắt chước và dễ sa ngã  
trong điều kiện môi trường xã hội ngày càng phức tạp. Đề tài đã tiếp cận tổng quan 09 công  
trình nghiên cứu ngoài nước, 07 công trình nghiên cứu trong nước có giá trị tham khảo và  
vận dụng ở địa phương; phân tích và đưa ra một số vấn đề lý luận cơ bản có liên quan, đó  
là: Thế nào là thanh, thiếu niên, đặc điểm tâm, sinh lý của đối tượng này; khái niệm hành  
vi phạm tội, VPPL trong thanh, thiếu niên; khái niệm và các loại hành vi nguy cơ phạm tội,  
VPPL trong thanh, thiếu niên; khái niệm và nội dung nghiên cứu hành vi phạm tội, VPPL  
trong thanh, thiếu niên tập trung vào đánh giá diễn biến tình hình, các nhóm hành vi, đặc  
283  
LĨNH VỰC KHOA HỌC XÃ HỘI - NHÂN VĂN  
KỶ YẾU NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2016 - 2020  
điểm nhân thân; hoạt động phòng ngừa, ngăn chặn hành vi phạm tội, VPPL trong thanh,  
thiếu niên.  
Căn cứ vào các quy định hiện hành, đề tài cũng đã đưa ra các cơ sở chính trị, pháp lý  
để triển khai các biện pháp phòng ngừa thanh, thiếu niên phạm tội, VPPLvừa phải đảm bảo  
yêu cầu chính trị, pháp luật nhưng phải thể hiện tính nhân đạo, nhân văn sâu sắc nhằm giáo  
dục, rèn luyện thế hệ cách mạng cho đời sau. Đề tài đã phân tích vai trò, chức năng, nhiệm  
vụ của lực lượng CAND và các cơ quan, đoàn thể tham gia phòng ngừa tội phạm, VPPL  
trong thanh, thiếu niên.  
2. Thực trạng hoạt động phòng ngừa hành vi phạm tội, vi phạm pháp luật trong  
thanh, thiếu niên ở tỉnh Quảng Ngãi  
Quảng Ngãi có dân số khoảng 1,4 triệu người, thanh, thiếu niên chiếm khoảng 28%.  
2.1. Tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật trong thanh, thiếu niên ở tỉnh Quảng  
Ngãi  
2.1.1. Diễn biến tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật trong thanh, thiếu niên ở tỉnh  
Quảng Ngãi  
Phát hiện 4.068 vụ - 7.232 thanh, thiếu niên phạm tội, VPPL. Riêng tội phạm, VPPL về  
hình sự 3.125/4.072 vụ - 5.993/7.693 đối tượng (chiếm 76,74% số vụ, 77,91% số đối tượng).  
Điều tra xã hội học 72,79% ý kiến chọn mức độ phạm tội, VPPL là báo động trở lên. Trong  
đó, thanh, thiếu niên tham gia các hoạt động có liên quan đến ANQG ngày càng nhiều. Hành  
vi về hình sự, ma túy, môi trường, tham nhũng và chức vụ đều tăng; hành vi về kinh tế và  
tham gia giao thông đường bộ giảm. Giảm vào ban ngày, địa bàn nông thôn đồng bằng; tăng  
vào ban đêm và địa bàn đô thị. Thiệt hại về người chết giảm, tăng người bị thương. Hành  
vi rất nghiêm trọng giảm; các hành vi còn lại đều tăng. Số vụ có tính chất đồng phạm tăng.  
Công cụ, phương tiện phạm tội, VPPL chuyển từ thô sơ đến sử dụng vũ khí nóng, xe ô tô,  
mạng xã hội.  
2.1.2. Phân loại nhóm hành vi phạm tội, vi phạm pháp luật trong thanh, thiếu niên ở  
tỉnh Quảng Ngãi  
Thứ nhất, đã phát hiện 01 vụ phạm tội Tuyên truyền nhằm chống chính quyền nhân  
dân; xuất hiện nhiều hành vi liên quan đến ANQG như: Tham gia các tổ chức phản động ở  
nước ngoài hoặc thành lập các hội, nhóm trái phép “kín” trên mạng xã hội tập; tích cực bình  
luận, gửi tin nhắn, chia sẻ thông tin phản động, kích động bạo lực, bôi nhọ người khác; tham  
gia các vụ khiếu nại, khiếu kiện đông người; có ý thức chính trị, quan điểm lệch lạc.  
Thứ hai, hành vi phạm tội và VPPL về hình sự chiếm 55,08% số vụ, 67,28% đối tượng  
phạm tội và VPPL do thanh, thiếu niên gây ra, tập trung là các hành vi giết người (50%  
thanh, thiếu niên thực hiện hành vi này) chiếm 0,13% vụ - 0,15% đối tượng phạm tội; cố  
ý gây thương tích, chiếm 22,4% vụ - 18% đối tượng phạm; hiếp dâm (do thanh, thiếu niên  
100% thực hiện), chiếm 0,46% vụ - 0,32% đối tượng phạm tội; dâm ô với người dưới 16  
tuổi (do 100% thanh, thiếu niên thực hiện), chiếm 0,13% vụ - 0,08% đối tượng phạm tội;  
trộm cắp tài sản chiếm 38,72% vụ - 31,97% đối tượng phạm tội; cướp tài sản chiếm 1,87%  
vụ - 2,63% đối tượng phạm tội; gây rối trật tự công cộng chiếm 1,87% vụ - 2,63% đối tượng  
phạm tội; chống người thi hành công vụ chiếm 0,72% vụ - 0,83% đối tượng phạm tội; đánh  
bạc chiếm 11,46% vụ - 19,57% đối tượng phạm tội...  
Thứ ba, hành vi phạm tội và VPPL về kinh tế chiếm tỷ lệ thấp trong tổng số hành vi  
284  
LĨNH VỰC KHOA HỌC XÃ HỘI - NHÂN VĂN  
KỶ YẾU NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2016 - 2020  
phạm tội và VPPL do thanh, thiếu niên thực hiện (1,92% vụ - 2,94% đối tượng).  
Thứ tư, hành vi phạm tội và VPPL về tham nhũng và chức vụ chiếm 12% vụ, 7,89% đối  
tượng trong tổng số tội phạm, VPPL do thanh, thiếu niên thực hiện.  
Thứ năm, hành vi phạm tội và VPPL về môi trường chiếm 4,19% số vụ - 5,28% số đối  
tượng trong tổng số tội phạm, VPPL do thanh, thiếu niên thực hiện.  
Thứ sáu, hành vi phạm tội và VPPL về ma túy chiếm 91,29% số vụ - 92,72% số đối  
tượng trong tổng số tội phạm, VPPL do thanh, thiếu niên thực hiện.  
Thứ bảy, hành vi phạm tội và VPPL về lợi dụng công nghệ cao có hơn 95% thanh, thiếu  
niên thực hiện.  
Thứ tám, hành vi phạm tội và VPPL về trật tự an toàn giao thông: Thanh, thiếu niên gây  
ra các vụ tai nạn giao thông chiếm 60,84% số vụ và đối tượng; thực hiện hành vi vi khác vi  
phạm quy tắc tham gia giao thông đường bộ chiếm 25,51% tổng số phát hiện, xử lý.  
Thứ chín, hành vi VPPL về dân sự, kinh tế và các hành vi khác chiếm tỷ lệ không đáng  
kể, vai trò thứ yếu.  
2.1.3. Đặc điểm nhân thân của thanh, thiếu niên thực hiện tội phạm, vi phạm pháp luật  
ở tỉnh Quảng Ngãi  
Thứ nhất, nhóm đặc điểm xã hội – nhân khẩu:  
- Nam giới chiếm 92,85%, nữ chiếm 7,15% và có xu hướng tăng.  
- Độ tuổi trung bình của thanh, thiếu niên phạm tội, VPPL là 22,32; 59% phạm pháp lần  
đầu dưới 18 tuổi với lỗi cố ý nhiều hơn vô ý (44% cố ý, 27,33% vô ý). Độ tuổi phạm pháp từ  
14 đến dưới 16 chiếm 1,54%; Từ 16 đến dưới 18 chiếm 18,5%; Từ 18 đến 30 chiếm 79,96%  
và lỗi cố ý gấp 2 lần lỗi vô ý.  
- Trình độ học vấn tiểu học 14,85%; trung học cơ sở 38,1%; trung học phổ thông  
38,31%, không biết chữ 2.59% và 5,79% có trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học trở lên.  
- Có nghề nghiệp chiếm 56,2%, không có nghề nghiệp chiếm 43,8%; nhóm phạm pháp  
về hình sự, ma túy không nghề nghiệp 64,64%.  
- Cán bộ, công chức, viên chức 0,07% (trong đó Đảng viên chiếm 0,03%), học sinh,  
sinh viên 9,79%, dân thường 78,9%, thành phần khác 12,01%; cán bộ, công chức, viên chức,  
học sinh, sinh viên có xu hướng tăng  
- Thành phần xuất thân có 65% bố mẹ làm nghề nông; 01% lãnh đạo các cấp, các  
ngành, 5,66% cán bộ, công chức, viên chức.  
- Về dân tộc có 88% dân tộc Kinh; 90,33% không theo tôn giáo.  
- Nơi cư trú: 53,3% cư trú ở nông thôn đồng bằng, khu vực thành thị 23,33%; nông thôn  
miền núi 20,67%.  
- Hoàn cảnh gia đình: 11,34% gia đình có kinh tế khá giả, 62,9% gia đình có kinh tế ở  
mức trung bình trở xuống; ở các huyện miền núi trên 90% gia đình kinh tế khó khăn; 14%  
gia đình không hạnh phúc.  
Thứ hai, nhóm đặc điểm về đạo đức - tâm lý: 81% muốn trở thành người có ích cho xã  
hội, sống tử tế, cải tạo tốt và trở về cộng đồng làm người lương thiện; 59% sợ bị xử lý bằng  
pháp luật sẽ ảnh hưởng đến việc học hành, sự nghiệp trong tương lai; 10,3% sợ xấu hổ với  
285  
LĨNH VỰC KHOA HỌC XÃ HỘI - NHÂN VĂN  
KỶ YẾU NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2016 - 2020  
bạn bè; 15,34% cảm thấy lo lắng cho bố mẹ, người thân mình và 3,3% sợ bị trả thù; 9,67%  
cho rằng sau phạm tội, VPPL là bình thường; 2,33% cho rằng đã làm một việc “anh hùng”;  
khi được hỏi nếu có điều kiện phạm pháp thì 48% khẳng định có thể thực hiện, trong đó có  
9,33% ý kiến sẵn sàng phạm tội; 0,86% muốn trở lại con đường phạm tội, VPPL.  
Thứ ba, nhóm dấu hiệu pháp luật hình sự:  
- Mức độ phạm tội, VPPL của thanh, thiếu niên chia thành (1) nhóm nhất thời; (2) nhóm  
có hệ thống (thường xuyên) thì quá trình vi phạm thường kéo dài và chia thành 03 cấp độ:  
“rụt rè, thăm dò”; “mạnh dạn”; “dữ dội”. Động cơ, mục đích phạm tội, VPPL của thanh,  
thiếu niên: Mong muốn thỏa mãn nhu cầu vật chất bình thường; Thỏa mãn tính tò mò, thích  
mạo hiểm; Thỏa mãn nhu cầu đề cao vai trò của bản thân trước các nhóm tập thể, bạn bè,  
vươn lên để tự lập; Thực hiện theo các động cơ chung của tội phạm.  
- Đồng phạm chủ yếu giản đơn, song đã có sự chuyển dịch từ vai trò thứ yếu trở thành  
cầm đầu, chủ mưu trong các băng, nhóm của thanh, thiếu niên (80,4); 69,15% chưa có tiền  
án, tiền sự; 30,85% đã có tiền án, tiền sự.  
2.1.4. Nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội, vi phạm pháp luật trong thanh, thiếu  
niên ở tỉnh Quảng Ngãi  
Thứ nhất, nguyên nhân do chính bản thân thanh, thiếu niên: Chưa được giáo dục ý thức  
chấp hành pháp luật; sẵn sàng phạm pháp trở lại;  
Thứ hai, nguyên nhân từ tác động của nhóm bạn: Do bạn bè rủ rê, lôi kéo, bị ép buộc,  
bị mua chuộc;  
Thứ ba, nguyên nhân từ phía gia đình: Bố mẹ ít quan tâm đến sự thay đổi tâm sinh lý,  
quan hệ bạn bè, việc học tập hàng ngày; gia đình có mức sống thấp, kinh tế khó khăn; bố  
mẹ, anh chị em ruột đã từng phạm tội, có hành vi bạo lực, không hòa thuận. Tình trạng ly  
hôn trong giới trẻ… là những yếu tố tác động đến hành vi phạm pháp trong thanh, thiếu niên;  
đáng chú ý có 8,7% thanh, thiếu niên phạm pháp có gia đình khá giả.  
Thứ tư, nguyên nhân từ phía nhà trường: Nhà trường giáo dục chưa đúng phương pháp,  
tạo ra sự bất công, môi trường giáo dục thiếu an toàn, thân thiện. Tình trạng bạo lực học  
đường và VPPL trong các cơ sở giáo dục tăng (Năm 2017 tăng 81,4% số vụ, 103,3% đối  
tượng so với năm 2013); giảm ở bậc trung học phổ thông (-28,9%), tăng ở bậc trung học cơ  
sở (155,6%) và số học sinh nữ tham gia tăng gấp 5 lần.  
Thứ năm, nguyên nhân từ tác động của môi trường xã hội: Môi trường xã hội đang ẩn  
chứa nhiều yếu tố phức tạp, pháp luật chưa nghiêm, người lớn không làm gương; thanh niên  
VPPL thất nghiệp và chưa có công việc ổn định.  
Tóm lại, có nhiều yếu tố tác động đến hành vi phạm tội, VPPL của thanh, thiếu niên,  
nhưng yếu tố chính bản thân họ vẫn là phổ biến nhất, ngoài ra một số yếu tố như: tác động  
của Internet, vai trò giáo dục, quản lý của gia đình, nhà trường cũng quyết định đến hành vi  
phạm tội, VPPL trong thanh, thiếu niên, đặc biệt là sự nêu gương sáng của người lớn.  
2.2. Hành vi nguy cơ phạm tội, vi phạm pháp luật trong thanh, thiếu niên ở tỉnh  
Quảng Ngãi  
2.2.1. Nhóm hành vi gây tổn hại về thể chất, tinh thần  
Thanh, thiếu niên ít quan tâm đến các hoạt động bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, giải trí  
lành mạnh trong lúc rảnh rỗi (69,99% hiếm khi luyện tập thể dục, thể thao); 62% rất thường  
286  
LĨNH VỰC KHOA HỌC XÃ HỘI - NHÂN VĂN  
KỶ YẾU NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2016 - 2020  
xuyên chơi trò chơi điện tử; 6,33% thích xem phim bạo lực, khiêu dâm. Trước khi phạm tội  
thường có các hoạt động mạo hiểm, bạo lực, tự gây tổn tại đến sức khỏe bản thân, tự hủy  
hoại bộ phận cơ thể; 31,7% xăm hình trên cơ thể không bình thường. Trong khi phạm tội,  
VPPL có 80,6% sử dụng chất kích thích, phổ biến nhất là bia, rượu, đặc biệt có 6,67% đã sử  
dụng ma túy, có trường hợp mới 12 tuổi bị gia đình ngăn không cho dùng rượu bia đã giết  
cha ruột. Tình trạng tảo hôn vừa là hành vi phạm pháp nhưng cũng gây ra các hành vi phạm  
pháp khác nghiêm trọng hơn.  
2.2.2. Nhóm hành vi thái quá về kinh tế, quan hệ bạn bè  
Hàng hóa nguy hiểm, thuộc danh mục cấm dễ tìm, dễ mua trên thị trường, khi chiếm  
đoạt được dễ tiêu thụ; trên các trang mạng xã hội rao bán, hướng dẫn chế tạo công khai vũ  
khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ. Tiêu xài cá nhân quá mức, ăn chơi vô độ, trác táng dễ dẫn  
đến phạm tội. Qua hệ bạn bè, yêu đương mù quáng, thái quá cũng là nguyên nhân phạm tội.  
2.2.3. Nhóm hành vi tác động đến xã hội  
Khảo sát có 69% nói dối; 35,33% quậy quá đồ đạc, trêu chọc người khác; 13,33% đánh  
đập chửi mắng người thân, thậm chí là cha mẹ, người nuôi dưỡng; 40,33% thừa nhận đã  
từng phạm pháp nhưng chưa bị xử lý; 26,6% thường mang theo các loại hung khí bên mình  
để phòng vệ. Ngày nay giới trẻ sống thờ ơ, lãnh đạm với xã hội, không có tình thương, trách  
nhiệm giữa con người và con người với nhau cũng là một trong những hành vi nguy cơ dẫn  
đến phạm pháp.  
2.2.4. Nhóm hành vi “nghiện” game, mạng xã hội  
Khảo sát có 96,5% thanh, thiếu niên là “tín đồ” của Internet, chủ yếu là tán gẫu (chat)  
và game online (71,67%). Nhiều vụ trộm cắp, cướp, cướp giật tài sản do thanh, thiếu niên  
thực hiện để lấy tiền chơi game; giết người máu lạnh, giết nhiều người do hội chứng “ảo” từ  
các trò chơi điện tử kiếm hiệp nhập vai.  
2.3. Hoạt động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, vi phạm pháp luật trong thanh,  
thiếu niên ở tỉnh Quảng Ngãi  
2.3.1. Sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước đối với công tác thanh, thiếu  
niên và phòng, chống thanh, thiếu niên phạm tội, vi phạm pháp luật  
Tỉnh ủy đã ban hành 14 chỉ thị, 03 chương trình hành động; Hội đồng nhân dân tỉnh  
ban hành 02 nghị quyết; UBND tỉnh tiếp tục triển khai Chỉ thị 06 ngày 23/4/2009 về phòng  
ngừa, ngăn chặn tội phạm trong lứa tuổi thanh, thiếu niên; bạo lực gia đình và chống người  
thi hành công vụ; ban hành trên 100 văn bản chỉ đạo, điều hành... để tập trung lãnh đạo, chỉ  
đạo tạo môi trường văn hóa lành mạnh, giải quyết việc làm, thanh niên tham gia vào các vấn  
đề hệ trọng của địa phương; triển khai có hiệu quả chính sách, pháp luật của nhà nước về  
công tác thanh niên và PCTP, VPPL trong thanh, thiếu niên. Hàng năm giải quyết việc làm  
cho hơn 20.000 thanh niên. Tổ chức, bộ máy quản lý nhà nước về công tác thanh, thiếu niên  
ngày càng được hoàn thiện và phát huy hiệu quả. Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng  
trong quản lý nhà nước về công tác thanh, thiếu niên ngày càng được tăng cường.  
Kết quả khảo sát có 97,5% cấp, các ngành đã quan tâm tham mưu, kiến nghị cấp trên,  
88,5% cơ quan, đơn vị đã ban hành văn bản trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn, 98% đơn vị tổ  
chức kiểm tra, đôn đốc; 94,5% đơn vị đã quan tâm bố trí các nguồn lực để phục vụ công tác  
phòng ngừa, ngăn chặn tình trạng thanh, thiếu niên phạm tội, VPPL và tăng cường công tác  
quản lý nhà nước về thanh niên, thiếu niên, nhi đồng  
287  
LĨNH VỰC KHOA HỌC XÃ HỘI - NHÂN VĂN  
KỶ YẾU NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2016 - 2020  
2.3.2. Hoạt động tuyên truyền, giáo dục phát luật, đạo đức, lối sống, lý tưởng tốt đẹp  
cho thanh, thiếu niên  
Tổ chức triển khai, tập huấn, bồi dưỡng chuyên sâu và tuyên truyền, phổ biến các văn  
bản quy phạm pháp luật có liên quan đến phòng ngừa thanh, thiếu niên phạm pháp. Đã tập  
trung triển khai Đề án “Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao  
ý thức chấp hành cho thanh, thiếu niên”; quan tâm nhiều hơn công tác giáo dục lý tưởng  
cách mạng, đạo đức, lối sống cho thanh, thiếu niên với các nội dung, hình thức phong phú,  
đa dạng, tạo ra nhiều sân chơi bổ ích, thu hút đông đảo thanh, thiếu niên tham gia.  
2.3.3. Hoạt động tăng cường công tác gia đình, trường học, quản lý văn hóa - xã hội  
- Về công tác gia đình: Các ngành chức năng đã triển khai có hiệu quả 02 chỉ thị, 03  
kế hoạch và trên 10 văn bản khác về công tác gia đình, tập trung là triển khai Luật Phòng,  
chống bạo lực gia đình; Luật Bình đẳng giới; Luật Hôn nhân và gia đình; Chiến lược phát  
triển gia đình Việt Nam và các văn bản có liên quan đến công tác gia đình. Xử lý 54 vụ - 58  
đối tượng có hành vi bạo lực gia đình.  
- Về công tác trường học: Đã tập trung tham mưu, đề xuất, kiến nghị thực hiện có hiệu  
quả 02 quy chế, kế hoạch phối hợp về đảm bảo ANTT, trật tự an toàn giao thông học đường;  
ngành giáo dục xử lý tốt các kiến nghị về ANTT trong trường học. Tổ chức các diễn đàn học  
sinh, sinh viên sống đẹp, sống có ích, bảo đảm an ninh học đường.  
- Về quản lý văn hóa - xã hội: đã tập trung tham mưu thực hiện thắng lợi mục tiêu phát  
triển kinh tế nhanh, bền vững, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân, củng  
cố các thiết chế văn hóa - gia đình ngày càng hoàn thiện, đồng bộ với phát triển kinh tế. Xây  
dựng và đưa vào hoạt động có các trung tâm văn hóa, khu vui chơi, giải trí dành cho thanh,  
thiếu niên.  
2.3.4. Hoạt động tăng cường quản lý nhà nước về an ninh trật tự, chủ động áp dụng các  
biện pháp phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật trong thanh, thiếu niên  
Thứ nhất, sử dụng biện pháp quần chúng phòng ngừa tội phạm, VPPL trong thanh,  
thiếu niên. Xây dựng và duy trì hoạt động hiệu quả 296 mô hình PCTP, VPPL trong thanh,  
thiếu niên, có nhiều mô hình sáng tạo, hiệu quả như: “Khu dân cư 06 không”, “Cụm an toàn  
về ANTT”, “Câu lạc bộ thanh niên với pháp luật”, “Câu lạc bộ tuổi trẻ PCTP”, “Tuổi trẻ  
tham gia PCTP”… Đề tài triển khai thử nghiệm 02 mô hình “Quản lý, giáo dục thanh, thiếu  
niên phạm tội, VPPL” và “Phòng ngừa băng nhóm thanh, thiếu niên phạm tội, VPPL” bước  
đầu mang lại hiệu quả.  
Thứ hai, sử dụng biện pháp quản lý hành chính để phòng ngừa tội phạm, VPPL trong  
thanh, thiếu niên. Tập trung kiểm tra, kiểm danh, kiểm diện các cơ sở, địa bàn, phương tiện,  
thiết bị mà thanh, thiếu niên có thể lợi dụng để hoạt động phạm pháp.  
Thứ ba, sử dụng biện pháp vũ trang để phòng ngừa tội phạm, VPPL trong thanh, thiếu  
niên. Đã phối hợp nhiều lực lượng tuần tra, kiểm soát các địa bàn, tuyến trọng điểm, răn đe  
các loại đối tượng không dám liều lĩnh hoạt động phạm tội, nhất là các băng, nhóm thanh,  
thiếu niên phạm tội về hình sự, ma túy.  
Thứ tư, sử dụng biện pháp điều tra, trinh sát để phát hiện, ngăn chặn, xử lý thanh, thiếu  
niên phạm tội, VPPL. Tổ chức điều tra cơ bản hệ loại có liên quan trực tiếp đến thanh, thiếu  
niên; đưa vào diện quản lý nghiệp vụ 1.227 thanh, thiếu niên; xác lập 108 chuyên án về tội  
phạm, VPPL trong thanh, thiếu niên. Đã khởi tố, điều tra, đề nghị truy tố 4.048 vụ, 6.151  
288  
LĨNH VỰC KHOA HỌC XÃ HỘI - NHÂN VĂN  
KỶ YẾU NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2016 - 2020  
đối tượng thanh, thiếu niên phạm tội. Lập 115 hồ sơ đi trường giáo dưỡng; 121 hồ sơ thanh,  
thiếu niên đi cơ sở giáo dục; bắt và vận động đầu thú 407 đối tượng truy nã.  
Thứ năm, nâng cao chất lượng công tác truy tố, xét xử đối với thanh, thiếu niên phạm  
tội, VPPL. Đã kiểm sát chặt chẽ hoạt động tuân theo pháp luật; thực hiện đầy đủ quyền công  
tố đối với 306 bị can chưa đủ 18 tuổi bị khởi tố (chiếm 5,1% tổng số bị can đã khởi tố). Đã  
triển khai mô hình Tòa án gia đình và người chưa thành niên. Tòa án nhân dân tỉnh đã xét xử  
145 vụ - 235 người chưa đủ 18 tuổi phạm tội; 588 vụ - 845 người từ đủ 18 – 30 tuổi phạm  
tội. Kiểm sát viên, Thẩm phán tham gia truy tố, xét xử là những người am hiểu tâm lý tuổi  
trẻ, kết hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng để phân tích, giải thích pháp luật cho thanh,  
thiếu niên phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, VPPL xảy ra.  
Thứ sáu, sử dụng có hiệu quả công tác thi hành án, tái hòa nhập cộng đồng đối với  
thanh, thiếu niên phạm tội, VPPL. Đã tiếp nhận, phân công tổ chức, cá nhân quản lý, giáo  
dục, giúp đỡ: 1.023 thanh, thiếu niên chấp hành án về địa phương; giới thiệu giải quyết việc  
làm trên 60% số người trở về; ngăn chặn thanh, thiếu niên tái phạm dưới 5%.  
2.3.5. Nhận xét về hoạt động phòng ngừa tội phạm, vi phạm pháp luật trong thanh,  
thiếu niên ở tỉnh Quảng Ngãi  
2.3.5.1. Về ưu điểm  
Qua nghiên cứu cho thấy: Công tác tham mưu, chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động phòng  
ngừa, ngăn chặn thanh, thiếu niên phạm tội, VPPL toàn diện và bám sát yêu cầu, nhiệm vụ  
chính trị; chất lượng, số lượng tham mưu ban hành văn bản lãnh đạo, chỉ đạo công tác PCTP  
và quản lý nhà nước về thanh niên được nâng lên theo hướng cơ bản, toàn diện và lâu dài;  
đồng thời tùy theo điều kiện, tình hình cụ thể mà tham mưu, đề xuất các nhiệm vụ cụ thể,  
sát hợp. Các cấp, các ngành đã phối hợp chặt chẽ triển khai biện pháp phòng ngừa thanh,  
thiếu niên phạm tội, VPPL; chủ động triển khai đồng bộ, hiệu quả các biện pháp công tác,  
nhất là biện pháp công tác công an, quản lý nhà nước về thanh niên, phong trào đoàn, hội và  
công tác thanh, thiếu nhi, công tác tuyên truyền, giáo dục đạo đức, pháp luật, nhân cách để  
phòng ngừa tội phạm, VPPL. Hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đảm bảo theo  
đúng quy định của pháp luật. Tội phạm, VPPL tăng không đột biến, tỷ lệ điều tra, khám phá  
tội phạm đạt trên 80%; tỷ lệ tái phạm tội giảm dưới 5%; người dưới 18 tuổi phạm tội đang  
có chiều hướng giảm, tuyệt đối không để xảy ra oan, sai, xâm phạm hoạt động tư pháp trong  
điều tra, xử lý tội phạm đối với thanh, thiếu niên; các quyền và lợi ích hợp pháp của thanh,  
thiếu niên phạm pháp được thực hiện đầy đủ.  
2.3.5.2. Về hạn chế, thiếu sót  
Sự lãnh đạo, chỉ đạo công tác quản lý nhà nước về thanh niên và phòng ngừa tội phạm,  
VPPL trong thanh, thiếu niên chưa đồng bộ, chất lượng, hiệu quả chưa cao, sự quan tâm  
chưa đúng mức;  
Công tác phối hợp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, đạo đức, lối sống cho  
thanh, thiếu niên của các ngành, đoàn thể, các lực lượng từng lúc, từng nơi còn bị động, chưa  
thực chất, chưa có cơ chế thống nhất, nhịp nhàng;  
Công tác gia đình, trường học, quản lý văn hóa - xã hội còn nhiều bất cập, chưa tạo  
thành thế trận liên hoàn trong phòng ngừa, ngăn chặn thanh, thiếu niên phạm tội, VPPL;  
Công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự và hoạt động ngừa tội phạm, VPPL trong  
289  
LĨNH VỰC KHOA HỌC XÃ HỘI - NHÂN VĂN  
KỶ YẾU NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2016 - 2020  
thanh, thiếu niên vẫn còn một số hạn chế;  
2.3.5.3. Nguyên nhân của hạn chế, thiếu sót  
* Nguyên nhân khách quan:  
(1) Ảnh hưởng của lối sống thực dụng, các giá trị của gia đình, làng xã bị mai một, đạo  
đức xã hội dần bị xuống cấp; vai trò nêu gương của ông bà, cha, mẹ, giáo viên, người lớn  
tuổi... dần bị phai nhạt. Sự bùng nổ của Internet, nhất là mạng xã hội khó kiểm soát.  
(2) Hệ thống các đường lối, chủ trương, chính sách về phát triển thanh niên thực hiện  
chưa hiệu quả; công tác giáo dục - đào tạo có những nội dung chưa phù hợp, chưa có nội  
dung về công tác phòng ngừa tội phạm và tự bảo vệ bản thân khi có tội phạm xảy ra. Kinh  
tế - xã hội của tỉnh còn nhiều khó khăn nên chưa đầu tư tương xứng. Công tác đoàn và phong  
trào thanh niên có mặt chưa thực sự đáp ứng nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội.  
(3) Hệ thống chính sách, pháp luật về PCTP chưa đồng bộ, còn chồng chéo, thường  
xuyên thay đổi; mới thi hành đã gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, nhất là các quy định của  
pháp luật hình sự, tố tụng hình sự, hành chính; các quy phạm về phòng ngừa, điều tra tội  
phạm, VPPL trong thanh, thiếu niên chưa cụ thể, còn có nhiều cách hiểu khác nhau, kiềm  
tỏa lẫn nhau.  
(4) Tình hình tội phạm, VPPL trên địa bàn tỉnh diễn biến phức tạp, đặc biệt đã xuất  
hiện những loại tội phạm phi truyền thống lôi kéo sự tham gia của giới trẻ có trình độ cao  
dễ dàng.  
* Nguyên nhân chủ quan  
(1) Sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, chính quyền các cấp chưa thông suốt từ cấp  
trên xuống cấp dưới, chưa đồng bộ giữa các địa phương; thiếu cơ chế lãnh đạo và chiến lược,  
sách lược trong chỉ đạo, điều hành công tác phòng ngừa thanh, thiếu niên phạm tội. Việc xác  
định vị trí công tác phòng ngừa thanh, thiếu niên phạm tội trong tổng thể chiến lược, chương  
trình PCTP chưa đúng đắn, chưa được xem là trọng tâm, cốt lõi của toàn bộ công tác PCTP.  
(2) Nhận thức của một số ngành, đoàn thể về công tác phòng ngừa thanh, thiếu niên  
phạm tội chưa đúng mức, coi nhẹ công tác quản lý, giáo dục thanh, thiếu niên.  
(3) Quản lý nhà nước về công tác thanh niên còn gặp nhiều thách thức, một số chính  
sách còn thiếu tính cụ thể, chưa sát với nhu cầu chính đáng của thanh, thiếu niên. Nhiều vấn  
đề về thanh niên còn chậm được giải quyết; nhu cầu về đời sống vật chất, văn hóa tinh thần,  
vui chơi giải trí cho thanh niên chưa được đáp ứng đầy đủ.  
(4) Các biện pháp phòng ngừa và các biện pháp đấu tranh chưa có mối quan hệ chặt  
chẽ với nhau, chưa hỗ trợ cho nhau. Chưa có mô hình thực sự hiệu quả, bền vững, có sức  
thuyết phục cao, lan tỏa mãnh mẽ để phòng ngừa thanh, thiếu niên phạm tội, VPPL.  
(5) Lực lượng trực tiếp làm công tác phòng ngừa, điều tra, xử lý thanh, thiếu niên phạm  
tội, VPPL chưa ngang tầm nhiệm vụ.  
3. Dự báo và giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa, ngăn chặn hành vi phạm  
tội, vi phạm pháp luật trong thanh, thiếu niên ở tỉnh Quảng Ngãi  
3.1. Dự báo  
3.1.1. Xu hướng phát sinh, phát triển tội phạm, vi phạm pháp luật trong thanh, thiếu  
niên ở tỉnh Quảng Ngãi  
290  
LĨNH VỰC KHOA HỌC XÃ HỘI - NHÂN VĂN  
KỶ YẾU NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2016 - 2020  
Số vụ xảy ra tăng nhưng ít có khả năng đột biến; hành vi phạm tội, VPPL về hình sự  
tiếp tục chiếm tỷ lệ cao nhưng không vượt quá 80%. Tập trung ở các địa bàn có tốc độ đô thị  
hóa nhanh; dịch chuyển và tăng mạnh ở địa bàn nông thôn đồng bằng, miền núi, hải đảo, ven  
biển, trong đó đáng chú ý địa bàn ven biển sẽ tăng nhiều hơn, xảy ra nhiều vụ việc nghiêm  
trọng hơn. Hành vi phạm tội và VPPL trong các cơ sở giáo dục tiếp tục gia tăng.  
Thanh, thiếu niên sử dụng chất kích thích hoặc lạm dụng chất kích thích để gây án xảy  
ra ngày càng nhiều hơn, có nhiều vụ đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, gây dư luận bất an.  
Hình thành các băng, nhóm tổ chức tội phạm do thanh, thiếu niên cầm đầu. Độ tuổi phạm  
tội chủ yếu từ 18 - 30 tuổi. Trình độ học vấn phổ thông trung học, đại học, cao đẳng trở lên  
và nữ giới sẽ nhiều hơn.  
3.1.2. Loại hành vi phạm tội, vi phạm pháp luật trong thanh, thiếu niên trong thời gian  
tới rất đa dạng, phức tạp  
Hành vi phạm tội và VPPL liên quan đến ANQG tiếp tục xảy ra và chủ yếu do người  
trẻ tuổi thực hiện, tập trung tham gia vào các hội nhóm trái phép, các tổ chức phản động  
nước ngoài, tuyên truyền nhằm chống chính quyền nhân dân. Hành vi phạm tội và VPPL về  
hình sự, ma túy, lợi dụng công nghệ cao, vi phạm quy định về tham gia giao thông đường  
bộ tiếp tục chiếm tỷ lệ cao; các hành vi phạm tội và VPPL về kinh tế, tham nhũng, chức vụ,  
môi trường... xảy chiếm tỷ lệ thấp hơn nhưng có xu hướng tăng. Sự đan xen giữa các hành  
vi phạm tội về hình sự, ma túy, kinh tế, công nghệ cao trong thanh, thiếu niên diễn ra sôi  
động, khó kiểm soát hơn.  
3.1.3. Phương thức, thủ đoạn hoạt động của tội phạm, vi phạm pháp luật trong thanh,  
thiếu niên ngày càng tinh vi, manh động  
Thanh, thiếu niên phạm tội tìm mọi cách để che giấu hành vi, mua chuộc người thi hành  
công vụ, nhờ sự can thiệp của người khác để “chạy án”, bỏ trốn không chỉ trong nước mà cả  
nước ngoài. Sử dụng vũ khí, công cụ, phương tiện gây án có tính nguy hiểm sẽ tăng lên và  
rất đa dạng; mức độ liên kết giữa các đối tượng trong băng, nhóm chặt chẽ, bền vững hơn.  
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa, ngăn chặn hành vi phạm tội, vi phạm  
pháp luật trong thanh, thiếu niên ở tỉnh Quảng Ngãi  
3.2.1. Đảm bảo thực hiện hiệu quả cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, huy động  
sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong phòng ngừa, ngăn chặn  
thanh, thiếu niên phạm tội, vi phạm pháp luật  
Tập trung thể chế và triển khai các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp  
luật của Nhà nước đối với nhiệm vụ phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, VPPL trong thanh,  
thiếu niên phù hợp với địa phương. Ban hành các chủ trương, chính sách, pháp luật, quy  
định để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn hiệu quả hành vi phạm tội, VPPL trong thanh,  
thiếu niên. Thường xuyên tổ chức kiểm tra, giám sát, thanh tra việc triển khai các nhiệm  
vụ phòng ngừa, ngăn chặn thanh, thiếu niên phạm tội, VPPL; điều tra, khảo sát thực trạng  
thanh, thiếu niên, học sinh, sinh viên phạm tội, VPPL. Chính quyền các cấp cụ thể các kế  
hoạch, chương trình để triển khai thực hiện có hiệu quả; tạo cơ chế để lãnh đạo, chỉ đạo các  
ngành, đoàn thể đang chủ trì thực hiện các chương trình, kế hoạch công tác có liên quan đến  
công tác thanh, thiếu niên thực hiện một cách thuận lợi nhất.  
3.2.2. Tăng cường khả năng nhận thức đúng đắn về vai trò, vị trí, ý nghĩa, tầm quan  
trọng của công tác phòng ngừa, ngăn chặn hành vi phạm tội, vi phạm pháp luật trong thanh,  
291  
LĨNH VỰC KHOA HỌC XÃ HỘI - NHÂN VĂN  
KỶ YẾU NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2016 - 2020  
thiếu niên  
Phòng ngừa thanh, thiếu niên phạm tội phải được xem là một bộ phận quan trọng, là  
hạt nhân của toàn bộ công tác phòng ngừa tội phạm. Nếu tập trung vào nhóm đối tượng này  
sẽ phá vỡ cơ cấu thành phần đối tượng phạm tội, không chỉ ngăn chặn được tình trạng phạm  
tội, VPPL hiện tại mà còn ngăn chặn ở tương lai với tính chất, mức độ, quy mô phức tạp,  
tinh vi hơn. Phòng ngừa tội phạm, VPPL trong thanh, thiếu niên cần được xác định là trách  
nhiệm của toàn xã hội và là một nội dung quan trọng, có tính chiến lược trong toàn bộ công  
tác đấu tranh PCTP, giữ gìn trật tự an toàn xã hội. Là nhiệm vụ phải được ưu tiên trong tổng  
thể nhiệm vụ PCTP, giữ gìn ANTT.  
3.2.3. Nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị, lý tưởng, đạo đức lối sống và ý  
thức tuân thủ pháp luật cho thanh, thiếu niên  
Tăng cường giáo dục truyền thống văn hóa, lịch sử của Đảng, dân tộc, hành trình đến  
các “địa chỉ đỏ” để không ngừng bồi dưỡng lý tưởng cao đẹp cho thanh niên. Triển khai thực  
hiện đầy đủ, chất lượng Đề án “Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm  
nâng cao ý thức pháp luật cho thanh, thiếu niên”. Tổ chức đa dạng hóa các mô hình phổ biến,  
giáo dục pháp luật, đạo đức, lối sống, lý tưởng cho thanh, thiếu niên. Hiện đại hóa công tác  
tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua việc ứng dụng công nghệ thông tin, sử  
dụng mạng xã hội.  
3.2.4. Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết việc làm cho thanh, thiếu niên  
Đẩy mạnh tuyên truyền các chủ trương, chế độ, chính sách pháp luật của nhà nước về  
nghề nghiệp và việc làm cho đoàn viên, thanh niên. Tạo điều kiện thuận lợi để thanh, thiếu  
niên, học sinh, sinh viên tiếp cận sớm với nghề nghiệp và việc làm. Tranh thủ cơ hội, tận  
dụng các điều kiện, tiềm năng hiện có của tỉnh để tạo việc làm cho thanh, thiếu niên. Tiếp  
tục đẩy mạnh hợp tác với các địa phương có thế mạnh về khoa học - công nghệ thu hút thanh  
niên tham gia. Phát triển mạnh phong trào thanh niên khởi nghiệp.  
3.2.5. Xây dựng môi trường sống, học tập, sinh hoạt an toàn, lành mạnh, bổ ích cho  
thanh, thiếu niên  
Môi trường sống có thể được ví như “thiên nhiên thứ hai” của thanh, thiếu niên mà từ  
đó tác động tích cực hoặc tiêu cực đến sự hình thành nhân cách của họ. Chính vì thế thực  
hiện giải pháp này là công việc hệ trọng, là một trong những nội dung được ưu tiên trong  
chính sách phát triển thanh niên, trong đó cần tập trung vào 03 loại môi trường sau:  
Thứ nhất, xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, văn minh, hạnh phúc, thực sự là chỗ dựa  
vững chắc để hình thành và giáo dục nhân cách cho thanh, thiếu niên  
Hai là, nhà trường phải vừa là nơi ươm mầm tri thức cho tương lai, cung cấp nguồn  
nhân lực cho xã hội, vừa là nơi hoàn thiện, củng cố nhân cách của thanh, thiếu niên  
Ba là, xây dựng xã hội phồn vinh, hạnh phúc, con người sống có trách nhiệm, tình  
thương và nêu gương sáng cho thế hệ trẻ  
3.2.6. Xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, chủ động phòng ngừa,  
ngăn chặn hành vi phạm tội, VPPL trong thanh, thiếu niên  
Tập trung tham mưu, đề xuất cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm  
quyền chủ trương, quy định, kế hoạch huy động và sử dụng sức mạnh của cơ quan, tổ chức,  
cá nhân trong công tác phòng ngừa tội phạm, VPPL trong thanh, thiếu niên. Chú trọng các  
292  
LĨNH VỰC KHOA HỌC XÃ HỘI - NHÂN VĂN  
KỶ YẾU NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2016 - 2020  
biện pháp nghiệp vụ của ngành Công an để phát hiện, ngăn chặn, xử lý các hành vi phạm tội,  
VPPL trong thanh, thiếu niên. Nâng cao chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ  
án, vụ việc đối với thanh, thiếu niên theo đúng tinh thần cải cách tư pháp  
3.2.7. Tham mưu bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện chính sách, pháp luật về phòng ngừa  
thanh, thiếu niên phạm tội, vi phạm pháp luật  
Tổ chức tuyên truyền để nâng cao nhận thức về vai trò, ý nghĩa của pháp luật về PCTP  
nói chung, trong thanh, thiếu niên nói riêng. Tiếp tục tham mưu, kiến nghị để thể chế hóa  
chủ trương “Hoàn thiện pháp luật về đấu tranh PCTP theo hướng xây dựng các cơ quan bảo  
vệ pháp luật là nòng cốt, phát huy sức mạnh của toàn xã hội trong việc phát hiện, phòng  
ngừa, ngăn chặn tội phạm” theo Nghị quyết số 48 của Bộ Chính trị. Rà soát, tập hợp, hệ  
thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản điều hành chính sách về PCTP, VPPL  
có liên quan đến thanh, thiếu niên từ trước đến nay; thống kê những văn bản cần sửa đổi, bổ  
sung, thay thế hoặc bãi bỏ để kiến nghị. Tiếp tục tổ chức tập huấn, bồi dưỡng chuyên sâu  
các văn bản quy phạm pháp luật về PCTP. Khảo sát, đánh giá tình hình thi hành, tổ chức và  
theo dõi thi hành pháp luật về PCTP ở các cấp, các ngành.  
3.2.8. Xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm yêu cầu, nhiệm vụ phòng ngừa, ngăn chặn  
thanh, thiếu niên phạm tội, vi phạm pháp luật  
Các ngành, các cấp cần tập trung xây dựng, củng cố đội ngũ cán bộ làm công tác tham  
mưu, hoạch định, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc, kiểm tra, giám sát, phản biện việc triển  
khai thực hiện các chính sách, pháp luật về công tác thanh, thiếu niên và PCTP, VPPL trong  
thanh, thiếu niên; xây dựng đội ngũ cán bộ tuyên truyền viên, báo cáo viên có kiến thức,  
kỹ năng. Xây dựng đội ngũ cán bộ đoàn, hội phụ nữ có chất lượng, tâm huyết với công tác  
thanh niên, phụ nữ, bồi dưỡng lý tưởng, lối sống cho thế hệ trẻ. Tiếp tục xây dựng lực lượng  
Công an, nhất là lực lượng điều tra viên, trinh sát viên, cảnh sát viên “cách mạng, chính quy,  
tinh nhuệ, từng bước hiện đại”. Các cơ quan tòa án, kiểm sát, thi hành án tổ chức xây dựng  
đội ngũ cán bộ kiểm sát viên, thẩm phán, chấp hành án viên có đủ năng lực, trách nhiệm và  
kiến thức tâm lý – xã hội để phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý thanh, thiếu niên phạm tội, VPPL;  
kiểm sát chặt chẽ các cơ quan, đơn vị tuân theo pháp luật.  
IV. KẾT LUẬN  
Nội dung đề tài tổng hợp một cách khoa học, logíc, phản ánh đầy đủ kết quả nghiên  
cứu, góp phần hoàn thiện về mặt lý luận về phòng ngừa thanh, thiếu niên phạm tội, làm  
phong phú thêm hệ thống tri thức khoa học tội phạm; sẽ đóng góp thiết thực phục vụ cho  
việc hoạch định các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phòng  
ngừa tội phạm nói chung; phòng ngừa tội phạm, VPPL trong thanh, thiếu niên nói riêng;  
đồng thời, là cơ sở cho những cán bộ làm công tác nghiên cứu hoàn thiện về khoa học tội  
phạm  
293  
LĨNH VỰC KHOA HỌC XÃ HỘI - NHÂN VĂN  
pdf 11 trang Thùy Anh 13420 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu hành vi phạm tội và vi phạm pháp luật trong thanh, thiếu niên ở tỉnh Quảng Ngãi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_hanh_vi_pham_toi_va_vi_pham_phap_luat_trong_thanh.pdf